Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Chùa Thầy – Chốn thiền môn thanh tịnh cuốn hút du khách

Nằm gọn dưới chân một dải núi đá vôi hình vòng cung nổi lên giữa vùng đồng bằng xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội, chùa Thầy từ lâu đã nổi tiếng không chỉ ở những truyền thuyết kỳ ảo, linh thiêng xung quanh cuộc đời thiền sư Từ Đạo Hạnh, mà còn bởi vẻ đẹp của kiến trúc, non nước hữu tình, cảnh trí như chốn bồng lai.

Tương truyền, chùa Thầy được xây dựng từ thời Lý (TK XI), trên thế đất hình con rồng. Phía trước chùa, bên trái là ngọn Long Đẩu, lưng chùa và bên phải dựa vào núi Sài Sơn. Chùa quay mặt về hướng Nam. Trước chùa, nằm giữa Sài Sơn và Long Đẩu là một hồ rộng mang tên Long Chiểu hay Long Trì. Phía trước hồ có một doi đất lớn chạy từ khoảng giữa của dải núi nhô ra như một con rồng đang trườn mình uống nước hồ.

 

 

Kiến trúc chùa Thầy là sự hội nhập giữa tín ngưỡng bản địa với Phật giáo, giữa tính chất từ bi của Phật với sự linh thiêng của Thánh. Chùa Thầy được biểu hiện bằng một cấu trúc hoàn chỉnh gắn kết giữa kiến trúc chùa với một cung Thánh nối vào phía sau tòa nhà Tam Bảo trên cùng một trục. Phần chính của chùa Thầy gồm ba tòa song song với nhau gọi là chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng. Chùa Hạ là nhà tiền tế, bày các tượng Đức Ông, Thánh hiền, Bát bộ Kim Cương. Chùa Trung bày bàn thờ Phật, hai bên có hai tượng Hộ pháp, tượng Thiên vương. Chùa Thượng nằm tách biệt hẳn, ở vị trí cao nhất, có biển đề Đại hùng Bảo điện, có tượng Di Đà tam tôn.

Chùa Thầy có tới ba pho tượng Từ Đạo Hạnh. Một được đặt tại nhà Tổ, một ở ban thờ chính và một đặt trong khám Từ Đạo Hạnh tại điện Thánh. Trong đó, pho tượng Từ Đạo Hạnh ở kiếp tu tiên được làm theo hình thức tượng rối đặt trong khám thờ tại điện Thánh là đáng chú ý hơn cả. Pho tượng này được tạo tác một cách đặc biệt nhằm đề cao vai trò của đức thánh Từ – vị thánh được nhân dân trong vùng tôn xưng như ông tổ của nghề múa rối nước.

 

Hội chùa Thầy diễn ra từ ngày mùng năm đến ngày mùng bảy tháng ba Âm lịch hàng năm. Trong ngày hội, nhiều tăng ni, Phật tử và du khách từ các nơi khác về dự rất đông.

Không chỉ có những nghi thức tôn giáo, hội chùa Thầy còn có trò múa rối nước mang đậm sắc thái dân gian. Du khách đi hội chùa Thầy, ngoài thú vui vãn cảnh chùa, còn có thêm thú vui mạo hiểm leo núi, khám phá thiên nhiên thơ mộng và hùng vĩ ở nơi đây.

Cảnh quan non nước hữu tình và những truyền thuyết sống động về đức Thánh Từ Đạo Hạnh đã làm cho vùng đất Sài Sơn trở nên linh thiêng.

Và ở đó, chùa Thầy trở thành một chốn thiền môn thanh tịnh cuốn hút du khách gần xa tìm về vãn cảnh, lễ Phật./.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Chùa Linh Sơn giữa bạt ngàn núi rừng Lâm Đồng

Chùa Linh Sơn là một trong những ngôi chùa đẹp và cổ kính của Đà Lạt. Chùa được xây dựng từ năm 1936 đến năm 1940 thì hoàn thành.

Chùa Linh Sơn là một trong những ngôi chùa đẹp và cổ kính của Đà Lạt. Chùa được xây dựng từ năm 1936 đến năm 1940 thì hoàn thành. Mang tên một quả núi ở Ấn Độ – núi Linh Thửu – tương truyền là nơi Phật tổ truyền pháp bộ kinh Diệu pháp liên hoa và khai sơn thiền tông, chùa Linh Sơn là một quần thể kiến trúc bao gồm nhiều công trình lớn nhỏ tọa lạc trên một quả đồi rộng chừng 4 ha. Tòa chính điện gồm hai ngôi nhà nối liền nhau.

 

 

Chùa được xây dựng theo phong cách kiến trúc Á Đông, hai mái xuôi hơi cong ở phía cuối trên có hai con rồng uốn khúc đối xứng vươn lên giữa trời cao. Phía trước có 4 trụ lớn và phía dưới diềm mái là màng trang trí hoa văn hình chữ vạn cách điệu. Trên cột trong chính điện và trước tiền đường có treo nhiều câu đối, đặc biệt câu đối khảm xà cừ đượm ngát hương thiền:

 

Sơn sắc đạm tùy nhân nhập viện,

Tùy thanh tĩnh thính khách đàm thiền.

(Màu núi nhạt theo đường vào viện,

Tiếng trung im nghe khách đàm thiền).

 

Gian bên dưới có tượng hộ pháp di đà, gian bên phải là tượng ông thiện, ông ác. Ở phần chính điện có tượng Phật Thích Ca ngồi trên hoa sen được đúc bằng đồng từ năm 1952 cao 1,70m, nặng 1.205kg. Bên phải nội điện có Đại Hồng Chung nặng 450kg treo trên giá được làm bằng gỗ quý. Bên trái nội điện là giá trống có chiều dài 1m và đường kính rộng 0,75m. Cách không xa chính điện về phía bên phải là một bảo tháp hình bát giác cao 3 tầng. Bên trái chính điện là Tổ đường, là nơi thờ Đạt Ma sư tổ và hai bên là bàn thờ các vị tăng sĩ viên tịch cũng như những người dân thường mà thân nhân họ muốn được thờ phụng tại chùa. Trong chùa Linh Sơn còn có phòng phát hành kinh bổn và nhà vãng sinh, là nơi quản thi hài Phật tử mà gia quyến họ muốn cử hành tang lễ tại chùa. Ngoài ra, chùa Linh Sơn còn có một giảng đường khá lớn được xây dựng năm 1972 và hiện tại là trường cơ bản Phật học của tỉnh Lâm Đồng.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Động Xá Nhè hoang sơ, kỳ bí

Động Xá Nhè nằm trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ của vùng rừng núi Tủa Chùa (Điện Biên). Hệ thống thạch nhũ trong hang đẹp lộng lẫy, nhưng cho tới nay vẫn chưa nhiều người khám phá được đến tận cùng của hang động dài 700m này.

