Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Nồng nàn rượu men lá Đá Bàn – Quảng Trị

Đây là loại rượu men lá nồng say, dịu ngọt nơi cổ họng làm cho người uống thấy lâng lâng một cảm giác tuyệt vời say đắm lòng người thật khó quên.

Đến bản Đá Bàn ở xã Ba Nang, Đakrông, tỉnh Quảng Trị, bạn sẽ không thể bỏ lỡ dịp thưởng thức chén rượu men lá nơi đây.

 

 

Cất công tìm lá

 

Loại rượu này được chưng cất từ 9 loại rễ, quả, thân, vỏ, lá cây rừng mà người Pa Cô phải cất công vào tận rừng xanh, núi thẳm tìm kiếm mang về rồi đặt lên tấm bạt sạch trải giữa nền bếp để nấu rượu.

 

Nghề làm men lá, nấu rượu men lá của người Pa Cô ở bản Đá Bàn đã có từ lâu đời. Trong các dịp lễ hội như Lễ hội Puh Boh (lễ giữ rẫy), Lễ hội Aya (hội mùa), Lễ hội Ariêuping (lễ bốc mả) của người Pa Cô thì rượu men lá là thức uống không thể thiếu được.

 

Công phu cách nấu

 

Cách nấu rượu men lá cũng lắm công phu, làm men lá trước hết phải có nguyên liệu lá, quả, thân, vỏ của các loại cây rừng như: cây tân tiêu, cà luôi, tà mài (mây đắng), ô mòi, la ngêng, pliêm căn yang, ớt rừng, thuốc lá rừng. Trước kia những loại lá, quả, thân, vỏ cây rừng này chỉ cần ra sau vườn nhà hoặc lên mấy quả đồi quanh bản là có thể hái mang về. Tuy nhiên, mấy năm gần đây, các loại cây rừng nguyên liệu làm men lá ngày càng khan hiếm nên việc đi hái lá cây rất vất vả. Bây giờ muốn có đủ nguyên liệu để làm một mẻ men lá, người dân Đá Bàn phải băng rừng, lội suối vào tận rừng sâu để đào, hái hoặc sang các bản của huyện Sê Pôn, tỉnh Savannakhet, Lào mua về.

 

Các loại lá, quả, thân, vỏ của cây rừng dùng làm men lá sau khi đào hái mang về rửa thật sạch rồi giã nhuyễn đem trộn với nếp đỏ cũng được giã thành bột (nếp đỏ là loại nếp được đồng bào dân tộc Pa Cô ở bản Đá Bàn trồng trên rẫy từ tháng 5 đến tháng 11) theo tỷ lệ 1kg lá, thân, rễ, quả tươi cây rừng trộn với 60 lon nếp đỏ. Khi đã trộn đều hỗn hợp lá, quả, thân, vỏ của cây rừng cùng bột nếp đỏ thì bắt đầu đến công đoạn vo tròn thành từng viên rồi rải lên bạt cho khô. Ba ngày sau, những viên men lá khô cứng lại thì dùng sợi lạt để xâu men lá thành từng chùm rồi treo lên giàn bếp.

 

Cái chất của men

 

Men lá đạt chất là khi dùng tay bẻ một miếng nhỏ cho vào bếp than hồng thì men sẽ bốc cháy và có ngọn lửa màu xanh lam. Nếu bảo quản tốt ở nơi khô ráo, men lá của bản Đá Bàn qua năm sau vẫn sử dụng được để chưng cất rượu.

 

Men lá chuẩn bị xong là đến công đoạn ủ men lá với nếp hoặc gạo đã được nấu để chưng cất rượu. Cứ 15 viên men lá bóp nhỏ trộn đều với khoảng 60 lon nếp, gạo nấu chính sau đó ủ (khoảng 2 – 3 ngày) cho đến khi ấn bàn tay vào thấy nổi bọt nước lên thì cho thêm nước tinh khiết vào rồi tiếp tục ủ kín trong chum, vại trong vòng 10 ngày (mùa hè) và 15 ngày (mùa đông) rồi mang ra chưng cất rượu.

 

Trong những đêm thanh vắng, hương rượu tỏa ngát một góc rừng, thưởng thức rượu men lá cùng với làn điệu Terate’k của người Pa Cô ở bản Đá Bàn, trong tiếng nhạc du dương quyện với men rượu nồng ngọt ngào bạn sẽ có cảm giác bay bổng như lạc vào chốn thiên đường của những vì sao nơi miền sơn cước./. 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Ba Vì vàng rực dã quỳ

Tháng 11, niềm thích thú trước những cánh đồng hoa tam giác mạch ở Hà Giang chưa kịp vợi bớt thì du khách lại có cơ hội thưởng thức thêm hoa dã quỳ ở Vườn Quốc gia Ba Vì. Đứng trên “Đồi dã quỳ”, sắc vàng bạt ngàn của Thủ đô mà ngỡ như đang ở Tây Nguyên.

Dãy Ba Vì có ba đỉnh núi vươn lên. Cao nhất là đỉnh Vua 1.296 mét. Đỉnh Tản Viên cao 1.227 mét và đỉnh Ngọc Hoa cao 1.131 mét. 10 năm nay, Ba Vì luôn là ngọn núi được dân du lịch bụi lựa chọn để kiểm tra sức khỏe trước khi muốn tham gia chinh phục đỉnh Fansipan. Ba Vì chưa bao giờ giảm sức hút với cánh mê phượt. 

