Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Chư Đăng Ya rực rỡ mùa hoa dã quỳ

Giữa tháng 11, các cung đường, núi đồi ở Tây Nguyên đang rực rỡ màu vàng của hoa dã quỳ, báo hiệu mùa khô đã bắt đầu.

 

Đây là thời điểm lý tưởng cho những ai yêu thiên nhiên, thích khám phá, ưa tìm kiếm những nét đẹp hoang sơ, tinh khiết và quyến rũ của vùng đất đại ngàn.

 

Phố núi Pleiku (Gia Lai) và các vùng phụ cận là nơi tập hợp nhiều ngọn núi lửa, mỗi ngọn núi lửa mang trên mình những sắc thái rất riêng, tạo thành những cảnh quan đặc sắc. Chư Đăng Ya, ngọn núi lửa nằm cách trung tâm phố núi chừng 30km theo hướng Đông Bắc, thuộc làng Plơi Iagri, xã Chư Đăng Ya, huyện Chư Păh là một trong số những cảnh quan đặc sắc đó, nhưng còn ít người biết tới.

 

Chư Đăng Ya, theo tiếng của đồng bào J’rai nghĩa là củ gừng dại, một ngọn núi lửa đã ngưng hoạt động hàng triệu năm, với miệng núi hình phễu đặc trưng. Núi lửa Chư Đăng Ya ẩn mình giữa bốn bề núi non trùng điệp, âm thầm, lặng lẽ nhưng tràn đầy sức sống và đầy mê hoặc.

 

Dấu tích của nham thạch qua hàng triệu năm để lại cho Chư Đăng Ya là một vùng đất đỏ bazan màu mỡ, trù phú. Nơi đây, thời Pháp thuộc từng là đồn điền cà phê bạt ngàn với chất lượng tuyệt hảo, nhưng hiện nay, là nơi người dân trong vùng canh tác các loại cây trồng ngắn ngày như ngô, khoai, dong riềng, bí đỏ.

 

Những cây trồng ở đây, cả 4 mùa trong năm xanh tốt mà không cần tưới nước. Do đó, Chư Đăng Ya ẩn chứa trong mình những vẻ đẹp rất đỗi đời thường của những vạt ngô, luống khoai hay từng đám dong riềng, đi kèm với đó, cũng là điểm nhấn cho ngọn núi là sự hòa quyện của những loài hoa, cỏ dại và mỗi mùa, ngọn núi sẽ có những nét đẹp riêng.

 

Khi đến với Chư Đăng Ya du khách sẽ được trải nghiệm cảm giác yên ả, thanh bình của khung cảnh thiên nhiên hoang sơ đậm chất Tây Nguyên. Thời điểm này, men theo những ngả đường lên Chư Đăng Ya, hoa cúc quỳ đang nở vàng rực, tạo thành màu chủ đạo và là điểm nhấn ấn tượng cho cả ngọn núi lửa những tháng đầu mùa khô.

 

Trong chuyến leo núi Chư Đăng Ya gần đây, người bạn đi cùng chúng tôi phải thốt lên rằng “Đây đúng là thiên đường của hoa dã quỳ Tây Nguyên”. Quả không sai khi coi Chư Đăng Ya là thiên đường của dã quỳ, bởi ít có nơi nào hoa dã quỳ mọc nhiều, mọc xanh tốt và đồng loạt nở hoa đẹp ở như ở Chư Đăng Ya. Cũng ít có nơi nào lý tưởng để chiêm ngưỡng, khám phá vẻ đẹp hoang dại, thuần khiết với đủ sắc thái của sự hòa quyện như nơi đây.

 

Đến với Chư Đăng Ya, khám phá ngọn núi còn hoang sơ này, du khách sẽ thỏa sức chiêm ngưỡng và sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật, bởi mỗi đoạn đường là một khung cảnh mới, một tầm nhìn mới, điều thú vị mới. Ở trên đỉnh núi, du khách sẽ trải nghiệm một cảm giác khoan khoái, yên ả, hiền hòa, nơi chỉ có cỏ, cây, hoa, lá, dưới chân là một vùng bình nguyên xanh thẳm và xa thẳm.

 

Chư Đăng Ya thực sự là nơi lý tưởng cho những ai yêu thiên nhiên, thích khám phá, ưa tìm kiếm những vẻ đẹp hoang sơ, thuần khiết và quyến rũ của vùng đất Tây Nguyên đại ngàn. Có thể nói, đây là nơi lột tả một cách chân thực nhất hồn của bài hát “Bình nguyên xa vắng” của Nhạc sĩ Trần Tiến: “Gió núi hoang vu về, nước suối mênh mang tràn, hoa quỳ trong nắng vàng. Lãng đãng sương giăng hôn, mái tóc hương đêm buồn, quê nhà tôi thương nhớ. Thấp thoáng trong sương mờ, váy cuốn hoa văn đỏ, em về bên núi chờ, nhớ ánh trăng bên thềm, chếnh choáng men say tình…”./.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đền Bách Thần (Tuyên Quang) – Điểm đến hấp dẫn

Đến huyện Chiêm Hoá, bên cạnh những danh lam thắng cảnh, khu di tích lịch sử như Thác Bản Ba, khu di tích lịch sử Kim Bình, du khách còn được biết đến các ngôi đền, ngôi chùa lớn như Chùa Bảo Ninh Sùng Phúc, đền Bách Thần, mỗi danh lam thắng cảnh của mảnh đất Chiêm Hoá đều mang đậm bản sắc riêng của đất và người.

Theo những người cao niên ở huyện Chiêm Hóa, đền Bách Thần rất linh thiêng đối với cuộc sống của dân bản địa. Đây là đền thờ trăm vị thần, là các anh hùng dân tộc, người có công với địa phương… Đền Bách Thần còn thờ Tam Quang là mặt trời, mặt trăng, các vì sao, đem đến sự sống cho con người.