 

Độc đáo nhũ đá

 

Theo các bậc cao niên trong bản Pàng Dề B, xã Xá Nhè (Tủa Chùa, Điện Biên), hang động Xá Nhè được người dân ở đây tìm ra từ lâu lắm rồi. Động Xá Nhè nằm dưới chân một vách núi cao dựng đứng, cách trung tâm xã Sáng Nhè khoảng 1km. Hang nằm ở độ cao trên 1.500m so với mực nước biển, cửa hang rộng 5m, cao khoảng 18m.

 

 

Với 5 khoang lớn nhỏ kéo dài khoảng 700m, hang Xá Nhè sở hữu nhiều nét đẹp kỳ thú, độc đáo ở hệ thống nhũ đá bên trên và rừng măng đá, nhũ đá phía dưới. Tháng 3.2014, hang động Xá Nhè đã được Bộ VHTTDL xếp hạng là danh lam thắng cảnh cấp quốc gia.

 

Ông Sùng A Hồng, cán bộ văn hóa xã Xá Nhè cho biết: “Trước đây khách tới thăm động chưa đông, từ khi được xếp hạng là danh lam thắng cảnh cấp quốc gia, khách từ các tỉnh ngoài, thậm chí là cả khách quốc tế mỗi khi tới Điện Biên đều tìm đường lên thăm động”.

 

Toàn động Xá Nhè được chia làm 5 khoang, mỗi khoang đều có một vẻ đẹp kỳ bí riêng. Trần khoang có hình vòm cung, trên trần động là những khối nhũ đá rủ xuống lấp lánh với đường nét khi thì mềm mại, uyển chuyển như thác nước, lúc mang dáng vẻ sắc nhọn như san hô biển. Từng khối thạch nhũ như những dòng thác đang tuôn chảy với vô số hạt kết tinh sáng lấp lánh. Dưới nền động là những rừng măng đá, nhũ đá muôn hình muôn vẻ với nhiều hình thù kỳ lạ.

 

Càng vào sâu, động càng lộng lẫy bởi hằng hà sa số những đường nét, hình dáng do thạch nhũ, măng đá tạo nên. Tuy đều là những tác phẩm điêu khắc tự nhiên làm từ đá nhưng vẻ đẹp của mỗi khoang động không hề giống nhau, tạo cho người xem sự thú vị và kích thích trí tò mò, đam mê khám phá.

 

Tạo thêm nhiều sức hút

 

Mặc dù động Xá Nhè có những thế mạnh thu hút du khách đã thấy rõ, nhưng có một thực tế là các sản phẩm khác cũng như việc kết hợp với các thắng cảnh khác trong khu vực để phát huy thế mạnh du lịch vùng còn chưa thực sự phong phú.

 

Ông Nguyễn Viết Điển- Trưởng phòng Văn hóa – Thông tin huyện Tủa Chùa cho biết: Sau khi được xếp hạng di tích quốc gia danh lam thắng cảnh, trách nhiệm quản lý nhà nước hang động Xá Nhè được giao cho UBND xã. Tuy nhiên để phát huy được hết thế mạnh của động, địa phương cần sớm đầu tư xây dựng hệ thống đường giao thông vào cửa hang, đường đi, cầu trong hang cũng như các công trình phụ trợ để phục vụ du khách. Ngoài ra chúng tôi sẽ phải nghiên cứu kết hợp với các sản phẩm du lịch khác như chợ phiên Xá Nhè, trình diễn khèn Mông, giới thiệu ẩm thực độc đáo của người Mông để níu giữ du khách ở lại với Tủa Chùa”.

 

Chợ phiên xã Xá Nhè họp ở trung tâm xã Xá Nhè được hình thành từ vài năm nay, cứ 6 ngày lại có một phiên chợ. Cứ đến phiên chợ, đồng bào các dân tộc: Mông, Thái, Dao, Phù Lá… từ các thôn, bản tấp nập đổ về chợ. Chợ họp từ sáng sớm đến xế chiều, hàng mang xuống chợ chủ yếu là nông sản thực phẩm, dụng cụ lao động sản xuất, trang phục các dân tộc. Nếu các tour du lịch đến thăm hang động Xá Nhè kết hợp thêm được với chợ phiên Xá Nhè, chắc chắn trong tương lai, Xá Nhè sẽ thu hút khách nhiều hơn.

 

Đến với huyện vùng cao Tủa Chùa, bên cạnh thắng cảnh động Xá Nhè, du khách còn có thể thưởng ngoạn cảnh thiên nhiên hoang sơ của cao nguyên núi đá Tủa Chùa.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Thăm quan ngôi chùa lưu giữ Bảo vật Quốc gia tại vùng Kinh Bắc

Chùa Bút Tháp – một ngôi chùa cổ nổi tiếng vùng Kinh Bắc với vẻ đẹp cổ kính, hài hòa và pho tượng Quan Âm nghìn tay, nghìn mắt đã được công nhận là Bảo vật Quốc gia.

 

Chùa Bút Tháp nằm ven dòng sông Đuống, thuộc địa phận xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Chùa có tên chữ là Ninh Phúc tự được xây dựng vào thế kỷ thứ 17 thời Hậu Lê. Chùa Bút Tháp là một trong số ít những ngôi chùa ở Việt Nam còn giữ được khá nguyên vẹn lối kiến trúc sơ khai, đây cũng là địa chỉ hành hương mà các Phật tử từ khắp các tỉnh/thành trên cả nước tìm về mỗi dịp lễ hội đầu năm.


Từ trung tâm Hà Nội đến chùa Bút Tháp khoảng 40 km, đường đi rất đẹp vì thuận lợi. Có lẽ cũng bởi yếu tố thuận lợi đó mà ngày càng có nhiều khách thăm quan tìm về vãn cảnh chùa, đặc biệt là khách du lịch quốc tế. Hiện nay, tại chùa đang lưu giữa một pho tượng được coi là Bảo vật quốc gia – pho tượng Quan âm Nghìn mắt, nghìn tay ( Thiên thủ, thiên nhãn). Bảo vật quốc gia có chiều cao 3,7m, ngang 2,1m, có 11 đầu, 46 tay lớn và 954 tay nhỏ, dài ngắn khác nhau. Tượng được đặt trên tòa sen rồng đội, với dáng hành đạo, thư thái, pho tượng này cũng được coi là kiệt tác của điêu khắc Phật giáo  Việt Nam.