 


Những năm 20 của thế kỷ trước, người Pháp đã có ý định biến Ba Vì thành nơi nghỉ dưỡng. Thời đó, Ba Vì vẫn còn có cả hổ và cả một làng săn thú ở chân núi. Hiện ở chân núi vẫn còn di tích Đền Đá Đen, với sự tích kể về một bà mẹ cụt chân và cô con gái. Hàng ngày, cô con gái đi kiếm củi bán lấy tiền để hai mẹ con sinh sống. Một ngày, bà mẹ chờ mãi không thấy con gái về, bèn chống gậy đi tìm. Đến khi thấy xác con gái bị hổ vồ thì bà kiệt sức và chết. Người dân dựng ngôi miếu nhỏ bằng đá đen tại đó để thờ 2 mẹ con nên gọi là Miếu Đá Đen. Năm 1995, có một số người phát tâm xây dựng ngôi miếu thành Đền Đá Đen khang trang như bây giờ. Nhiều người đến Ba Vì, trước khi leo núi đều vào đền thắp nén hương.

Người Pháp khi xây dựng nhà thờ và 9 ngôi biệt thự trên Ba Vì đã mang giống hoa dã quỳ này về trồng nơi đây. Sức sống mãnh liệt đã nhanh chóng biến dã quỳ thành loài hoa bản địa của Ba Vì. Cuối thu, đầu đông, khi sức hút của hoa tam giác mạch Hà Giang đã hơi chùng xuống thì những người ham xê dịch lại được thỏa mắt và ngập tràn cảm xúc khi lên núi Ba Vì với dã quỳ- thứ hoa mê hoặc của đại ngàn. Loài hoa dại này có rất nhiều ở Tây Nguyên, khi thì được gọi là cúc quỳ, lúc thì tên là dã quỳ. Nhìn thoáng, nó vừa giống hoa cúc lại vừa giống hoa hướng dương.

Chân núi Ba Vì của khi trước chỉ toàn thứ cây ổi dại, mâm xôi, xương rồng, hoa muối và lau um tùm. Giờ đây, ngay từ chân núi đã thấy hoa dã quỳ khoe sắc khiến những tay lái mê dốc cua tay áo mê mải vít ga xe máy lên tận cốt 700, nơi đường cụt là chỗ dã quỳ tụ lại cả một quần thể bạt ngàn được gọi là Đồi dã quỳ. Giữa rừng xanh bạt ngàn, dã quỳ hoang dại nhưng đầy kiêu hãnh. 

Vốn đã có kinh nghiệm đến các vùng rừng núi, dân phượt đi Ba Vì  sử dụng ủng nilon, nước bồ kết để chống vắt. Lạc vào thế giới của loài hoa này, dưới chân, phía trước, sau lưng, trên cao đều một màu dã quỳ vàng xen giữa màu xanh của lá, máy ảnh chụp mỏi tay. Nơi này, hoa dã quỳ mọc ở bất cứ đâu. Chỉ một cành dã quỳ rơi từ trên cao xuống cũng thành cây con. Nơi thì dã quỳ nở thành cả vạt đung đưa theo gió. Cũng có khi bắt gặp một bông dã quỳ cô đơn ven đường mòn. Khi đã mệt vì chụp ảnh và ngắm hoa, cũng là lúc hơi lạnh của núi ngấm vào cơ thể, đồ ăn được bày ra và một giấc ngủ trưa ngắn giữa rừng thực sự như món quà quý của thiên nhiên ban tặng. 

Tuy nhiên tại một điểm tham quan thú vị giữa rừng Ba Vì lại khiến cho chúng tôi vô cùng chán nản, đó là khu vực nhà thờ đổ với hình ảnh rác tràn ngập ở sân. Rác này do những người du lịch và cả những người đến đây chụp ảnh cưới với thái độ vô ý thức đã vứt lại. May sao, nhóm “Những người thích đi du lịch” trên Facebook vừa tổ chức được ngày tình nguyện dọn rác cho Ba Vì vào chủ nhật 23-11, trả lại cảnh quan đẹp nơi đây. 

Rời nơi đây, chỉ muốn nói với những du khách đến từ  những đô thị chật chội  các hộp bê tông và khói bụi rằng, nếu bạn đến với  Ba Vì để ngắm dã quỳ, thì chỉ nên để lại dấu chân và mang về những bức ảnh, đừng để lại thêm bất cứ thứ gì, ví dụ như rác.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Làng chài Hàm Ninh tĩnh lặng và hoang sơ

Đến với làng chài cổ Hàm Ninh (Phú Quốc, Kiên Giang), du khách sẽ được khám phá vẻ đẹp của ngôi làng chài cổ đã tồn tại hàng trăm năm, hòa mình với cuộc sống của những ngư dân chất phác và thưởng thức rất nhiều hải sản tươi ngon.

Nằm trên bờ biển phía Đông “đảo ngọc” Phú Quốc, làng chài Hàm Ninh nép mình dưới chân núi Hàm Ninh và hướng mặt ra biển rộng bao la. Không ai biết ngôi làng này có tự bao giờ, chỉ biết rằng, khi đảo Phú Quốc còn hoang vắng, một số cư dân từ xa đến đây khai thác hải sản, rồi lập làng sinh sống. Khi cửa biển Dương Đông vang tiếng sóng thì Hàm Ninh là bến đậu ghe yên tĩnh và an toàn. Các ghe buồm, ghe bầu từ đất liền đến cập bến ở đây để lên hàng hoá rồi chở hải sản đi. Có lẽ, đó là bởi bờ biển đặc biệt quanh làng chài cổ, dù ra xa vài trăm thước nước vẫn rất nông. Khi nước ròng, bãi cát mênh mông chạy tít ra xa, lúc nước lên, tràn ngập bãi, vào tận mé rừng.