 

 

Đền Bách Thần được xây dựng trên sườn núi Bách Thần, thị trấn Vĩnh Lộc do nhân dân và du khách thập phương đóng góp, công đức xây dựng đền. Đền Bách Thần như một nét chấm phá giữa đại ngàn. Tọa lạc ở lưng chừng núi với khí hậu mát mẻ, mùa hè, khách thập phương đứng tại đền có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh thị trấn Vĩnh Lộc với dòng sông Gâm xanh trong.

 

Đền Bách Thần gắn liền với Lễ hội Lồng tông của nhân dân các dân tộc huyện Chiêm Hóa. Hàng năm, ngày 8 tháng Giêng âm lịch, huyện Chiêm Hóa tổ chức Lễ hội Lồng tông (lễ hội xuống đồng). Đây cũng là ngày đại lễ của đền. Người dân mang những sản phẩm nông nghiệp (lúa, đậu, đỗ…) mà họ thu hoạch được trong năm, bọc trong những quả còn với tua rua ngũ sắc mang dâng cúng tại Đền cùng với các lễ vật khác, báo ơn các vị thánh thần đã ban cho vụ mùa bội thu. Đã từ lâu, đền Bách Thần có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của bà con nhân dân các dân tộc nơi đây.

 

Với sự linh thiêng, phong cảnh hữu tình, đền Bách Thần huyện Chiêm Hóa sẽ là điểm đến của du khách thập phương trong những tour du lịch tâm linh. Trong tương lai, nơi đây sẽ hình thành tour du lịch với các điểm du lịch ở huyện Chiêm Hóa: Khu di tích lịch sử Kim Bình, thác Bản Ba xã Trung Hà, đền Đầm Hồng xã Ngọc Hội… và là điểm dừng chân lý tưởng trong cuộc hành trình khám phá những danh thắng của huyện Chiêm Hóa./.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Trải nghiệm một ngày ở Đà Nẵng

Được đánh giá là nơi đáng sống nhất Việt Nam, Đà Nẵng không thắng cảnh vẫn đầy sức hấp dẫn. Bạn có thể đến nhiều lần mà không chán, có khi chỉ loanh quanh trong phố, dạo biển, uống cà phê vỉa hè, thưởng thức những món quà vặt trong hẻm nhỏ.

Bên cạnh những thắng cảnh nổi tiếng, điều khiến du khách quay lại Đà Nẵng nhiều lần chính là nhịp sống thân thiện nơi đây. Đến Đà Nẵng, có 3 điều bạn nên trải nghiệm là dạo biển, uống cà phê vỉa hè và thưởng thức những món quà vặt trong hẻm nhỏ.

 

 

Những khu làng chài thân thiện

 

Có một nơi chỉ đến một lần rồi thôi. Nhưng với Đà Nẵng, chúng ta biết rằng khi đã đến mình sẽ còn phải quay trở lại rất nhiều lần.

 

Đà Nẵng sở hữu một trong những bãi biển đẹp nhất hành tinh – Mỹ Khê. Và chắc chắn, Đà Nẵng còn sở hữu những bãi biển dễ thương nhất trong những nơi tôi từng ghé qua, với những ngư dân dễ mến. Bạn có thể đến đó, dạo quanh những bãi cát trắng mịn, khám phá cuộc sống bình dị nơi làng chài. Những chiếc thuyền thúng trên đó ghi tên chủ thuyền hoặc số điện thoại của chủ nhân, đó chỉ là cách phân biệt những chiếc thuyền với nhau, còn lại ở đây chẳng lo mất cắp.

 

Đều đặn sáng hoặc chiều, tùy theo thời tiết và con nước, những người đàn ông trên bãi biển Sơn Trà kéo lưới ngay gần bờ. Một người đàn ông tên Tuấn 30 tuổi giảng giải cho tôi cụ thể phải thu lưới như thế nào, cách thức những ngư dân chèo những chiếc thuyền thúng ra sao.

 

Những ngày mát trời, bạn có thể phóng xe máy trên đường bao biển, con đường dẫn tới chùa Linh Ứng đẹp như trong tranh với một bên là nhà, một bên là biển xanh sóng xô trắng xóa, trước mặt là núi xanh, mây trắng bồng bềnh. Lên đến sát chân chùa Linh Ứng, dừng xe lại, phóng tầm mắt, thấy choáng ngợp trước một Bãi Bụt thênh thang, lộng gió.

 

Một sáng thức dậy, chạy một vòng quanh đường bao biển, thích thú nhìn người ta cho chim bồ câu ăn rồi khám phá cuộc sống của những ngư dân Đà Nẵng, hít căng lồng ngực mùi gió biển mặn mòi… có lẽ là một lịch trình thú vị để hiểu hơn về thành phố đáng sống nhất Việt Nam này.

 

 

Những quán cà phê vỉa hè dễ thương

 

Đến Đà Nẵng, có hai điều bạn cũng chớ nên bỏ qua: tìm đồ ăn vặt trong hẻm và uống cà phê cóc. Đà Nẵng có những ly cà phê có giá vài trăm ngàn đồng, trong những quán cà phê ca nhạc có mời ca sĩ về hát trong đêm. Đà Nẵng cũng có những ly cà phê giá cả trăm ngàn đồng trên những quán cà phê cao ốc có hồ bơi nhân tạo cao nhất Việt Nam, phóng tầm mắt ra bãi biển thơ mộng. Nhưng Đà Nẵng cũng có những quán cà phê cóc xinh xắn trên phố, người phục vụ cực kỳ dễ thương còn cà phê thì cực rẻ.

 

Những ly cà phê trong những quán cà phê trên phố với những chiếc ghế gỗ nho nhỏ, thâm thấp đặc trưng chỉ có giá 6.000 đồng đến 7.000 đồng. Trong một trưa Đà Nẵng mưa tầm tã, chúng ta dừng ở một quán nước ven biển Phạm Văn Đồng, uống 2 ly cà phê sữa đậm đà, nhìn mưa rơi xiên ngang những rặng dừa trước mặt, lúc thanh toán mới ngớ người ra là chỉ có 4.000 đồng một ly.