Mặc dù đang là nơi lưu giữ một báu vật vô giá, có một không hai nhưng không phải đến khi bức tượng này được công nhận là Bảo vật Quốc gia năm 2012, chùa Bút Tháp mới nổi tiếng và trở thành điểm thăm quan tâm linh hấp dẫn. Ngôi chùa cổ vùng Kinh Bắc này đã được biết đến từ rất lâu bởi vẻ đẹp cổ kính, và kiến trúc chuẩn mực cùng với vô số tác phẩm nghệ thuật mà chùa đang lưu giữ.

Sẽ không quá chút nào khi nói rằng, chùa Bút Tháp có kiến trúc chẩn mực theo kiểu “Nội công ngoại quốc”, có nghĩa là có hai hành lang dài nối liền nhà tiền đường ở phía trước với nhà hậu đường ở phía sau làm thành một khung hình chữ nhật bao quanh lấy nhà thiêu hương, nhà thượng điện hay các công trình kiến trúc khác ở giữa. Toàn bộ kiến trúc chính của chùa Bút Tháp quay theo hướng Nam mà theo đạo Phật đây là hướng của trí tuệ.


Các công trình kiến trúc của chùa được thiết kế bố trí rất cân xứng, chặt chẽ ở khu vực trung tâm nhưng lại vô cùng tự nhiên ở xung quanh. Khu trung tâm bao gồm 8 nếp nhà đều nằm ngang, chạy song hành được bố trí trên một trục dọc kiểu mô hình đường thần đạo. Ngoài cùng là Tam Quan, tiếp đó là gác chuông hai tầng tám mái, kế đó là tòa Tiền Đường, Thiêu Hương, nhà Thượng Điện, Cầu Đá, toà Tích Thiện Am, Trung Đường, Phủ Thờ, nhà Hậu Đường và kết thúc là hàng tháp đá sau nhà Hậu Đường, trong đó có tháp đá Tôn Đức 5 tầng, cao 11m là nơi đặt xá lị thiền sư Minh Hạnh, vị tổ thứ hai của chùa. Bên trái chùa có nhà thờ tổ Chiết Tuyết và ngôi tháp đá Báo Nghiêm tám mặt, 5 tầng cao 13m là nơi táng xá lị của thiền sư Chiết Tuyết. Hai bên dọc theo toà Tiền đường là hai nhà bia và hai dãy hành lang chạy suốt chiều dài của chùa. Nối giữa Thượng Điện và Tích Thiện Am là chiếc cầu đá cong bắc ngang hồ sen. Cầu dài 4m gồm 3 nhịp uốn cong vồng. Mặt cầu lát đá xanh, hai bên cầu có 12 bức phù điêu đá chạm chim muông, hoa lá công phu, tinh xảo.

 

Qua chiếc cầu đá nhỏ xinh với kiến trúc độc đáo là Tích Thiện Am. Tên gọi Tích Thiện Am có hàm ý là nơi chứa điều tốt lành. Tích Thiện Am được xây dựng năm Tân Dậu (1681) đến năm Tân Mùi (1691). Trong Tích Thiện Am, có tòa cửu phẩm liên hoa – tháp bằng gỗ, 9 tầng, 8 mặt, 9 đài sen tượng trưng cho 9 cấp tu hành chính quả của Phật giáo. Không chỉ có vậy Tích Thiện Am còn có 26 bức tranh được chạm khắc đá xanh bạc theo nhiều chủ đề khác nhau từ trời mây, hoa lá đến chim muông, muôn thú. Đây được xem như là biểu tượng của Tứ linh, Tứ quý, đồng thời hàm chứa ý nghĩa Phật đạo sâu sắc.


Nói đến kiến trúc độc đáo của chùa mà không nhắc đến tháp Báo Nghiêm sẽ là thiếu xót. Tháp Báo Nghiêm giống như cây bút khổng lồ, vươn thẳng tới trời cao thanh vắng. Tháp cao 13,05m, 5 tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh, 5 góc của 5 tầng có 5 quả chuông nhỏ, xung quanh tháp được trang trí hoa văn sinh động. Lòng tháp có một khoang tròn đường kính 2,29m. Tầng dưới cùng của tháp này có 13 bức chạm đá, chủ yếu là hình các con thú được chạm khắc rất tinh xảo.


Không chỉ các công trình kiến trúc mà cảnh quan sân vườn của chùa cũng được thiết kế rất hài hòa tạo nên một quần thể kiến trúc đẹp, ấn tượng. Chùa có nhiều cây cổ thụ với tán lá rộng, dày tỏa bóng mát khắp sân chùa mang lại không khí vô cùng dễ chịu kể cả giữa lúc trời đang nắng gắt.


Đã hàng trăm năm trôi qua, dù một số công trình đã xuống cấp và phải tu bổ song chùa Bút Tháp ngày nay vẫn giữ được dáng vẻ cổ kính, thanh tịnh như thửa mới được xây dựng. Đến thăm quan, vãn cảnh chùa Bút Tháp, du khách sẽ cảm thấy tâm hồn tĩnh lại, cảm thấy sự bình yên thanh thản, thêm vào đó sẽ được tận mắt chiêm ngưỡng Bảo vật Quốc gia của Việt Nam.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đền thờ Mẫu Âu Cơ – tinh hoa đất Tổ

Từ xa xưa, thờ Mẫu đã trở thành nét đẹp tiêu biểu trong văn hóa của người Việt. Nhiều nhà sử học cho rằng, mỹ tục này xuất phát từ mảnh đất Hiền Lương (huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ), nơi có đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ.

 

 

Lịch sử của ngôi đền huyền thoại

 

Dưới tán lá sum suê của cây đa cổ thụ, không biết bao nhiêu thế hệ con cháu Lạc Hồng đã từng dâng hương tỏ lòng thành kính với mẹ Âu Cơ và kể cho nhau nghe truyền thuyết về người mẹ vĩ đại của dân tộc.

 

 

Tục truyền rằng, ngày nàng Âu Cơ chào đời ở động Lăng Xương (nay thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ) có mây lành che chở, hương thơm tỏa ngát khắp không gian. Lớn lên, nàng xinh đẹp, thông minh hơn người, chăm đọc chữ, giỏi đàn sáo, lại tinh thông âm luật. Sau khi kết duyên với Lạc Long Quân – con trai của Kinh Dương Vương, nàng Âu Cơ sinh hạ một bọc trứng, nở thành một trăm người con. Một ngày, thấy các con đã lớn khôn, Lạc Long Quân nói với mẹ Âu Cơ: “Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, tuy khí âm dương hợp lại mà thành trăm con, nhưng chung hợp thật khó vì dòng giống bất đồng”. Nói xong, Lạc Long Quân dẫn 50 con xuống biển.