 


Ấn tượng đầu tiên khi mỗi du khách đến đây là được chiêm ngưỡng ngọn núi Hàm Ninh 300m cao ngất ngưởng với những lớp đá chồng đá, dựng đứng rêu phong tạo nên một vùng mây khói hòa giữa màu xanh của núi rừng và biển trời mênh mông Phú Quốc. Đứng trên bãi Hàm Ninh, trông ra có thể thấy rõ quần đảo Hải Tặc, chệch về Đông Nam, hòn Nghệ mờ mờ trên làn nước biển xanh biếc, phía Nam là mũi Ông Đội – mũi đất cuối cùng của đảo. Cuộc sống nơi đây gần như vẫn còn giữ được nguyên nét hoang sơ với nhà tranh vách tre tạm bợ. Trước đây, ngư dân nơi đây sống chủ yếu bằng nghề lặn tìm ngọc trai, bắt hải sâm và giăng lưới ghẹ, nay họ đã có thêm nguồn thu nhập từ việc buôn bán thực phẩm, đồ lưu niệm cho khách du lịch. Trải qua hàng trăm năm, những ngư dân hiền lành, chất phác nơi đây vẫn can trường bám biển. Cuộc sống dẫu còn lắm nỗi nhọc nhằn nhưng họ vẫn yêu thương và gắn bó với nơi này.


Chiều về, du khách thường tản bộ ra cầu cảng dài nhất Phú Quốc mang tên Hàm Ninh để thưởng thức từng cơn gió mát lành và chiêm ngưỡng khung cảnh của biển khi hoàng hôn xuống. Và bất cứ ai đã từng đến nơi này hẳn chẳng thể nào quên được những món ăn đặc sản tươi ngon với giá rẻ ở chợ đêm Dinh Cậu. Món được du khách yêu thích nhất là những con ghẹ vừa bắt lên đem luộc, màu đỏ tươi, thịt chắc nịt, chấm muối tiêu chanh. Nhiều người còn bảo, đến Hàm Ninh mà chưa thưởng thức ghẹ hấp thì chuyến đi coi như chưa trọn vẹn. Khi về, du khách có thể lựa mua những đặc sản của làng chài như hải mã sống ngâm rượu, hải mã chiên giòn, nấm tràm – loại nấm đặc sản chỉ có ở huyện đảo, quả dứa biển và trái mỏ quạ để ngâm rượu thuốc… làm quà cho gia đình, bạn bè.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đón giáng sinh nơi Hạ Long huyền diệu

Trong cái se lạnh của mùa đông, sương giăng thấp thoáng, vịnh Hạ Long hiện ra như bức tranh thủy mặc, nhẹ nhàng mà quyến rũ.

Vẻ huyền bí ấy càng thêm mê hoặc khi được tận hưởng một đêm Giáng sinh lung linh bên bờ vịnh và ngắm nhìn phố biển kiêu sa trong muôn ánh đèn.

 

 

Khám phá Hạ Long, mỗi mùa dường như có một cái thú vị riêng. Nếu trong tiết thu, trời trong xanh, những mảng mây xốp vờn nhẹ trên bầu trời, chỉ cần đứng từ xa đã có thể thấy những hòn đảo hiện lên rõ nét thì mùa đông lại là trải nghiệm hoàn toàn khác. Kẻ lữ hành mùa đông như lang thang trong vẻ đẹp mờ ảo đến mộng mị của làn sương giăng để thám hiểm, để thong dong trên thuyền vén từng bức màn bí mật của tạo hóa.

 

Mỗi phút giây trôi qua, trước mắt bạn là khung cảnh mới, lúc xa xa ẩn hiện muôn trùng hòn đảo, lúc thật gần vách đá sừng sững uy nghi. Khi đang mải mê lưu luyến giữa sóng nước, lữ khách lại choáng ngợp và kinh ngạc khi phát hiện tiềm ẩn trong lòng các đảo đá ấy là những hang động tuyệt đẹp gắn liền nhiều truyền thuyết thần kỳ. Đặc biệt, hang Sửng Sốt – top 10 hang động đẹp nhất thế giới, sở hữu hàng nghìn nhũ đá muôn hình vạn trạng sẽ quyến rũ bạn từng khoảnh khắc.

 

Chinh phục bậc thang đá cheo leo, một cung điện lộng lẫy mở ra trước mắt trong luồng không khí mát lạnh dễ chịu. Ngăn đầu rộng thênh thang với vô số chùm đèn treo bằng nhũ đá long lanh, chú voi đá, hải cẩu đá, mâm xôi, gấu biển… sống động. Lần bước trên con đường lát đá dài hơn 500m, là các hồ nước trong veo, mát lành. Từng giọt nước tí tách rơi như từng nhịp thời gian đang trôi qua. Một cảm giác nửa mơ nửa thực thật khó diễn tả! Ngăn thứ hai ngập tràn ánh sáng, được ví như “vườn thượng uyển” tuyệt mỹ bởi cây đa cổ thụ, khủng long, bà tiên… cùng tiếng chim muông réo rắt. Cũng hình dáng ấy, nhưng khi nhìn ở góc độ khác nhau, trí tưởng tượng khác nhau, bạn sẽ khám phá nhiều hình dáng thạch nhũ mới lạ cho riêng mình.