 

Những món quà vặt ăn là ghiền

 

Nếu nói riêng về đồ ăn vặt, Đà Nẵng đủ sức thu hút những cô nàng mê du lịch và khám phá những món ăn. Ngoài mì Quảng, bún mắm, bánh tráng thịt heo, thiên đường các đồ ăn vặt của Đà Nẵng nằm lắt léo trong những con hẻm nhỏ, và thường bán nhiều vào tầm xế chiều trở đi. Riêng chợ Cồn đã là một địa chỉ ẩm thực khó có thể bỏ qua trên hành trình đi tìm một Đà Nẵng của riêng mỗi người.

 

Mít trộn, bánh tráng trộn, nộm bò khô, bánh bèo, bánh da heo, bánh tằm, chè chuối nướng, chè bắp, chè xoa xoa, bánh chuối chiên… những món ngon mê người với giá cực rẻ, ăn ngon ngây ngất./

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Về thăm xứ lụa Tân Châu

Nhắc đến nghề dệt lụa, có lẽ người ta nghĩ ngay tới lụa Vạn Phúc (hay còn gọi là lụa Hà Đông), nhưng ít ai biết được rằng, ở vùng đất phương Nam cũng có làng ươm tơ dệt lụa thành danh, nổi tiếng lâu đời với sản phẩm lụa Tân Châu.

 

Mỹ danh “lụa Tân Châu” như cô gái nết na, đài các, là niềm tự hào của vùng đất An Giang, đã đi vào văn chương, lên sàn diễn.


“Trai nào thanh bằng trai sông Của
Gái nào thảo bằng gái Tân Châu
Tháng ngày dệt lụa trồng dâu
Thờ cha, nuôi mẹ quản đâu nhọc nhằn”


Những vần thơ khắc khoải gợi cho chúng ta nhớ về một thời gian dài hơn trăm năm vang danh, được ví như thời hoàng kim của thiên đường tơ lụa Tân Châu. Cũng chính nơi đây đã sáng tạo nên lãnh Mỹ A nổi tiếng. Vì thế mà trước kia, chị em phụ nữ nào có được bộ đồ may bằng lãnh Mỹ A thì thật là sang trọng, ngay cả vải “xá xị Xiêm” – một loại lụa Thái Lan nức tiếng cũng không thể sánh được. Không những thế, có những thời điểm lụa Tân Châu còn xuất hiện ở Ấn Độ, Singapore, Philipinnes…và rất được giới thượng lưu, hoàng tộc ưa chuộng.


Dân gian còn lưu truyền câu ca “Bên nàng mặc lãnh Mỹ A/Đưa đò sang chợ, tưởng xa hóa gần”. Có cô gái mặc lãnh Mỹ A ngồi gần khiến anh lái đò cảm thấy dòng sông như ngắn lại. Điều đó ngụ ý rằng “người đẹp vì lụa”, mà đặc biệt là lụa Tân Châu lại càng tôn lên nét duyên dáng của người phụ nữ.


Ở vùng đất An Giang, người ta trồng dâu từ những bãi đất cát pha ven sông vào sâu trong đồng ruộng. Cả một triền đất trải dài là một màu xanh bất tận, nối tiếp từ làng này qua làng khác. Có những năm, ruộng dâu trồng đến hơn 10.000 hecta, trải dài từ Tân Châu, Chợ Mới đến tận biên giới Campuchia mới đủ cung cấp cho tằm ăn. Điều đặc biệt là khi hái dâu để nuôi tằm, người dân không hái từng lá mà chặt sát gốc, sau đó gom thành từng bó lớn rồi chở về.


Từ khi bắt đầu nuôi tới lúc “tằm ăn lên” là cả một giai đoạn chăm sóc tỉ mỉ, kỳ công của người dân bởi gần như lúc nào họ cũng phải túc trực bên nong và bộ ván xắt dâu. Cho tới khi tằm chín mọng, kết lại thành những kén vàng ươm, người ta mới đưa lên “bủa” giăng tơ. Có thể nói, làng dệt lúc này bỗng trở nên đẹp và lung linh hơn cả. Dưới ánh nắng mặt trời, nhà nhà vàng óng những bủa tơ…

 

Sau khi ươm tơ, người ta tháo tơ thô từ các bó để se lại thành sợi to rồi dệt lại thành những tấm lụa. Thời kỳ đầu của nghề ươm tơ, dệt lụa ở Tân Châu, người ta dệt lụa theo khung dệt cổ. Khổ vải dệt ra chỉ rộng khoảng bốn tấc, khi may quần áo phải nối vải nên không đẹp. Dần dần, làng nghề tạo ra khung dệt khổ 8 tấc, rồi 9 tấc, đồng thời nghiên cứu làm cho lụa đẹp hơn, bền hơn với nhiều hoa văn tinh xảo như: cẩm tự, hoa dâu, hoa cúc, mặt võng, mặt đệm…


Lụa được dệt xong sẽ nhuộm màu bằng trái mặc nưa. Đây là kỹ thuật phát kiến độc đáo nhất của người làng nghề xưa làm cho lụa Tân Châu đen tuyền, óng ả. Nhưng cho đến bây giờ, không ai biết chính xác người nào đã tìm ra cách nhuộm này. Chỉ biết rằng hồi đó, mỗi năm người làng nghề phải qua Campuchia mua hàng trăm tấn trái mặc nưa mới đủ dùng. Sau này, người Việt trồng thử thấy được nên trồng nhiều đến ngày nay.