 

Mẹ Âu Cơ đưa 50 con lên non, đi đến đâu cũng thu phục nhân tâm, khai phá rừng hoang. Một ngày, đi qua Hiền Lương, nơi có núi cao, đồng rộng, sông dài, Mẹ liền cho khai hoang, dạy dân cấy lúa, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải. Khi trang ấp đã tươi đẹp, Mẹ vội vã đi đến vùng đất mới. Sau này, mẹ Âu Cơ trở về Hiền Lương, gắn bó suốt phần đời còn lại với nơi này. Ngày 25 tháng chạp năm Nhâm Thân, mẹ Âu Cơ bay về trời, để lại dưới gốc đa dải yếm lụa. Ở đó, nhân dân đã dựng lên ngôi miếu thờ phụng, đời đời tưởng nhớ Quốc Mẫu.

 

Đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ chính thức được xây dựng dưới triều vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497). Thần tích của đền ghi lại rằng, ngôi đền nằm ẩn dưới gốc đa cổ thụ, mặt quay về hướng chính nam, bên tả có giếng Loan, bên hữu có giếng Phượng, phía trước có núi Giác đẹp như một án thư, sau lưng sông Hồng uốn khúc như rồng thiêng bao bọc. Trải qua hơn năm thế kỷ, đền Mẫu xuống cấp nghiêm trọng. Năm 1998, Đảng bộ và nhân dân Hiền Lương tiến hành trùng tu ngôi đền.

 

Ngôi đền không rộng lớn, đồ sộ nhưng lại được đánh giá cao về mặt nghệ thuật. Khách tham quan có thể tìm thấy ở đây nhiều di vật như tượng Tổ Mẫu Âu Cơ, tượng Đức Ông Đột Ngột Cao Sơn hay các bức chạm tinh tế trên cửa võng, xà ngang, diềm chung quanh cửa thượng cung. Hiện nay, đền chính có bố cục theo kiểu chữ Đinh với ba gian hậu cung và năm gian đại bái.

 

Đền thờ Mẫu Âu Cơ kết hợp với chùa Linh Phúc tạo thành một quần thể di tích có sức hút đặc biệt với du khách thập phương. Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trưởng Ban Quản lý Khu di tích Đền Mẫu Âu Cơ cho biết: “Được sự đồng ý của chính quyền, chúng tôi đang nhanh chóng khôi phục đình thờ Đức Ông Đột Ngột Cao Sơn (người con thứ hai của Mẫu) nằm cách đền Mẫu 500m về phía đông để đáp ứng nhu cầu tham quan, tín ngưỡng của nhân dân”.

 

Con cháu Lạc Hồng hướng về cội nguồn

 

“Mồng bảy trong tiết tháng giêng

Dân Hiền tế lễ trống chiêng vang trời…”

 

Như một thói quen đã ngấm vào máu thịt, mùa xuân đến cũng là lúc nhân dân Hiền Lương rục rịch tập tế nam, tế nữ, rước kiệu, chuẩn bị lễ vật,… cho ngày “Tiên giáng”. Còn hàng triệu đồng bào ta ở mọi miền đất nước ùn ùn hành hương về đất Tổ, cúi lạy anh linh mẹ Âu Cơ và hòa mình vào không khí nhộn nhịp của mùa lễ hội.

 

Sáng sớm mùng bảy tháng giêng, lễ hội đền Mẫu được mở đầu bằng lễ tế Thành Hoàng ở đình, đội tế toàn nam giới. Sau đó, tám cô gái mặc đồng phục sẽ uyển chuyển rước một cỗ kiệu bát cống sơn son thiếp vàng theo nhịp trống từ đình vào đền. Đi đầu đám rước là những lá cờ thần, sau kiệu là những vị chức sắc mặc áo dài khăn xếp, rồi đến người đi trảy hội.

 

Có nhiều ý kiến cho rằng, điểm thu hút nhất của lễ hội nằm ở lễ tế nữ do 12 cô gái thanh tân, có nhan sắc và học vấn thực hiện. Các thiếu nữ đều mặc áo dài, đầu đội khăn kim tuyến, chân đi hài thêu, thắt lưng lụa, riêng chủ tế mặc trang phục hoàn toàn mầu đỏ. Sau khi lễ tế nữ kết thúc, các trò chơi dân tộc như đu tiên, cờ người, chọi gà, tổ tôm điếm có thưởng sẽ được tổ chức ở ngoài sân đền.

 

Lễ vật dâng lên Mẫu không quá cầu kỳ, đều là cỗ chay, ngũ quả, tiền giấy,… Trong đó có một thứ bánh truyền thống của người Hiền Lương, làm từ bột nếp hảo hạng và mật ong, được nhào kỹ thành hình trụ tròn, rồi cắt thành từng đoạn như đốt tre hấp chín. 100 cầu bánh ngọt tượng trưng cho lễ vật của 100 người con dâng lên mẹ.

 

Bên cạnh ngày lễ chính “Tiên giáng” mùng bảy tháng giêng, trong năm còn có ngày “Tiên thăng” 25 tháng chạp, ngày 10 – 11 tháng hai, ngày 12 tháng ba, ngày 13 tháng tám âm lịch.

 

Khách thập phương đến tận hưởng mùa lễ hội rộn rã trên đất thiêng, có người dù chưa từng gặp mặt, biết tên, nhưng vẫn trao nhau nụ cười thân thiện, ánh mắt trìu mến. Có lẽ, ngôi đền cổ kính nằm khiêm nhường bên gốc đa mấy trăm năm tuổi đã làm sống dậy trong trái tim họ niềm tự hào về nòi giống Tiên Rồng và bọc trăm trứng huyền thoại, khiến người với người gần gũi nhau hơn.

 

Vào tháng giêng, tháng hai, khu di tích đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ có nhiều nét đẹp làm say lòng người. Còn vào những ngày chớm đông như bây giờ, đến thăm đền lại đem đến một cảm giác bình yên lạ thường! Không cờ hoa rực rỡ, không trống kèn vang trời, không tấp nập người qua lại, chỉ còn mùi hương trầm quyện với hương ngọc lan phả vào tiết trời se se lạnh của miền bắc. Dưới mái đền rêu phong, đưa tầm mắt ra xa, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những ruộng ngô xanh non, núi Giác nằm uy nghiêm trong làn sương mờ ảo.

 

Trong khoảnh khắc thiêng liêng ấy, hồn người trở về với sự thư thái, tĩnh lặng vốn có để lắng nghe lời thì thầm của sông núi. Rằng áo cơm, đất đai, biên cương ta có hôm nay đều do mẹ Âu Cơ cùng các con vun trồng, khai khẩn, giữ gìn. Khi thiên tai ập đến hay chiến tranh gian khổ, Mẹ vẫn luôn dang tay che chở, dẫn lối cho con cháu vượt qua sóng gió.