 

Sẽ là thiếu sót lớn nếu trong chuyến hành trình bạn không đặt chân chinh phục đảo Ti Tốp – có độ cao khoảng 200m so với mực nước biển. Chinh phục những bậc đá hướng thẳng lên đỉnh núi, phóng tầm mắt ra bốn hướng là hàng nghìn hòn đảo hòa quyện cùng nước biếc, mây trời kỳ ảo như tiên cảnh.

 

Đón Giáng sinh bên bờ di sản Hạ Long, ngoài ánh đèn lung linh, bản nhạc vui nhộn, bạn còn trải qua khoảnh khắc mùa đông thật lãng mạn, ngọt ngào. Trong hơi thở của làn gió biển mát lành, khi cái lạnh len qua từng lớp áo, cảm xúc càng vỡ òa khi biết rằng Giáng sinh đã về trên phố. Giữa đêm đông lạnh giá, không khí tưng bừng của mùa Noel càng quyến rũ khách phương Nam bởi những chiếc áo ấm, sắc màu rực rỡ của các khách sạn lớn trang hoàng cây thông, đèn hoa, ông già Noel, đoàn tuần lộc vui nhộn và hiệu ứng tuyết rơi độc đáo.

 

Hãy lặng yên và lắng nghe âm thanh từ biển khơi để thấy mình đang phiêu du ở cõi tang bồng. Đó là sự giao hòa giữa thiên nhiên và con người trong mùa bình an chào Năm mới sắp đến, là khoảnh khắc đẹp in dấu trong trái tim mỗi người. Để rồi, dù lạc đến phương nào, thì cảm xúc miên man của đêm đông Hạ Long sẽ lưu luyến mãi, như chờ đợi và đón bước chân bạn quay về.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đặc sắc nét văn hóa làng nghề truyền thống người Chăm

Ninh Thuận là một vùng đất có nhiều nét văn hóa riêng trong đó có nền văn hóa Chăm đặc sắc góp phần làm phong phú, đa dạng văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa các dân tộc địa phương Ninh Thuận nói riêng.

Nằm ở Cực Nam Trung Bộ, thời kỳ Vương quốc Champa cổ, Ninh Thuận và Bình Thuận thuộc châu Panduranga của Champa. Đặc biệt, Ninh Thuận là một trong những địa bàn sinh sống của người Việt cổ. Các nhà khảo cổ đã phát hiện được ở Nhơn Hải của Ninh Thuận các mộ cổ chôn cùng với đồ đá, đồ sắt thuộc nền văn minh Sa Huỳnh cách đây khoảng 2500 năm. Ninh Thuận còn là nơi gìn giữ được nhiều di sản quý báu của nền văn hoá Chămpa, bao gồm chữ viết, dân ca và nghệ thuật múa, trang phục và nghề dệt thổ cẩm, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc.

 

 

Người Chăm ở Ninh Thuận vốn được biết đến với rất nhiều nghề truyền thống. Tuy nhiên, trải qua thời gian, nghề truyền thống cũng dần mai một, cho tới nay chỉ còn nghề làm gốm, nghề dệt và một số làng làm nghề thuốc Nam được giữ gìn và phát triển.


Ba làng nghề truyền thống của người Chăm được công nhận chính thức gồm 2 làng dệt là Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ và làng gốm Bàu Trúc. Trong đó, làng dệt Mỹ Nghiệp và làng gốm Bàu Trúc nằm trong chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề và nghề truyền thống của người Chăm cũng là điểm khai thác du lịch văn hóa.


Làng gốm Bàu Trúc nằm ở ven quốc lộ 1A, thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, cách thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 10km về hướng nam. Đây là một trong hai làng gốm cổ xưa nhất Đông Nam Á. Làng gốm Bàu Trúc còn được coi như một bảo tàng mang đặc tính gốm truyền thống của dân tộc Chăm. Ở nhiều nơi, người ta dùng bàn xoay để nặn gốm, còn các nghệ nhân gốm Chăm vẫn dùng đôi tay khéo léo để tạo nên những tác phẩm tuyệt vời với mẫu mã phong phú. Nghề làm gốm ở đây rất công phu, trong đó, vật liệu đóng một vai trò rất quan trọng. Đó là một loại đất sét đặc biệt được lấy bên bờ sông Quao, đem về đó đập nhỏ và trộn với cát mịn nhào nhuyễn. Lượng cát được trộn vào tuỳ thuộc theo kích thước và công dụng của mỗi loại sản phẩm. Do đó gốm Bàu Trúc hoàn toàn khác so với gốm của những nơi khác. Các hoa văn trang trí trên gốm Bàu Trúc là những đường khắc vạch hình sông nước, chấm vỏ sò và hoa văn thực vật; có cả hoa văn móng tay trên vai cổ gốm rất mộc mạc, gần gũi, nhẹ nhàng. Sản phẩm gốm được nung lộ thiên ở nhiệt độ khoảng từ 500 – 6000C trong vòng 6 giờ, sau đó được lấy ra để phun màu (loại màu này được chiết xuất từ trái dông, trái thị ở trên rừng) rồi được tiếp tục nung lại trong vòng 2 giờ. Vì vậy, gốm Bầu Trúc có màu đặc trưng vàng đỏ, đỏ hồng, đen xám, vệt nâu, tạo thành các sản phẩm gốm độc đáo, mang theo vẻ “lung linh của nền văn hóa Chămpa”.