Cây mặc nưa là loại cây gỗ có màu đen, lá mỏng, chùm quả tròn trĩnh gần giống như quả nhãn. Quả mặc nưa sau khi thu hái được phân loại lớn nhỏ khác nhau. Thông thường người ta sẽ chọn quả to và xanh, loại bỏ những quả chín vì không còn nhựa nữa. Sau đó đem giã nát bằng cối đá hoặc nghiền bằng máy và hoà vào nước tạo thành dung dịch có màu vàng sánh rất đẹp, khi tiếp xúc với không khí và nhiệt độ, màu này sẽ chuyển sang màu đen. Trung bình, để nhuộm một cây lụa 10m phải cần 50kg trái mặc nưa. Vì thế, có thể nói, nguyên liệu dùng để nhuộm lụa Tân Châu hoàn toàn là nguyên liệu tự nhiên, không hề có phẩm màu hay hóa chất.

 

Công đoạn nhuộm lụa được xem là quan trọng và kỳ công bởi lụa không chỉ nhúng một lần mà thậm chí phải nhúng hàng trăm lần để từng sợi tơ được thấm sâu, thấm đều, sau đó mang ra phơi. Khi phơi phải xem trời nắng tốt để phơi được 4 nắng. Quá trình vừa nhúng, vừa phơi, lụa phơi hàng hàng, trải dài trên mặt đất trông rất đẹp và vui mắt. Thời gian nhuộm và phơi mất khoảng 40 – 45 ngày. Thành quả làm ra là những thước lụa tuyệt đẹp, lóng lánh một màu đen đặc biệt.


Nét nổi tiếng và độc đáo riêng của lụa Tân Châu chính là sự mềm mại, dai, bền và hút ẩm cao. Các trang phục may từ lụa Tân Châu đều mang đến cho người mặc cảm giác thoải mái, thoáng mát vào mùa hè, ấm áp về mùa đông. Vì vậy, thật xứng danh khi được mọi người gọi lụa Tân Châu là “Nữ hoàng” của các loại tơ.


Do phải mất nhiều thời gian và công sức để làm ra những thước lụa Tân Châu nên giá cả của một thước lụa cũng khá đắt. Chính vì vậy, vào khoảng những năm 60, sản phẩm này dường như không thích hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước, hơn nữa, do màu sắc còn đơn điệu nên cũng rất “kén” thị trường nước ngoài, từ đó nghề làm lụa truyền thống cũng dần bị mai một.

 

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, với xu thế thời trang hướng đến những sản phẩm có chất lượng cao mang dấu ấn dân tộc nên lụa Tân Châu đã bước đầu được khôi phục và tìm được chỗ đứng xứng đáng cho mình. Bên cạnh màu đen truyền thống do nguyên liệu nhuộm tự nhiên của quả mặc nưa, những người sản xuất lụa Tân Châu còn tìm kiếm những kỹ thuật nhuộm nhiều màu khác nhau nhằm phục vụ nhu cầu ngày một đa dạng của du khách. So với thập niên 50, 60 thì sản lượng lụa làm ra còn kém xa, nhưng chất lượng tơ lụa thì đã ngang tầm với những quốc gia có ngành tơ lụa phát triển. Đây chính là cơ hội quý báu để một làng nghề vốn nổi tiếng đã lặng im từ lâu có thể khôi phục lại như thời vàng son trước kia. Để làng lụa Tân Châu hôm nay lại tiếp tục một cuộc hành trình mới của những sáng tạo nghệ thuật, của những giá trị truyền đời và một sinh khí lao động mới với đầy những tiếng cười vui lại vang lên trên những nương dâu ngút ngàn dường như vô tận, với tiếng khung cửi ngày đêm lại vang lên như bản hòa tấu được cất lên từ những đôi tay tài hoa của người thợ dệt.


Lụa Tân Châu là một sản phẩm thuần Việt, đậm đà tính dân tộc và là niềm tự hào của người Việt. Nghề dệt truyền thống Tân Châu đang sống lại, đó là hạnh phúc lớn đối với những người dân An Giang. Nhưng phải giữ cho được những tấm lụa như thế, đừng để mai mốt lãnh Mỹ A chỉ còn trong ký ức.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đảo Ngọc Xanh – Khu du lịch trọng điểm của vùng đất Tổ

Mặc dù mới đi vào hoạt động được hơn một năm nhưng Đảo Ngọc Xanh (thuộc thị trấn Thanh Thủy – Phú Thọ) đã đón hàng trăm ngàn lượt khách đến tham quan, vui chơi giải trí và trở thành một trong những khu du lịch sinh thái trọng điểm của vùng đất Tổ.

Khu du lịch Đảo Ngọc Xanh được hình thành từ vùng bãi nổi, nhiều đời nay người dân chỉ sử dụng để trồng ngô, đậu, lạc và chăn thả trâu bò, hiệu quả kinh tế thấp. Nhưng bù lại bãi nổi này lại nằm trong vùng có trữ lượng khoáng nóng tốt nhất cả nước. Từ lâu người dân 2 xã Thuần Mỹ – Ba Vì, La Phù – Phú Thọ đều khai thác nhưng ở mức nhỏ lẻ.

 


 Để tận dụng được triệt để nguồn tài nguyên quý và quy hoạch vùng bãi nổi thành khu du lịch trọng điểm đem lại hiệu quả kinh tế cao của vùng, tỉnh Phú Thọ đã giao cho Công ty CP Ao Vua thực hiện dự án đưa vùng bãi nổi trở thành khu du lịch trọng điểm, góp phần thúc đẩy kinh tế du lịch tỉnh Phú Thọ phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, khai thác tối đa tiềm năng du lịch miền đất Tổ. Tháng 4/2013, Công ty CP Ao Vua đã đưa khu du lịch Đảo Ngọc Xanh vào hoạt động giai đoạn 1, trở thành một địa chỉ nghỉ dưỡng hấp dẫn của du khách trên địa bàn thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận.