 

Ngày nay, đồng bào ta dù đi xa tới đâu, dù đang hạnh phúc hay hoạn nạn, vẫn có một nơi để trở về. Đó là nơi mẹ Âu Cơ đã để lại dải lụa đào rồi bay về trời. Hình ảnh người mẹ nhân từ của dân tộc vừa nhắc nhở mỗi chúng ta luôn khắc ghi đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, vừa tiếp thêm sức mạnh cho dòng giống Tiên Rồng giữ vững tinh thần đoàn kết, tự lực tự cường để xây dựng và bảo vệ từng tấc đất tổ tiên truyền lại.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Mộc Châu mùa hoa khoe sắc

Cao nguyên Mộc Châu (Sơn La) là nơi vốn được thiên nhiên ưu đãi với khí hậu ôn hòa, hoa trái quanh năm. Đặc biệt vào khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 3 là mùa của nhiều loài hoa khoe sắc như hoa cải, hoa trạng nguyên, hoa mận, hoa dã quỳ, hoa xuyến chi…

Cũng thời gian này, cao nguyên Mộc Châu trở thành điểm du lịch hấp dẫn dành cho những người yêu thiên nhiên.

 

 

Thông thường, ở Mộc Châu mùa Đông nắng sẽ lên muộn hơn so với các mùa khác. Khoảng 9-10 giờ là du khách có thể bắt gặp những cánh đồng hoa, những thung lũng bạt ngàn sắc hoa tinh khôi trong nắm sớm.

 

Màu vàng hoa dã quỳ, màu đỏ thắm trạng nguyên, màu trắng của hoa mận đầu mùa kết hợp với khung cảnh núi rừng thơ mộng ngút ngàn sẽ khiến cho du khách cảm thấy như lạc vào xứ sở thần tiên.

 

Tận dụng đất dưới những vườn hoa mận, bà con người dân tộc Mông bản Pa Khen, thị trấn Nông trường Mộc Châu trồng hoa cải tạo nên một thảm hoa trắng muốt, lung linh.

 

Giờ đây, không cần phải tìm đến tận Đà Lạt mộng mơ bạn mới có thể chiêm ngưỡng những bông hoa nắng, mà đến cao nguyên Mộc Châu bạn cũng sẽ tìm thấy những bông dã quỳ nở vàng trên khắp những con đường ngược xuôi, những bản làng nằm gói mình trong thung lũng.

 

Con đường đến đồi chè Tân Lập, Ba Phách hay dọc theo các xã Vân Hồ, Loóng Luông và những con đường đất ở quanh thị trấn Mộc Châu là địa điểm lý tưởng để bắt gặp những vạt hoa dã quỳ.

 

Hoa dã quỳ, loài hoa được coi như dấu hiệu báo mùa Đông đã về trên thảo nguyên.

 

Thời điểm ngắm và chụp ảnh hoa đẹp nhất là buổi sáng, khi ánh nắng bắt đầu làm tan lớp sương mù và hoa còn ướt sương.

 

Nếu đi dọc tuyến Quốc lộ 6 đoạn từ xã Loóng Luông của huyện Vân Hồ đến thị trấn Nông trường của huyện Mộc Châu, du khách bắt gặp hai bên đường những thảm hoa xuyến chi, hoa cải trắng muốt thấp thoáng phía xa.

 

Thong thả dạo bước trong theo những lối mòn đường đất, bạn sẽ thấy trước mặt là những luống cải chạy hút tầm mắt. Màu trắng của hoa cải tượng trưng cho vẻ đẹp trong trẻo của đất trời Tây Bắc.

 

Nếu những luống cải là do những người dân bàn địa nơi đây trồng từ tháng 10-12 để làm thực phẩm phục vụ cuộc sống thì những loài hoa như xuyến chi, trạng nguyên, dã quỳ là những loài hoa hoang dã mọc tự nhiên vào thời điểm cuối năm.

 

Điểm xuyết cho vẻ đẹp của cao nguyên những ngày này là hoa trạng nguyên đua nhau khoe sắc đỏ. Sắc đỏ chạy dài theo các sườn đồi, từ nương chè xanh mướt vào tận từng ngõ xóm tạo thành những bức tường hoa thơ mộng.


Hoa trạng nguyên mọc tràn đồi núi, bản làng. Cây mọc đến đâu, người dân Mộc Châu chỉ cần tỉa cành, phát lối là đã thành một con đường hoa đỏ rực đẹp đến mê hồn.

 

Hoa như níu chân người lữ khách, hoa là điểm nhấn cho sắc màu trên cao nguyên xanh. Những đóa hoa trạng nguyên đẹp mộc mạc mà bí ẩn như tâm hồn những cô gái Mông, Dao, Thái trên cao nguyên bao la.

 

Suốt dọc tuyến Quốc lộ 6 đoạn bắt đầu đến Cao nguyên Mộc Châu, hoa mận nở trẳng bản Chiềng Ly xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ.

Rừng hoa mận trắng muốt chạy dài theo thung lũng trên đường vào Ngũ Động Bản Ôn, thị trấn Nông trường.

 

Mùa hoa ở Mộc Châu cũng là mùa của những đàn ong di cư đến tìm phấn, hút mật.

 

Mùa hoa mận bắt đầu nở từ đầu tháng 12 đến tháng 2 hằng năm. Cũng vào thời điểm này, cao nguyên Mộc Châu là địa điểm lý thú để những người nuôi ong ở Tây Nguyên đưa đàn ong ra phương Bắc hút mật.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Lễ hội Tăm Khảu Mảu dân tộc Thái Yên Bái

Lễ hội Tăm Khảu Mảu (Lễ hội giã cốm) là phong tục tập quán, nét đẹp văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Tày, Thái, Mường… tỉnh Yên Bái nói chung và người Thái ở Nghĩa Lộ nói riêng, được tổ chức vào khoảng tháng 9, tháng 10 âm lịch. Đó là lúc lúa nếp vừa chớm vào trắc, hạt lúa ngả màu vàng nhạt là thời điểm người dân tập trung làm cốm.

Lễ hội giã cốm là ngày hội của mọi lứa tuổi. Người già thì vui mừng phấn khởi thưởng thức hương cốm và chuẩn bị bước vào vụ mùa bội thu, trẻ thơ thì được nhảy múa, nô đùa dưới trăng thanh. Còn với nam nữ thanh niên, ngoài việc đua tài, khoe sắc thì đây cũng là dịp tạo điều kiện cho nhiều đôi bạn trẻ tâm sự hẹn hò, có những đôi sau mùa cốm đã nên vợ nên chồng.