 

Ngày nay gốm Bàu Trúc phát triển thêm dòng gốm mỹ nghệ được ứng dụng chế tác phong phú hơn phục vụ du lịch và đời sống thẩm mỹ ngày càng cao của đông đảo dân chúng trong cuộc sống hiện đại nhưng vẫn giữ được dáng vẻ và nét đặc sắc riêng.

 

Nghề làm gốm cổ truyền Bàu Trúc đang được đệ trình hồ sơ công nhận di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

 

Nghề dệt thổ cẩm của đồng bào người Chăm tập trung ở hai xã Phan Hòa, Phan Thanh của huyện Bắc Bình, cách thành phố Phan Thiết khoảng 80km về hướng Bắc. Ngày nay, nghề dệt thổ cẩm vẫn còn giữ nhiều nét truyền thống như: những hoa văn, màu sắc đặc trưng được dệt trên loại khung dệt dài (Jih Dalah) chỉ có ở người Chăm, dệt ra những sản phẩm khổ hẹp dùng trong lễ nghi, tôn giáo. Hoa văn và hoa văn thổ cẩm Chăm là một đề tài phong phú thể hiện bản sắc văn hóa tộc người rõ rệt. Đó là một nền nghệ thuật dân gian độc đáo với óc thẩm mỹ, tư duy đơn giản mà khúc chiết, giàu có, liên quan đến yếu tố tín ngưỡng dân gian và dấu ấn tôn giáo của người Chăm.


Hiện nay ở làng dệt thổ cẩm Phan Hòa vẫn còn những chiếc khung dệt cổ truyền bằng gỗ Gõ, gỗ Trắc được đóng cách đây hàng trăm năm. Các giàn cán bông, cung bắn bông, xa quay kéo sợi vẫn còn thông dụng. Bông hái về phơi khô, cán lấy hột, dùng cung bắn cho bông bung ra trải thành lớp mỏng, lấy thanh tre cuộn lại thành con bông rồi móc vào xa quay kéo sợi. Muốn sợi chắc không bị đứt, bị xù lông khi dệt thì đem ngâm nước cơm, sau đó chải sợi, phơi khô, đánh ống. Nếu muốn sợi có màu lục thì nhuộm với cây tràm, màu đỏ nhuộm với lá trâm bầu, màu đen từ cây buông, màu vàng từ cây trừng…

 

Khi dệt, người thợ mắc sợi trên khung rồi ngồi trước khung đưa tay lòn con thoi qua lại và dùng sao dệt dập sợi tạo tiếng kêu lách cách nắt nhịp đều đều rất vui tai. Muốn tạo mô típ hoa văn, người thợ lành nghề có thể “bắt bông” cách điệu với những họa tiết mang đậm bản sắc văn hóa Chăm. Từ bốn hoa văn cổ truyền xanh két, vàng cúc, trăng, đen đi trên nền đỏ, người thợ có thể tạo ra các loại sản phẩm như túi xách, ví, khăn, dây thắt lưng… thích hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng và du khách.


Theo các nguồn sử liệu, thư tịch cổ, nghề dệt vải đã sớm ra đời trong cư dân văn hoá Sa Huỳnh và phát triển rộng hầu hết khắp nơi trong vương quốc Champa để đảm bảo nhu cầu may mặc, trang trí làm đẹp của cộng đồng dân cư và phục vụ yêu cầu của cung đình và tôn giáo Chăm.


Những giá trị đặc trưng cơ bản vốn có của nghề dệt truyền thống Chăm được thể hiện đầy đủ trên mọi phương diện, mọi lĩnh vực, gắn liền với đời sống tâm linh, phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, sinh hoạt lao động và sinh hoạt văn hóa, góp phần tạo nên diện mạo, bản sắc riêng của của dân tộc Chăm trên mảnh đất Ninh Thuận hôm nay.


Có thể nói, sản phẩm làng nghề của người Chăm ngày càng phát triển phong phú, đa dạng và rất được ưa chuộng, đặc biệt trên thị trường du lịch để làm quà tặng, sử dụng trong đời sống hàng ngày, trưng bày mỹ thuật, trang trí nội thất…/.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Thành Nhà Mạc Lạng Sơn

Thành Nhà Mạc Lạng Sơn nằm trong khu vực phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn đã được xếp hạng Di tích lịch sử Quốc gia và được đầu tư, tôn tạo nhằm phục vụ khách du lịch và người dân quanh vùng tham quan, vãn cảnh.

 

Dấu tích của thành Nhà Mạc Lạng Sơn hiện nay còn lại gồm 2 đoạn tường dài khoảng 300m, mặt thành rộng khoảng 1m, xây bằng những khối đá lớn giữa hẻm núi, từ chân núi dẫn lên cổng thành hơn 100 bậc tam cấp được xây dựng để tạo thuận lợi cho du khách lên tham quan. Vào tới trong thành là một khu đất trống rộng hàng trăm m2; bao xung quanh ngoài những đoạn tường thành có 3 đỉnh núi cao hàng chục mét. Để du khách lên các đỉnh núi thăm quan, ngắm cảnh là hàng trăm bậc thang được xây dựng uốn lượn, do vậy đây là một địa điểm lý tưởng để cho du khách và người dân tham quan, vãn cảnh.

