Du lịch trong nước

Du lịch trong nước, tin tức du lịch trong nước, các tour du lịch trong nước, các địa điểm du lịch trong nước hấp dẫn được chúng tôi tổng hợp và đưa tin hàng ngày đến cho khách du lịch trên khắp mọi miền đất nước có được thông tin du lịch trong nước để có những thông tin hữu ích nhất cho mình và gia đình khi quyết định chọn chuyến du lịch trong nước cho mình và người thân

Kỳ vọng gì ở “Thành phố Nhiếp ảnh”?

Tiếp nối hành trình của 4 đô thị Việt Nam đã ghi tên vào Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO – Hà Nội (về thiết kế, năm 2019), Hội An (về thủ công và nghệ thuật dân gian, năm 2023), Đà Lạt (về âm nhạc, năm 2023) và TPHCM (về điện ảnh, năm 2025), Bộ VHTTDL đang hướng tới một mục tiêu mới: Xây dựng Đề án Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam. Nếu thành công, Việt Nam sẽ có thêm một “mảnh ghép” trên bản đồ sáng tạo toàn cầu. Nhưng điều đáng quan tâm hơn cả không phải là có thêm một danh hiệu, mà là chúng ta kỳ vọng gì từ mô hình này.


Đô thị cổ Hội An. Ảnh: Thư Hoàng.

Điều đáng nói là “Thành phố Nhiếp ảnh” không đơn thuần là nơi có nhiều triển lãm hay cuộc thi ảnh. Theo định hướng của đề án, đây sẽ là một hệ sinh thái kết nối không gian sáng tạo, du lịch, doanh nghiệp, công nghệ số và các sự kiện quốc tế. Nói cách khác, nhiếp ảnh được nhìn nhận không chỉ như một loại hình nghệ thuật mà còn là một nguồn lực để phát triển kinh tế sáng tạo.

Đó là cách tiếp cận rất khác so với trước đây. Trong nhiều năm, nhiếp ảnh ở Việt Nam chủ yếu hiện diện qua các cuộc thi, triển lãm hoặc hoạt động của giới nghề. Không ít tác phẩm gây ấn tượng, nhiều nhiếp ảnh gia ghi dấu trên đấu trường quốc tế, nhưng giá trị của nhiếp ảnh đối với phát triển địa phương vẫn chưa được khai thác tương xứng. Trong khi đó, nhiều thành phố trên thế giới đã biến nhiếp ảnh thành thương hiệu, thu hút nghệ sĩ, khách du lịch, các sự kiện chuyên ngành và những ngành dịch vụ đi kèm.

Bởi vậy, câu hỏi quan trọng lúc này có lẽ không phải địa phương nào sẽ được lựa chọn. Khánh Hòa, Huế, Ninh Bình hay Quảng Ninh đều có những lợi thế riêng và đang được Bộ VHTTDL khảo sát. Song cảnh quan đẹp hay hạ tầng du lịch phát triển mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ, như Thứ trưởng Bộ VHTTDL Tạ Quang Đông chia sẻ, chính là nhận thức của chính quyền và cộng đồng về vai trò của nhiếp ảnh đối với phát triển kinh tế – xã hội.

Đó là một góc nhìn rất đáng suy ngẫm. Một “Thành phố Nhiếp ảnh” sẽ khó thành hình nếu chỉ đầu tư thêm không gian triển lãm hay tổ chức một liên hoan ảnh thường niên. Điều cốt lõi là tạo dựng được môi trường để nghệ sĩ sáng tạo, doanh nghiệp đầu tư, người dân cùng tham gia và du khách có thêm lý do để trải nghiệm. Khi đó, nhiếp ảnh mới thực sự trở thành điểm gặp gỡ của nghệ thuật, công nghệ, văn hóa và du lịch.

Khi chuyển đổi số đang được thực thi trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề, thì lựa chọn nhiếp ảnh cũng có nhiều lợi thế. Chưa bao giờ việc sáng tạo và chia sẻ hình ảnh lại phổ biến như hiện nay. Mỗi chiếc điện thoại thông minh đều có thể trở thành một “máy ảnh”, mỗi bức ảnh đẹp lan truyền trên mạng xã hội đều có thể góp phần quảng bá một điểm đến, một di sản hay một nét văn hóa bản địa. Nếu được định hướng đúng, sức sáng tạo của cộng đồng sẽ trở thành nguồn lực quý giá để xây dựng thương hiệu địa phương.