 

 

Trong lễ hội giã cốm, tiếng chày, tiếng đuống chính là công cụ tạo ra nét độc đáo, hấp dẫn bởi những âm thanh phát ra từ những công cụ này được dân bản ví như những giai điệu âm nhạc mà không phải ở nơi nào cũng có được. Lễ hội giã cốm gồm 5 giai điệu gõ đuống (Quéng Lỏng).

 

Giai điệu thứ nhất là gõ đuống nhịp ba (Quéng Lỏng Kha Sam). Giai điệu này chỉ có ba đôi nam nữ thể hiện, mỗi người cầm một chiếc chày gõ xuống mép đuống theo điệu nhịp 3, âm thanh rộn ràng, lúc bổng, lúc trầm quện vào nhau nghe như thác nước đang nô đùa trong gió, thể hiện sự vui vẻ, yêu cuộc sống của con người.

 

Giai điệu thứ hai là gõ đuống kéo chảy (Quéng Lỏng Lạc Sác). Khác với điệu Kha Sam, điệu Quéng Lỏng Lạc Sác sử dụng đông người hơn, thường là 8 người chia nhau đứng ở 2 mép đuống mỗi bên bốn người, mỗi người cầm một chày gõ vào mép đuống theo điệu nhịp 2. Tiếng chày, tiếng đuống lúc này nghe như dàn đồng ca, minh họa cho sự rạo rực, phấn chấn của nhà nông lúc được mùa.

 

Giai điệu thứ ba trong lễ hội là gõ đuống theo nhịp con Cắp Cáng kêu (Quéng Lỏng Cắp Cáng). Điệu Quéng Lỏng Cắp Cáng được dựa theo truyền thuyết về tình yêu của một đôi trai gái nghèo, họ yêu nhau thắm thiết nhưng do lễ giáo phong kiến, mà không đến được với nhau.

 

Giai điệu thứ tư là điệu Nẹp Nứa (Quéng Lỏng Kèm Hừa). Đây là điệu Quéng Lỏng được dùng bằng hình tượng, khi chèo thuyền lướt sóng phải dùng mưu, để giữ thăng bằng cho con thuyền nhỏ khỏi bị lật khi gặp sóng to, gió lớn. Qua âm thanh và động tác của các nghệ nhân biểu diễn trong lễ hội cho thấy con người cần phải có ý chí và nghị lực thì mới có thể vượt qua mọi khó khăn, gian khổ.

 

Cuối cùng là giai điệu Dệt Cửi (Quéng Lỏng Tắm Húc). Đây là nghề truyền thống của dân tộc Thái được các nghệ nhân thể hiện bằng nhạc cụ chày và đuống. Điệu Quéng Lỏng Tắm Húc nói lên sự chịu thương, chịu khó của người phụ nữ Thái trong việc quay xa dệt vải và gìn giữ tổ ấm gia đình.

 

Trong khi các đôi nam nữ thanh niên nô nức giã cốm thì các bà, các chị cũng khẩn trương chuẩn bị đồ xôi, nướng thịt, cá, các loại hoa quả để chuẩn bị lễ cúng Tăm Khả Mảu.

 

Lễ cúng Tăm Khảu Mảu, gồm có các lễ vật như: Đầu lợn và xôi, thịt nướng, cá nướng, các loại hoa quả của ngon vật lạ mà người nông dân làm ra từ chăn nuôi và sản xuất bằng bàn tay khéo léo của các bà, các chị dân tộc Thái.

 

Lễ hội Tăm Khảu Mảu là nét văn hóa đặc trưng tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và dân tộc Thái là một bông hoa trong những vườn hoa muôn sắc ấy. Lễ hội Tăm Khảu Mảu là một hoạt động văn hóa dân gian, mang bản sắc riêng của dân tộc Thái Nghĩa Lộ nói riêng và các dân tộc tỉnh Yên Bái cần được tích cực duy trì, bảo tồn và phát huy.

 

Sau phần lễ cúng Tăm Khảu Mảu là phần các hoạt động văn hóa dân gian, thể dục thể thao: kéo co, đẩy gậy, ném còn, múa các điệu xòe cổ của người Thái Mường Lò./.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đặc sắc lễ Tết Hoa của dân tộc Cống

Cứ vào dịp cuối tháng 11 dương lịch hằng năm, khi mùa màng đã thu hoạch xong, người dân tộc Cống ở xã Pa Thơm (huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) lại quây quần cùng nhau vui trong lễ Tết Hoa (tiếng dân tộc là Mền loóng phạt ai).

Đây là nghi lễ Tết cổ truyền đặc trưng nhất của người Cống được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, phản ánh sinh động đời sống và bản sắc dân tộc.

 

 

Vượt qua hàng chục cây số đường đồi núi, chúng tôi đến bản Púng Bon (xã Pa Thơm), nơi diễn ra Tết Hoa và các chương trình giao lưu văn nghệ của đồng bào dân tộc Cống.

 

Năm nay, tất cả bà con người Cống ở ba bản của xã Pa Thơm là Si Văn, Huổi Moi và Búng Bon tập trung tại bản Púng Bon để cùng tổ chức Tết Hoa.

 

Con đường vào bản nhộn nhịp hơn mọi ngày, với khuôn mặt háo hức, phấn khởi, tất cả mọi người đang chuẩn bị những vật dụng cho ngày Tết.

 

Người chủ trì lễ cúng là già làng, người có uy tín được bà con trong bản kính trọng và cũng chính là thầy cúng trong phần lễ.

 

Địa điểm diễn ra lễ cúng cho Tết Hoa tại nhà già làng. Trước khi lễ diễn ra một tuần, thầy cúng chọn ngày lành, tháng tốt (tránh ngày mất, chôn cất của những người quá cố trong bản).

 

Từ sáng sớm, lễ chủ mỗi gia đình lên nương hái nhiều loại hoa để về trang trí trong nhà, đặc biệt là không thể thiếu hoa mào gà, theo quan niệm của người Cống là biểu tượng của sự may mắn, tốt đẹp.

 

Hoa mào gà được mang đến nhà thầy cúng, trang trí từ gốc tới ngọn trên một cây tre còn nguyên cành cao tới sát nóc dựng giữa nhà. Màu hoa mào gà đỏ thắm, tạo nên không khí ấm áp khắp không gian lễ.

 

Cùng với việc chuẩn bị hoa mào gà, mỗi gia đình chuẩn bị lễ vật cúng để mang đến nhà thầy cúng. Lễ vật bao gồm gà, sóc, chuột, cá suối, bí, khoai sọ, rượu ống, tất cả được sắp theo đôi do người Cống cho rằng ma tổ tiên chỉ nhận đồ lễ có số chẵn, không nhận số lẻ.