Vào những ngày lễ, tết, ngày nghỉ lượng du khách về đây tham quan tương đối đông, một phần do vị trí của di tích thuận tiện nằm trong quần thể Di tích núi Tô Thị, Động Tam Thanh, Nhị Thanh, một phần vì sự độc đáo của danh thắng này nên không chỉ du khách phương xa mà các bạn trẻ trong vùng và người dân sinh sống xung quanh danh thắng cũng chọn nơi đây là điểm dã ngoại, tập thể dục để được thưởng thức không khí trong lành.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Vịnh Hạ Long – Món quà của tạo hoá

Nacho Morejón Guerrero sinh ra tại Huelva, Tây Ban Nha năm 1972. Năm 16 tuổi, Nacho bắt đầu chuyến du lịch đầu tiên và từ đó đến nay, anh đi du lịch khắp các nơi trên thế giới, làm đủ mọi việc ở nhiều quốc gia, nhưng chủ yếu là các công việc về truyền thông, báo chí và điện tử viễn thông.

Nacho Guerrero lập ra trang web Dokodemo Door để chia sẻ về những chuyến đi của mình bằng cả tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha. Anh đã có một bài viết khá dài đăng trên trang web này về chuyến thăm Vịnh Hạ Long với những kỉ niệm không thể quên của mình. Xin trích dịch một phần bài viết đó của anh…

 

Vịnh Hạ Long nhìn từ cửa hang Sửng Sốt. (ảnh do tác giả chụp)

 

Truyền thuyết kể lại rằng, Vịnh Hạ Long xưa kia là nơi Rồng thần hạ giới để giúp người dân chống giặc ngoại xâm. Sau đó vì yêu mến mảnh đất này, các Rồng thần đã ở lại đây, tạo nên một kì quan tuyệt đẹp đến tận ngày nay. Có thể nói, Vịnh Hạ Long là một trong những địa điểm du lịch hàng đầu ở Việt Nam nói riêng cũng như khu vực Đông Nam Á nói chung. Theo những gì tôi tìm hiểu về thành phố Hạ Long thì nơi đây có tốc độ phát triển khá nhanh, chỉ trong vòng chưa đầy 10 năm, thành phố đã có rất nhiều thay đổi. Ấn tượng đầu tiên khi vào thành phố là sự xuất hiện của rất nhiều tàu thuyền trên biển, thậm chí các tàu phải chen nhau san sát để có thể neo đậu ở cảng. Điều này đôi khi làm che khuất tầm nhìn ra biển của du khách.

 

Chúng tôi được đưa lên một con tàu gỗ kiểu cổ khá sang trọng hoàn toàn xứng đáng với số tiền mình bỏ ra. Ngay khi con tàu bắt đầu rời bến, chúng tôi được phục vụ một bữa trưa thịnh soạn để chuẩn bị cho chuyến du lịch Vịnh Hạ Long đầy thú vị trước mắt. Khi bến cảng xa dần sau lưng cũng là lúc không gian dần dần thay đổi. Mọi thứ trở nên tĩnh lặng và yên bình hơn. Tôi thấy núi đá mọc san sát khắp nơi trên Vịnh. Một bạn người Việt Nam nói với tôi rằng, Hạ Long có tất cả 1.969 đảo đá. Anh ấy còn bảo, con số này dễ nhớ vì nó  trùng với năm qua đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ nổi tiếng của Việt Nam.

 

Điểm nổi tiếng nhất về mặt địa chất ở Hạ Long chính là địa hình cax-tơ độc đáo, với những hang động rộng lớn được hình thành trong suốt hàng trăm triệu năm. Một trong số đó là hang Sửng Sốt với ba gian rộng và hàng trăm nhũ đá, măng đá đủ mọi hình dạng kích thước. Đứng ở cửa hang, bạn có thể nhìn thấy toàn cảnh Vịnh Hạ Long, một khung cảnh hùng vĩ tráng lệ mà không phải nơi nào trên thế giới cũng có được.

 

Trước khi mặt trời lặn, tàu của chúng tôi dừng lại ở đảo Titop – một hòn đảo nhỏ với bãi tắm khá đẹp. Không chỉ vậy, những khách du lịch đủ kiên nhẫn để leo lên đỉnh ngọn núi trên đảo sẽ không phải hối hận bởi cảnh tượng nhìn thấy. Xung quanh chúng tôi là mênh mông trời nước, với một màu xanh chủ đạo bao trùm, đan xen một vài cánh chim trên mặt biển. Mọi thứ vẽ nên một bức tranh thật hoàn hảo. Khi mặt trời bắt đầu khuất dần, chúng tôi dành thời gian nằm trên boong tàu ngắm mặt trời lặn, một trải nghiệm không thể nào quên.

 

Nếu được chọn một địa điểm để quay lại nếu có dịp đến Việt Nam lần nữa, tôi nghĩ mình sẽ chọn Vịnh Hạ Long. Có lẽ tôi sẽ dành thêm một vài đêm trên vịnh, tìm kiếm cảm giác bình yên tĩnh lặng, tránh xa cuộc sống ồn ào bận rộn bên ngoài.

 

Nacho Morejón Guerrero (Lạc Dung dịch)

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Những sắc hoa rực rỡ trên Cao nguyên đá

Hoa cúc, hoa rau dền, hoa vông vang… mùa này rộ nở trên cao nguyên đá, làm thức dậy những vẻ đẹp ẩn sâu của một Hà Giang chưa bao giờ xưa cũ.

Hà Giang chớm đông không chỉ mơ màng trong sắc hồng của loài hoa tam giác mạch mà còn để lại những cảm xúc bâng khuâng khó tả cùng những loài hoa muôn sắc trên khắp nẻo lối. Để rồi, người lữ thứ phương xa nếu đã trót phải lòng xứ sở của đá nở hoa đến đây chỉ muốn lạc lối về.