 

Với nguồn nước khoáng nóng dồi dào, Đảo Ngọc Xanh có đầy đủ các dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng: như khu vui chơi giải trí cảm giác mạnh, khu vui chơi giải trí ngoài trời, công viên nước, vườn tượng thú, thảo nguyên hoang dã, khu tắm nước khoáng nóng, khu khách sạn tương đương 3 sao với 120 phòng, trung tâm hội nghị, nhà hàng ẩm thực, khu spa, karaoke club, sân tập golf mini, sân tennis…đã trở thành khu du lịch hấp dẫn bậc nhất của tỉnh Phú Thọ.

 

Dự án Đảo Ngọc Xanh được xây dựng đã mang tới cơ hội việc làm cho hàng ngàn lao động tại địa phương. Mức tiêu thụ nông sản, đặc sản tại địa phương như: gà đồi, cá sông, lợn… tăng mạnh. Điều đáng nói, khu du lịch đi vào hoạt động đã góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của chính quyền, nhân dân địa phương về du lịch cộng đồng, du lịch có trách nhiệm, phát triển lực lượng lao động có kĩ năng tại địa phương. Nhờ vậy, đời sống của nhân dân thay đổi rõ nét. Hiện thu nhập bình quân đầu người của thị trấn đã đạt tới 27 triệu đồng/người/năm – một con số đáng mơ ước của nhiều thị trấn miền núi khó khăn.

Ông Hoàng Dân Mạc, Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ khẳng định: Khu du lịch Đảo Ngọc Xanh là dự án trọng điểm của tỉnh, là điểm xuất phát để ngành du lịch Phú Thọ tạo đà phát triển dịch vụ du lịch trong hành trình về miền đất Tổ. Trong thời gian tới, khi cầu Đồng Quang bắc qua sông Đà dài 745m cũng do Công ty CP Ao Vua làm chủ đầu tư nối liền huyện Thanh Thủy tỉnh Phú Thọ với Ba Vì – Hà Nội sẽ góp phần xây dựng vùng du lịch xanh Hà Nội và các tỉnh phụ cận. /.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Viếng thăm ngôi chùa lâu đời nhất Thăng Long – Hà Nội

Chùa Trấn Quốc khai sáng từ thời tiền Lý Nam Đế, thế kỷ thứ 6 (541-548). Lúc đầu gọi là chùa Khai Quốc, xây dựng tại bến sông Hồng địa phận làng Yên Hoa (Phường Yên Phụ).

 

Năm 1440 đổi hiệu là chùa An Quốc. Năm 1616, niên hiệu Hoàng Định đời vua Kính Tôn, nhà Hậu Lê chuyển chùa vào bãi Cá Vàng (trước gọi tắt là bãi Rùa) thì gọi là Trấn Quốc (có chỗ nói: “tiếng Trấn Quốc đối với chùa này đã nêu lên từ thời Lý Trần, sau khi quân ta đánh thắng giặc xâm lược phương Bắc).

 

Năm 1639, chùa Trịnh sửa lại ngôi Tam quan, và xây hành lang hai bên tả, hữu. Trải qua nhiều lần trùng tu, trùng tạo cùng nhiều lần trước đây kiết hạ an cư, thành lập Tổ đình mà thành được cơ ngũ tố hảo như ngày nay. Những vị cao tăng và danh nhân thời trước, như đức Văn Phong pháp sư, Khuông Việt Thái sư, Ngô Chân Lưu, Thảo Đường, Thông Biện, Viên Học, Tịnh Không, Trần Tú Uyên và nhiều bậc Đại đức, Hòa thượng khác đều thụ giáo và tu trì ở chùa này.

 

Năm 580, vị Phạm Tăng Tỳ Ni Đa Lưu Chi từ Ấn Độ qua đây rồi đến tu trì ở chùa Pháp Vân.

 

Chùa này lại là nơi chốn tổ của phái Thiền Tào Động do vị Tịnh Trí Giác Khoan thiền sư đời Hậu Lê truyền đến, hiện nay có những tòa tháp để lại. Thời Lý (Bát Diệp), bà Thái Hậu Ỷ Lan thường mở tiệc Trai tăng và hỏi chư tăng về đạo Phật. Năm 1842, vua Thiệu Trị nhà Nguyễn đổi hiệu là chùa Trấn Bắc, nhưng nhân dân khắp nơi vẫn gọi là chùa Trấn Quốc.

 

Năm 1959, tổng thống Ấn Độ Pra – Sat sang thăm Việt Nam, thân hành mang tặng cây bồ đề lấy ở cây mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi thành đạo cách đây hơn 25 thế kỷ trồng kỷ niệm tại vườn chùa.

 

Ngày 29/11/2003, chùa tổ chức khánh thành Bảo tháp Lục độ đài sen cao 15m, có 11 tầng, tôn trí 66 pho tượng đức Phật A Di Đà bằng đá quý. Trên đỉnh tháp có một tháp sen Cửu phẩm Liên hoa tạc bằng đá.

 

Trụ trì chùa hiện nay là Hòa thượng Thích Thanh Nhã – Phó Trưởng ban Thường trực Ban Nghi lễ T.Ư GHPGVN.

 

Chùa đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1962.

 

Chùa là ngôi cổ tự đầu tiên ở Hà Nội, là ngôi danh lam bậc nhất Việt Nam. Hàng năm, chùa đón tiếp hàng vạn tăng ni, phật tử, du khách trong nước và nước ngoài đến chiêm bái.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Khám phá làng nghề thổ cẩm của đồng bào Chăm

Mỹ Nghiệp (huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận) là một làng nghề với hơn 90% dân số sống bằng nghề dệt. Đến với vùng đất thổ cẩm người Chăm ở Ninh Thuận, bạn sẽ bị cuốn hút bởi sức hấp dẫn của nơi đây.