 

Ngoài ra, người Cống còn để những dụng cụ lao động như lưỡi dao, lưỡi thuổng lên một chiếc mẹt và rắc trấu cốm lên trên với quan niệm những vật dụng này đã giúp con người phát nương, cuốc rẫy nên khi con người thu lúa nó cũng phải được chia phần.

 

Khi mọi lễ vật đã được chuẩn bị chu đáo, mọi người tắm rửa sạch sẽ, mặc trang phục dân tộc mình – những bộ quần áo được họ tự may để mặc trong những dịp lễ, tết quan trọng của dân tộc.

 

Khoảng 4 giờ chiều, tất cả bà con trong bản khoác lên mình bộ trang phục dân tộc, xếp hàng bưng lễ vật đến nhà thầy cúng để bắt đầu nghi lễ cúng Tết Hoa.

 

Theo các cụ già người Cống, đây là giờ mà tổ tiên có thể về nhà nhận lễ. Lễ vật của tất cả bà con trong bản được xếp lại thành một mâm lễ thịnh soạn, đặt ở góc nhà, phía trên cắm những bông hoa mào gà đỏ rực.

Thầy cúng thắp hai ngọn nến và bắt đầu nghi thức cúng. Trong bài cúng, thầy cúng mời tổ tiên về, gọi ba hang, ba núi trấn giữ quanh bản về chứng kiến.

Sau khi gọi mời tổ tiên về, thầy cúng nghỉ khoảng 3 phút rồi gọi mời tổ tiên và bà con cùng ăn uống. Thầy thay mặt dân bản báo cáo tình hình mùa màng, chăn nuôi, sức khoẻ của bà con trong năm qua và cầu xin các thần linh, tổ tiên phù hộ dân bản sang năm mới dồi dào sức khỏe, mùa màng bội thu, gà, lợn đầy chuồng và cầu cho mọi sự tốt lành may mắn đến cho bản mường.

 

Sau đó, thầy cúng nâng chén rượu chúc mừng mọi người sang năm mới những điều tốt đẹp nhất. Mọi người quây quần uống rượu cần và phá cỗ Tết tại nhà già làng rồi ai về nhà nấy để thực hiện nghi lễ Tết tại nhà mình và chuẩn bị mâm cỗ đến bà con, hàng xóm đến chúc Tết.

 

Già làng Nạ Văn Phanh cho biết theo tổ tiên người Cống lưu truyền, nếu Tết Hoa chưa được tổ chức thì chưa ai được phép đi phát nương, đào củ mài và vui chơi, ca hát.

Tết Hoa là nghi lễ quan trọng nhất trong năm của người dân tộc Cống, ngoài ra còn có lễ cúng cơm mới, cúng ma nhà, cúng tổ tiên trời đất, lễ cưới, lễ mừng nhà mới…

Tết Hoa là dịp để bà con hướng về cội nguồn tổ tiên, bày tỏ lòng biết ơn với các thần linh đã phù hộ cho bà con một năm có sức khỏe và mùa màng tươi tốt đồng thời cầu xin những điều tốt đẹp cho một năm mới.

Sau mâm cỗ thịnh soạn, đến khoảng 7 giờ tối, khi men rượu đã ngấm, họ tập trung ra nhà văn hóa gõ chiêng, chũm chọe, hát múa tưng bừng. Cả mường cùng hân hoan trong tiếng chiêng đồng âm vang và ngân xa.

 

Họ cùng nhảy múa, hát ca và ném những hạt giống thóc, ngô ra khắp không gian xung quanh với mong ước bản mường bước sang một năm mới vạn vật sinh sôi nảy nở. Mọi người đến xem hò reo, cổ vũ náo nhiệt, khiến không khí của ngày hội thêm tưng bừng.

 

Chương trình vui Tết Hoa được kéo dài đến ngày hôm sau, bà con trong bản tập trung ra nhà văn hóa để tham gia phần hội với các tiết mục thi đặc sắc, các trò chơi dân gian như: cà kheo, bắn nỏ, kéo co, đẩy gậy… Các trò chơi diễn ra sôi nổi trong sự cổ vũ nhiệt tình của bà con và khách mời.

 

Ông Lò Văn Không, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Pa Thơm cho biết xã Pa Thơm có 76 hộ là đồng bào dân tộc Cống, trong đó tập trung hơn 40 hộ ở bản Púng Bon, còn lại là ở bản Huổi Moi và Si Văn.

 

Tết Hoa là nghi lễ đặc sắc nhất của người Cống ở Pa Thơm, đây là dịp để tôn vinh bản sắc, nét đẹp truyền thống trong văn hóa tín ngưỡng của đồng bào dân tộc Cống.

 

Những năm qua, Ủy ban Nhân dân xã Pa Thơm đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc Cống phát triển kinh tế như dự án bò luân chuyển của Hội nông dân, hướng dẫn bà con phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, miễn giảm học phí cho học sinh…

 

Chính quyền xã cũng có nhiều chính sách cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc của dân tộc Cống nói riêng và cộng đồng các dân tộc ở xã Pa Thơm nói chung./.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Thiên nhiên hùng vĩ tại Cao Bằng

Là một tỉnh miền núi nơi địa đầu Tổ Quốc, Cao Bằng không có những công trình kiến trúc hoành tráng, không có những khu du lịch được đầu tư lớn, chỉ có núi rừng với thiên nhiên hùng vĩ để níu chân du khách.

Nằm tại vùng Đông Bắc của Việt Nam, phía Tây giáp với Tuyên Quang và Hà Giang, phía Nam giáp với Bắc Kạn và Lạng Sơn, phía Bắc và phía Đông giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), Cao Bằng ngày hôm nay vẫn giữa được nét hoang sơ với núi, rừng, thiên nhiên hùng vĩ.

 


Núi, sông, thác nước…là tài nguyên có nhiều nhất tại Cao Bằng vì vậy mà vùng đất này có rất nhiều cảnh quan đẹp. Nếu đến Cao Bằng, khách du lịch có thể thăm quan thác Bản Giốc; động Ngườm Ngao; suối Lê- nin; hang Pắc Bó; hồ Thang Hen.