 

 

Đi qua những mùa hoa trên cung đường vòng vèo, quanh co của mảnh đất địa đầu Tổ Quốc, những sắc hoa ven đường làm hành trình trở nên ngắn lại, tâm hồn người lữ thứ như trở nên rộng mở, thăng hoa hơn. Những sắc hoa rực rỡ khắp núi rừng đẹp như nụ cười đôn hậu của con người nơi đây, như một thứ men tình ấm áp, dễ làm say lòng người.

 

Vì lẽ đó mà những vần thơ lai láng về loài hoa này được du khách để lại: “Tôi sẽ trở về trong nỗi nhớ lang thang/ Làm cánh bướm đậu vàng bông hoa cúc/ Để gởi tặng em một làn hương hiền thục/ Có nồng nàn và cả những bâng khuâng”.

 

Hà Giang tháng 11 tặng những vị khách ghé thăm vẻ đẹp nên thơ được dệt nên từ những cảnh vật bình dị, thân thương nhất.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Khám phá thành Sơn phòng Hàm Nghi

Một buổi chiều cuối thu, tôi lang thang bên thành Sơn phòng Hàm Nghi, thuộc xã Phú Gia, huyện Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh).

Sân đền Hàm Nghi rộng thênh thang, phủ nét rêu phong. Dưới tán cây cổ thụ, những đứa trẻ chơi trò kéo co, một vài cụ già ngồi mơ màng, hoài niệm. Trong cảnh yên bình ấy, tôi được nghe các cụ kể lại chuyện triều đình nhà Nguyễn xưa kia xây thành Sơn phòng Hàm Nghi, một dấu tích về nghệ thuật quân sự tài ba, thiên biến vạn hóa của cha ông ta trong phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX.

 

 

Cố đạo Vũ Đình Hiền, 74 tuổi, người đang trông coi báu vật vua Hàm Nghi trầm ngâm kể lại: “Thành Sơn phòng Hàm Nghi xưa kia là căn cứ địa phòng thủ trọng yếu nằm dọc theo đại ngàn Trường Sơn, giáp biên giới Việt-Lào. Năm Giáp Thân, niên hiệu Kiến Phúc thứ nhất, cũng là năm Hàm Nghi lên ngôi (1884), do Phòng thần trù tính, tâu xin triều đình cho đắp thêm thành Sơn phòng. Công trình do Thượng thư Tôn Thất Thuyết bí mật cho xây dựng trong 2 năm. Tòa thành được xây dựng hết sức công phu với sự đóng góp nhân lực, vật lực của gần 40 xã thuộc các huyện: Hương Khê, Hương Sơn, Đức Thọ, Hồng Lĩnh… của tỉnh Hà Tĩnh”.

 

Theo hồ sơ di tích của Bảo tàng Hà Tĩnh (lập tháng 5-2000), thành Sơn phòng Hàm Nghi được đắp theo hình chữ nhật với tổng diện tích 4.200m2, chiều rộng 200m, chiều dài 210m. Thành được đắp cao 2,2m, chân thành 9m, mặt thành 7m, cách chân thành 5m là hào. Hào bao bọc lấy thành (gọi là Kim Thủy hồ) rộng 5,5m, sâu 1,7m. Thành xây hướng Nam, bốn cạnh theo hướng Đông Nam-Tây Bắc, chính giữa bốn cạnh thành xây bốn cổng đối diện nhau, mỗi cổng rộng 8m, cổng chính rộng 8,5m. Tại bốn góc thành có bốn ụ đất đặt súng thần công. Thành ngoại là một vòng khép kín được đắp nối với nhau, tạo dáng như một hình thang. Tại bốn góc phía trong và ngoài thành, đắp bốn ụ đất nhô ra ngoài là bốn ụ súng. Hào thành là đường giao thông thủy quan trọng, nối liền các khu vực trong thành, và cũng là con đường rút lui ra sông Tiêm để vào rừng núi khi có nguy biến. Theo ông Lê Xuân Sang, thành Sơn phòng Hàm Nghi được xây dựng hết sức công phu, cho thấy một nghệ thuật bài binh bố trận tài ba của quân ta xưa kia.

 

Thành Sơn phòng Hàm Nghi được triều đình nhà Nguyễn lựa chọn làm căn cứ đại bản doanh để luyện tập quân sự. Cũng chính nơi đây, vua Hàm Nghi từ kinh thành Huế ra cùng với các tướng lĩnh, văn thân, sĩ phu yêu nước như: Phan Đình Phùng, Lê Ninh, Đinh Công Tráng, Tôn Thất Đạm… trực tiếp lãnh đạo phong trào Cần Vương, tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong quãng thời gian 3 năm (1885-1888). Năm 2001, thành Sơn phòng Hàm Nghi, đền Công Đồng và miếu Trầm Lâm (xã Phú Gia, huyện Hương Khê) được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia. Hiện nay thành Sơn phòng Hàm Nghi đã được tu bổ, tôn tạo, nhằm khôi phục, tái hiện lại toàn vẹn hình dáng sơ khai vốn có khi xưa, phục vụ nhu cầu tham quan, tìm hiểu lịch sử truyền thống của nhân dân và du khách bốn phương.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Thăm Bạch Dinh, nhớ trận địa pháo cổ

Từ thành phố mang tên Bác, chúng tôi vượt 100 cây số về hướng đông, mất 1 tiếng rưỡi, theo con lộ cao tốc láng nhựa phẳng lỳ thì đến thành phố Vũng Tàu. Chúng tôi quyết định điểm đến đầu tiên là Bạch Dinh nổi tiếng, trên đường Trần Phú.