Thuần chất thiên nhiên

 

Làng Chăm Mỹ Nghiệp, hay làng Chăm Irahani là làng nghề cổ cách thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 10km về phía Nam theo Quốc lộ 1A. Cùng với làng gốm Bàu Trúc, đây được xem là một trong những làng nghề cổ nhất Đông Nam Á. Nét độc đáo của làng nghề cổ này chính là việc người dân dệt vải theo cách thủ công truyền thống, không hề sử dụng máy móc, bảo lưu gần như nguyên vẹn các công đoạn ông bà để lại như: Chất liệu, hoa văn, bí quyết phối màu hay màu nhuộm.

 

 

Theo các cụ cao niên trong làng, nghề dệt thổ cẩm xuất hiện ở làng Mỹ Nghiệp từ rất lâu, vào thế kỷ X. Ông tổ nghề dệt là ông Sha Mú Cha Leng và bà Xa đã đến ngôi làng này. Chính ông là người đã sáng tạo nên nghề dệt thổ cẩm rồi truyền cho con cháu cho đến ngày nay.

 

Nghệ nhân Thuận Thị Trụ cho biết: “Để dệt được một tấm vải thổ cẩm phải qua nhiều công đoạn như: Tách hạt lấy bông, cuộn, ngâm dập, nhuộm, hồ, chải, đánh ống rất vất vả…”.

 

Công đoạn chọn màu đã khó, nhưng công đoạn phối màu còn khó hơn. Để tạo được những hoa văn tinh xảo, độc đáo, người thợ dệt phải có hoa tay, óc thẩm mỹ cùng sự am tường về đường nét, màu sắc, hình khối… như những họa sĩ thực thụ, có như vậy mới tạo nên sự hài hòa, cân đối cho tấm vải. Mỗi nghệ nhân lại sáng tạo theo một phong cách khác nhau, tạo nên những sản phẩm thổ cẩm Chăm vô cùng phong phú.

 

Hấp dẫn khách du lịch

 

Hiện nay làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp là một điểm đến không thể thiếu trong tất cả các tour du lịch đến Ninh Thuận. Đến thăm làng Mỹ Nghiệp, du khách sẽ thực sự bị cuốn hút bởi những tấm thổ cẩm sống động đầy màu sắc lạ, vừa chân phương, vừa mộc mạc, bởi chất liệu và cách thể hiện đường nét, hoa văn… mang đậm dấu ấn văn hóa của dân tộc Chăm.

 

Điểm độc đáo là mỗi tấm thổ cẩm đều có những nét riêng cho dù cùng được dệt bằng đôi bàn tay tài hoa của một người thợ. Song, điều khiến bạn ngạc nhiên hơn cả, đó là- nếu ở các làng nghề thổ cẩm khác, công việc chính là do các bà, các mẹ, các chị đảm nhiệm, thì ở đây hầu hết những người thợ dệt đều là thanh niên, con gái ngồi khung kéo sợi, còn con trai cắt, may thành sản phẩm.

 

Du khách được tận mắt chứng kiến những người phụ nữ Chăm cần mẫn luồn từng sợi chỉ dệt thổ cẩm, có khi mất mấy ngày mới xong một sản phẩm. Nếu muốn, bạn sẽ được chạm vào những chiếc hoa đồng có dáng tựa bầu rượu rỗng dốc ngược, được treo hai bên khung dệt, giúp người thợ đánh go tạo hoa văn khi dệt thổ cẩm.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Qua làng cổ Đường Lâm

Sẽ thiếu sót nếu ai từng theo đuổi “mùa thu phương Bắc” mà bỏ qua Làng cổ Đường Lâm – nơi cách Hà Nội chưa đầy 50km.

 

Một ngôi làng cổ kính với nhiều mái nhà ngói đỏ xưa cũ. Sẽ khá nhiều người thấy làm bất ngờ khi biết có những ngôi nhà đã hơn 300 năm tuổi. Bạn Hà Nội nói phố cổ Hội An đẹp trong từng con hẻm nhỏ dẫn về phía sông Hoài. Chúng tôi từ Quảng Nam ra Hà Nội lại thấy Đường Lâm đẹp bình yên từ cây đa đầu làng đến từng viên đá ong chạy dọc đường đi. Đến Đường Lâm từ Hà Nội, thong thả thì bằng tour xe đạp, hoặc nên chọn xe máy theo hướng đại lộ Thăng Long hoặc tuyến đường 32 đi Nhổn. Tới huyện Sơn Tây hỏi Đường Lâm thì một học sinh tiểu học cũng sẽ chỉ đường cho bạn.

 

Đường Lâm – một ngôi làng cổ kính với nhiều ngôi nhà mái đỏ xưa cũ. Những ngôi nhà này, có khi đã hơn 300 tuổi. Người Đường Lâm nói mùa đẹp nhất ở đây là mùa lúa chín tháng 9 hoặc tháng 5, vì khi đó đường làng được lót bằng rơm khô. Theo một người dân trong làng, ở đây có khoảng 100 căn nhà cổ được xây từ gỗ và đá ong có niên đại hàng trăm năm tuổi. Điều đặc biệt là tất cả ngôi nhà đều quay lưng ra đường với các bức tường đá ong, mái ngói rêu phong cổ kính. Ghé thăm một ngôi chùa, điều đầu tiên chúng tôi tò mò là những chiếc chum đậy kín đặt san sát nhau dưới những bóng cây. Các cụ bà chít khăn mỏ quạ đặc trưng miền Bắc nói ở Đường Lâm, ngoài nghề nông thuần túy còn có thêm nghề làm tương gia truyền. Muốn tương ngon phải có bí quyết và phải được ngâm ủ lâu ngày dưới bóng mát của cây. Các cụ mời du khách một ngụm chè tươi rồi bắt đầu tụ nhau trong sân chùa hóng chuyện đổi thay mỗi ngày ở làng. Cũng như quán nước chè tươi của cụ bà đối diện đình làng Mông Phụ, bà bỗng dưng nổi tiếng từ ngày du khách đến Đường Lâm ngày một đông. Bà tự tin nói: “Về đây mà không ghé quán ăn kẹo Dồi, kẹo Lạc, uống nước chè xanh của tôi là coi như chưa có biết làng cổ Đường Lâm đâu nhé”. Một điểm đáng chú ý nữa là bức tường gạch “Chú ý trẻ em” – dường như nét chữ này cứ phai đi một chút là người trong làng lại thay phiên nhau vẽ lại nguyên nét cũ. Chúng tôi có thắc mắc với cụ bà bán nước chè ở đình làng Mông Phụ tại sao nhà nào ở Đường Lâm cũng thấp hơn mặt đường. Bà nói, vì người xưa quan niệm “tụ thủy sinh tài”, khi trời mưa đến nước sẽ dẫn vào sân nhà, thế mới sinh ra tài lộc. Còn kiến trúc ở Đường Lâm là theo đường xương cá với một trục chính nên nhà trong làng này không dễ mất mát thứ gì. Người dân Đường Lâm cũng tự hào về “địa linh, nhân kiệt”, khi nơi đây là đất 2 vua – 2 vị anh hùng dân tộc là Phùng Hưng, Ngô Quyền.