Thác Bản Giốc là địa điểm khá nổi danh ở Việt Nam không chỉ bởi vẻ đẹp kỳ vĩ mà còn bởi đây là thác nước lớn thứ tư trên thế giới trong số các thác nước đẹp nhất nằm trên đường biên giới và cũng là thác nước tự nhiên lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á. Bởi là một thác nước lớn, nên có thể nhìn thấy Bản Giốc từ khoảng cách rất xa. Giữa thác có một mô đất rộng phủ kín cây xanh, mô đất xẻ dòng sông thành ba luồng nước khác nhau. Vào những ngày nắng, hơi nước bắn ra từ thác mang lại hình ảnh như cầu vồng dưới nắng. Cách thác Bản Giốc khoảng 5 km là động Ngườm Ngao, đây cũng là cảnh quan tuyệt đẹp tại Cao Bằng.


Động Ngườm Ngao hoang sơ, quyến rũ, mang đậm màu sắc huyền ảo. Từng chùm thạch nhũ buông rủ trong động tạo nên những hình thù kỳ lạ, kích thích sự tò mò nơi du khách. Khung cảnh rất sinh động, kỳ thú khiến ai cũng phải thán phục. Trong lòng hang động Ngườm Ngao còn có một dòng suối ngầm chảy qua, tiếng nước chảy róc rách vang vọng trong núi đá càng làm tăng vẻ bí ẩn nơi đây.

 

Suối Lê-nin, hang Pắc Bó là di tích lịch sử nổi tiếng, nơi Bác Hồ đã từng sống và làm việc và trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam sau hơn 30 năm bôn ba ở nước ngoài. Suối Lê-nin, hang Pắc Bó là 2 địa danh đã rất quen thuộc với mỗi người con đất Việt từ khi còn là đứa trẻ mới chập chững đến trường. Không chỉ là một di tích lịch sử quan trọng, suối Lê-nin và hàng Pắc Bó còn là nơi sơn thủy hữu tình với cảnh núi non, mây trời bình yên và không khí vô cùng dễ chịu, mát mẻ.  


Hồ Thang Hen nước trong xanh như màu ngọc bích, trải dài ngút tầm mắt. Lòng hồ nằm trọn trong khu rừng già nguyên sinh, trên bờ là dãy cây cổ thụ cao, đổ mình in bóng xuống mặt nước. Vào những ngày nóng bức, không khí ở đây vẫn mát lạnh. Để khám phá lòng hồ, du khách có thể thuê thuyền để dạo chơi theo dòng nước. Nếu chọn hình thức đi thuyền ngắm cảnh trên hồ, du khách còn có thể khám phá một số hang động nằm ẩn mình bên những ngọn núi, tán cây dọc theo chiều dài hàng cây số của hồ.

 

Bao quanh hồ là 200ha rừng già mọc nhiều loại dược liệu quý. Không gian trong lành, tĩnh mịch. Hoa cúc quỳ mọc cạnh hồ lắc đầu nhè nhẹ với làn gió thổi từ phía rừng về mang theo tiếng chim vui đùa trong các vòm lá.


Ngoài ra, còn rất nhiều địa danh khác ở Cao Bằng không nên bỏ qua như: thành Bạch Mã, Nghiêu Sơn Lĩnh, khu di tích Kim Đồng…


Nhiều người thích đến Cao Bằng vào mùa xuân, khi đó đất trời Cao Bằng đẹp như một bức tranh thủy mặc. Cảm giác những cơn mưa xuân bất chợt, sương trắng bao phủ và cả những cơn gió mang theo cái lạnh rùng mình thật khó mà diễn đạt thành lời. Tuy nhiên, thực tế mỗi mùa ở Cao Bằng lại mang một vẻ đẹp riêng. Mùa thu tháng 8-9, khi thác Bản Giốc đầy nước xanh ngát hay vào tháng 11-12 khi hoa tam giác mạch và hoa dã quỳ nở khắp núi rừng…mùa nào đẹp nhất, thời điểm nào thích hợp nhất để đến Cao Bằng còn tùy thuộc vào quan niệm và mục đích chuyến đi của mỗi du khách.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Trải nghiệm ngày bình yên ở thung lũng Mai Châu – Hòa Bình

Với 1 ngày ở Hà Nội mà muốn khám phá Tây Bắc, bạn có thể lựa chọn Mai Châu. Bạn có thể đăng ký tour hoặc tự đi xe máy, đón xe buýt lên ngắm thung lũng đẹp như tranh nơi miền cao.

Sau những ngày khám phá phố cổ, mua sắm, hay loanh quanh phố xá ăn uống ở Hà Nội, nhiều người thường có ý tưởng khép lại trọn vẹn chuyến du lịch của mình bằng chuyến đi ngắn ngày đến thung lũng vàng Mai Châu, Hòa Bình. Đây thật sự là lựa chọn tuyệt vời để bạn khám phá vẻ đẹp hiếm có của ngôi làng giữa thung lũng trù phú.

 

 

Đến nơi, Mai Châu bày ra trước mắt bạn cảnh sắc đẹp như tranh vẽ bao quanh bởi những núi non hùng vĩ, đồng lúa xanh mát. Cách phổ biến nhất mà nhiều người thường chọn để thăm thú Mai Châu là đạp xe dạo quanh ngôi làng. Nếu đi theo tour thì xe đạp nằm trong lịch trình tour, nếu đi tự túc thì bạn có thể thuê xe ở những nhà xung quanh. 

 

Thong dong đạp xe quanh làng, bạn sẽ ngắm được khung cảnh bình yên, tham quan làng nghề và mua sắm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ địa phương như khăn quàng cổ, áo, túi dệt thổ cẩm… Hoặc leo lên những dốc đá cao để ngắm nhìn vẻ đẹp thanh bình đầy mê đắm của làng từ điểm nhìn trên cao.

Không chỉ có vậy, bạn chắc chắn sẽ thích thú khi gom vào tầm mắt hình ảnh về những ngôi nhà sàn, những con đường quanh co, giếng nước cổ, gốc đa già và cả những con người lam lũ nhưng chân chất, hồn hậu.

 

Đi sâu hơn bạn sẽ cảm nhận rằng Mai Châu không chỉ đẹp mà còn là sự pha trộn độc đáo giữa lịch sử, văn hóa và con người. Sau khi dùng bữa cơm theo phong vị địa phương trong một ngôi nhà sàn truyền thống của dân tộc Thái, bạn có khá nhiều lựa chọn để khám phá Mai Châu theo cách riêng mình trước khi lên xe trở về Hà Nội vào cuối buổi chiều.

 

Khi đã dạo quanh đây đó và cho rằng một ngày là không đủ để cảm nhận được hết vị quê hồn hậu, bạn có thể đăng ký dịch vụ ở nhà dân homestay để có cơ hội trò chuyện, khám phá tập quán sinh sống cũng như có được những trải nghiệm đầy đủ, đáng yêu nhất về ngôi làng lọt giữa thung lũng này./.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

TIN MỚI NHẤT