Khẩu thần công có từ thời nhà Nguyễn

 

Đường lên Bạch Dinh có 2 lối: Một đường lát đá chống trơn uốn lượn chạy dưới cây giá tỵ, dành cho ô tô lên tới tiền sảnh. Chúng tôi chọn con đường đi bộ, leo qua 146 bậc tam cấp, mát, thơ mộng, kín đáo nằm giữa hai hàng sứ cao niên. Bạch Dinh nằm ở phía nam núi Lớn, có hướng nhìn ra Bãi Trước, sơn màu trắng bên ngoài nên được gọi là Bạch Dinh. Tiếng Pháp là Vila Blanche. Nhưng Bạch Dinh còn có một tên nữa gắn liền với một câu chuyện lịch sử. Đây là nơi thực dân Pháp bắt nhà vua yêu nước Thành Thái (Bửu Lân,  1889 – 1954) giam lỏng suốt hơn 10 năm trời, từ năm 1906 đến 1917, trước khi đầy biệt xứ, cùng với người con trai là nhà vua Duy Tân tại đảo Resunion. Do đó người dân địa phương quen gọi là dinh Ông Tượng để bày tỏ lòng kính trọng nhớ về ông vua yêu nước.

Bạch Dinh được xây dựng theo kiến trúc châu Âu, họa tiết Hy Lạp tinh tế. Đề án do đích thân Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer phê chuẩn, chính ông ta đặt theo tên cô con gái là Blanche Richel Doumer, để tặng cho người vợ của mình. Phải mất 4 năm (1898- 1902), Bạch Dinh mới hoàn thành. 

Bạch Dinh tọa lạc trên một khuôn viên rộng 6ha, gồm một khối nhà 3 tầng cao 19m, dài 28m, rộng 15m, mái lợp ngói đỏ tươi. Nhìn từ ngoài vào ta thấy phía dưới là mảng viền trang trí tinh tế, mỹ thuật. Sứ men màu là nguyên liệu chính tạo hình ảnh. Đôi chim công màu xanh ngọc, điểm xuyết những chấm bạc lấp lánh đang xòe cánh múa làm cho ngôi nhà mang dáng dấp thanh thoát. Những gương mặt phụ nữ châu Âu xinh đẹp như các nữ thần trong thần thoại Hy Lạp. Đôi cá chép uốn lượn như muốn hóa rồng. Hoa cúc, hoa hướng dương viền từng mảng quanh ngôi nhà lấp lánh dưới ánh ban mai, vàng rực rỡ trong nắng làm nền cho màu trắng Bạch Dinh thêm lộng lẫy. Nội thất trang trí tỷ mỷ, kỹ lưỡng. Tầng hầm dùng cho việc nấu nướng. Tầng trệt được dùng làm phòng khánh tiết bày nhiều hiện vật cổ như song bình bách điểu chầu phụng. Bộ tràng kỷ Hoàng gia ghi niên đại Khải Định năm 1921. Cặp ngà voi châu Phi dài 170cm. Bộ tam đa ngũ thái Phúc- Lộc- Thọ. Bao quanh 3 mặt chính tòa nhà là 8 bức tượng bán thân mang phong cách Hy Lạp cổ, gắn trên một đường thẳng tạo nên vẻ sang trọng, tráng lệ của tòa nhà. Tầng 3 của Bạch Dinh là nơi trưng bày nhiều hiện vật giá trị như đồ gốm thời Khang Hy vớt được từ xác tàu cổ đắm tại vùng Hòn Cau – Côn Đảo. Súng thần công, cùng hiện vật giá trị khác được tìm thấy qua những đợt khai quật khảo cổ ở Bà Rịa – Vũng Tàu.


Vùng bờ biển Vũng Tàu có 5 ngọn núi: núi Lớn, núi Long Sơn, núi Nhỏ, núi Long Hải, núi Dinh tạo thành một vòng cung ôm ấp trời xanh, biển biếc. Các nhà Hàng hải Bồ Đào Nha, trên đường đi tìm đất mới giao thương buôn bán từ thế kỷ thứ XVI, đã nhận ra đây là vùng đất thuận tiện giao thương buôn bán, giàu tài nguyên và có vị trí quan trọng về quân sự. Tại vị trí đất nhô ra biển thuộc địa phận núi Lớn, năm 1788, Hoàng đế Minh Mạng đã cho xây dựng kiên cố cụm pháo đài Phước Thắng để kiểm soát cửa biển Cần Giờ. Ba khẩu súng thần công trong ngày lịch sử 10-2-1859 đã lập chiến công hiển hách, bắn chìm nhiều tàu chiến của giặc Pháp. Sau khi chiếm được quyền cai trị Đông Dương, chính quyền thực dân Pháp đã san bằng pháo đài, huy động 800 tù khổ sai, ép buộc họ khai phá, kiến tạo nên Bạch Dinh làm nơi ăn chơi, nghỉ mát cho Toàn quyền Đông Dương.

Trước sân Bạch Dinh vẫn còn nguyên đó 2 khẩu đại bác và 10 khẩu thần công có xuất xứ từ Pháp và Italia thế kỷ thứ X, hiên ngang chĩa nòng ra biển như một thông điệp không lời tới du khách, nơi đây từng là trận địa pháo, cha ông ta đã chiến thắng thực dân xâm lược.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

TIN MỚI NHẤT