 

Có một thời chưa xa, người trong làng đồng lòng ký vào đơn xin được trả lại danh hiệu làng cổ, bởi vì, theo câu chuyện của những cụ bà chúng tôi gặp trong sân chùa cuối làng, họ chỉ muốn quay trở lại những ngày xưa, Đường Lâm vẫn là Đường Lâm bình dị và êm ả. Còn phát triển du lịch, con cái họ muốn về quê cũng phải mua vé. Nhưng như một trang web giới thiệu về du lịch đã viết: “Nếu du khách đến với phố cổ Hội An để được tham quan, tìm hiểu những giá trị văn hóa đặc trưng của cuộc sống đô thị hồi thế kỷ 16 – 17 ở xứ Đàng Trong với kiến trúc đại diện cho những tầng lớp thương gia phong kiến pha trộn nền văn hóa bang giao của xứ sở Phù Tang, Pháp, Bồ Đào Nha, Trung Quốc thì khi đến với làng Việt cổ đá ong Đường Lâm, họ lại được hòa mình, được chiêm ngưỡng một “bảo tàng sống” về lối sống nông nghiệp – nông thôn Việt Nam”.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Eo Gió – Bức tranh tuyệt mỹ của thiên nhiên

Cách thành phố Quy Nhơn khoảng 20 km, Eo Gió là bức tranh tuyệt mỹ của thiên nhiên – là địa danh du lịch vẫn còn hoang sơ và chưa có nhiều người biết đến.

Trong số rất nhiều điểm đến dọc biển trên mảnh đất Quy Nhơn, Eo Gió được nhắc đến bởi vẻ đẹp nguyên sơ và hùng vĩ, nhưng không có nhiều người biết đến địa danh này và nếu không có người dẫn đường có lẽ cũng sẽ khó khăn trong việc tìm kiếm. Nằm trên địa bàn xã Nhơn Lý, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 20 km, tên gọi Eo Gió bắt nguồn từ hình dáng địa lý của khu vực này. Nếu đứng từ trên các mỏm đá xung quanh nhìn xuống du khách sẽ thấy một eo biển nhỏ được che chắn bởi hay dãy núi như một vòng tay ôm gọn bãi biển.

 


Được phát hiện từ khá lâu nhưng Eo Gió chỉ thu hút được những người ưa du lịch mạo hiểm vì cung đường đến đây khá vất vả, du khách phải băng qua đầm Thị Nại hoặc đi ghe máy từ bến Hàm Tử rồi lênh đênh trên biển mới đến được đây. Tuy nhiên, từ ngày cầu Thị Nại được xây dựng, Eo Gió với vẻ đẹp ngỡ ngàng của mình đã và đang nhanh chóng trở thành điểm tham quan mới đầy hấp dẫn của du khách..


Bao bọc gữa biển trời sóng nước mênh mông. Eo Gió được đá lởm chởm dựng như thành. Từng phiến từng phiến đổ liêu xiêu vào vách núi như đám cây mềm không chịu nổi sóng gió đại dương. Xa bờ một chút, bãi đá nhấp nhô tạo hình con cá sấu khổng lồ đang vươn mình, đầu cất cao trên sóng biếc. Người dân ở đây quen gọi con sấu đá này là hòn Mòng. Từ trên cao nhìn xuống quần thể Eo Gió xinh xắn và rất gợi cảm. Núi ôm biển, biển lượn viền theo chân núi; sóng biển vỗ dạt dào, nhè nhẹ vào vách đá tạo nên những khúc nhạc du dương. Chạy dọc theo chân núi từ tây sang đông là một bãi đá trứng lớn, nhỏ đủ màu sắc, làm cho ta tưởng tượng như có ai đó đẽo gọt, mài dũa sắp đặt một cách công phu. Lẫn vào bãi đá trứng là những phiến đá lớn như mặt bàn, nhẵn thín, có phiến to nhô ra như mái nhà giúp du khách ngồi chơi hay ngả lưng nghỉ sức khi mỗi lần dạo chơi, vãn cảnh. Cách chân núi không xa là những cụm đảo nổi trên mặt nước biển nhiều hình tượng, kiểu dáng đẹp một cách tự nhiên.

 

Xa xa ngoài khơi là những đảo nhỏ: Hòn Mồng, Hòn Cỏ, Hòn Cân… nổi trên mặt nước biển, mang dáng dấp kỳ lạ, khiến người ta liên tưởng là các chú trâu khổng lồ đang dầm mình ngụp lặn trên mặt sông trong những buổi trưa hè. Dưới chân Eo Gió có bãi “đá đẻ”. Những hòn đá to nhỏ nhiều kích cỡ nằm la liệt dưới chân sóng. Viên nào cũng tròn vo, nhẵn lì như mài. Người ta bảo bãi đá này “đẻ” thật. Vì năm nay nhặt đi, năm sau lại có nhiều như cũ. Ở đây còn có giếng Tiên. Nước từ vách đá chảy ra, trong vắt, không bao giờ cạn và ngọt lịm. Khi đến Eo Gió, nhiều người đã đến đây chơi và tắm nước giếng Tiên. Còn nước biển, nhờ bãi đá mà nước xanh màu ngọc bích. Tắm biển giữa thiên nhiên cũng là cái thú của sự ngao du giữa sơn thủy hữu tình.

 

Không chỉ được ngắm cảnh thiên nhiên, đắm mình trong nước biển mát lạnh, đến với Eo Gió, du khách còn được thưởng thức nhiều đặc sản của vùng biển Nhơn Lý như: món tôm hùm tươi sống được cho ngay vào nồi hấp, mực tươi rói hết hấp hành rồi nướng trui. Cá tà ma thứ cá có cái tên âm ti rùng rợn sống quanh gành đá biển lại đưa ta tới cõi tiên bồng vì cái vị ngọt đậm đà xen lẫn beo béo dù chẳng qua tẩm ướp bột ngọt hay bột nêm. Rồi cá mú, cá róc, cá dìa nướng…Cũng chỉ đơn giản là hấp và nướng nhưng ăn tới đâu, vị ngọt thơm thấm vào tới đấy.

 

Bởi là một điểm du lịch mới nên Eo Gió vẫn còn giữ được cho mình vẻ đẹp tự nhiên đầy hoang sơ. Đến đây vào buổi sáng sớm, du khách có thể chọn cho mình một phiến đá phẳng, thả mình trên đá và ngắm nhìn cảnh bình minh tuyệt đẹp vào sáng sớm. Trong ánh ban mai, tiếng sóng biển xô bờ hòa cùng tiếng gió tạo nên một bản hòa âm tuyệt vời đem lại sự thư thái, bình an trong lòng mỗi du khách.


Nếu đã nhàm chán với những thành phố du lịch ồn ào, náo nhiệt. Nếu mệt mỏi và cần tìm một nơi yên tĩnh để hòa mình vào thiên nhiên đất trời, để tìm lại chút thư thái, yên bình, Eo Gió là điểm đến thích hợp nhất để du khách lựa chọn.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đặc sản cơm Pồi ở buôn làng Chứt

Cũng như các dân tộc khác trong vùng, lương thực chủ yếu của đồng bào Chứt là ngô, sắn, lúa nương và các loại củ quả (chất có bột) được khai thác trong rừng và món cơm Pồi được xem như sự tổng hòa tất cả những tinh túy của các loại thực phẩm đó.

Một cách cụ thể, món cơm này là sự kết hợp của rất nhiều loại nguyên liệu được nuôi trồng ngay trong vườn nhà hay trên nương rẫy – từ ngô hạt, lúa nếp nương đến sắn củ…

 

 

Để nấu cơm Pồi, người ta phải chọn lựa nguyên liệu kỹ càng. Ngô hạt ngâm nước trong khoảng nửa ngày, vớt ra để ráo, rồi cho vào cối giã mịn; lúa nếp nương giã loại bỏ vỏ trấu rồi giã gạo mịn thành bột; sắn củ bóc vỏ, thái mỏng, ép giập, vắt kiệt nước. Khi các nguyên liệu đã chuẩn bị xong, đồng bào trộn đều nguyên liệu với một ít nước lã, muối rồi cho vào ống tre, lấy lá chuối rừng nút chặt phần miệng để giữ nhiệt cho cơm mau chín.

 

Khâu chọn ống tre cũng đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng của cơm Pồi. Để cho ống tre khỏi nứt, đồng bào Chứt dùng dao tước bỏ phần vỏ cứng bên ngoài của ống tre. Những ống tre đặt trên lửa than độ một giờ đồng hồ. Đến lúc có mùi thơm toả ra là cơm Pồi đã chín. Cách nấu này giống với cách nấu cơm lam của đồng bào một số dân tộc vùng cao phía Bắc như Thái, Dao, Mường… có khác chăng chính là ở thành phần nguyên liệu.

 

Ngoài cách nấu cơm Pồi theo dạng thức nướng than còn có một số cách nấu khác. Đó là phương thức luộc ống, bỏ các ống tre có đựng cơm Pồi vào nồi, dựng miệng ống có bịt lá chuối lên trên, đổ nước vào đun cho đến khi nào toả ra mùi thơm là cơm chín. Hoặc phương thức cách thủy tiện dụng theo lối đồ xôi bằng chõ của người Kinh đó là nguyên liệu được cho vào chiếc chõ bằng gỗ, giữa chõ đặt một tấm phên nứa, lót lá chuối rừng trước khi đổ nguyên liệu vào đồ lên.

 

“Có nhiều cách làm cơm Pồi nhưng ngày nay, người Chứt ta ưng nhất vẫn là phương thức nướng than, bởi nó đem lại cho món cơm hương vị đặc biệt nhất, vừa có vị thơm của lớp lụa tre rừng vừa có độ dẻo của gạo nếp, độ bùi của các nguyên liệu khác…” – già làng A Hui Tăng (79 tuổi ở xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa) chia sẻ.

 

Già Tăng còn kể rằng, ngày trước người Chứt thường ăn cơm Pồi với canh rau rừng, nấu với các loại cá, ốc hoặc thịt thú rừng chặt thành miếng vừa phải đem nướng hay ướp muối, cho vào ống tre vùi trong lửa than. Bây giờ thì thói quen ăn uống của bà con đã có nhiều thay đổi nên cơm Pồi cũng được ăn cùng với nhiều loại thức ăn phong phú, đa dạng hơn và người ta cũng “ngại hơn” khi cầu kỳ trong cách lựa chọn nguyên liệu để làm cơm Pồi.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

TIN MỚI NHẤT