Dẫu vậy, cũng không nên kỳ vọng rằng chỉ cần được UNESCO ghi danh là một thành phố sẽ lập tức bứt phá. Danh hiệu chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị thực sự nằm ở khả năng biến danh hiệu ấy thành động lực cho phát triển lâu dài. Hà Nội, Hội An, Đà Lạt hay TPHCM cũng đang đứng trước yêu cầu ấy: Làm sao để những lĩnh vực được UNESCO ghi nhận thực sự tạo thêm không gian sáng tạo, thu hút đầu tư, thúc đẩy du lịch và nâng cao chất lượng đời sống văn hóa.

Có lẽ vì vậy, điều đáng kỳ vọng nhất ở “Thành phố Nhiếp ảnh” không phải là địa phương nào sẽ được xướng tên vào năm 2027. Điều đáng kỳ vọng hơn là sự xuất hiện của một mô hình phát triển mới, nơi nhiếp ảnh không chỉ lưu giữ vẻ đẹp của cuộc sống mà còn trở thành động lực cho công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới.

Hà Thư

Nguồn: Dulichvn

Người Nùng Vẻn gìn giữ bản sắc riêng từ giá trị truyền thống

Giữa những dãy núi đá vôi trùng điệp của xã Tổng Cọt là một bản làng nhỏ với vài chục nóc nhà sàn nép mình bên sườn núi. Đây là nơi cư trú tập trung của cộng đồng người Nùng Vẻn – nhóm địa phương có số dân ít nhất trong cộng đồng người Nùng ở Cao Bằng nhưng vẫn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc.


Trong nhịp sống hiện đại đang lan tỏa mạnh mẽ đến từng bản làng, người Nùng Vẻn vẫn bền bỉ gìn giữ những nét văn hóa riêng có của mình. Từ kiến trúc nhà sàn mái ngói âm dương, những cây cầu gỗ nối liền các nếp nhà, đến trang phục nhuộm chàm, tiếng hát Hà lều mộc mạc hay những nghi lễ tín ngưỡng truyền thống… tất cả tạo nên một không gian văn hóa giàu bản sắc, góp phần làm nên sự đa dạng của bức tranh văn hóa các dân tộc tỉnh Cao Bằng.

Cộng đồng nhỏ mang bản sắc riêng

Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, người Nùng là dân tộc có số dân đông thứ 2 trên địa bàn tỉnh, chiếm gần 30% dân số toàn tỉnh, với nhiều nhóm địa phương như: Nùng An, Nùng Inh, Nùng Giang, Nùng Khen Lài, Nùng Lòi, Nùng Vẻn. Trong đó, người Nùng Vẻn hiện cư trú tập trung chủ yếu tại xóm Cả Tiểng, xã Tổng Cọt.

Dù quy mô dân số không lớn, cộng đồng Nùng Vẻn lại sở hữu kho tàng văn hóa phong phú và mang nhiều nét riêng biệt. Đặc trưng dễ nhận thấy là kiến trúc nhà sàn được bố trí liên hoàn, có hệ thống cầu gỗ nối giữa các hộ gia đình, tạo nên sự gắn kết cộng đồng bền chặt trong đời sống sinh hoạt thường ngày.

Cùng với đó là trang phục truyền thống nhuộm chàm thủ công, các phong tục cưới hỏi, tang ma mang dấu ấn riêng, tập quán thờ cúng Thổ công cùng nhiều nghi lễ dân gian đặc sắc. Đặc biệt, làn điệu hát Hà lều – hình thức diễn xướng dân gian mang tính ứng tác cao – vẫn được gìn giữ như một “dòng chảy ký ức” của cộng đồng.

Những giá trị văn hóa ấy không chỉ phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của người Nùng Vẻn, mà còn góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú trong kho tàng văn hóa các dân tộc Cao Bằng.

Trước thách thức của dòng chảy hiện đại

Sự phát triển kinh tế – xã hội đã mang lại nhiều thay đổi tích cực trong đời sống của người dân. Trong bối cảnh đó, việc bảo tồn văn hóa truyền thống đang đối mặt với nhiều thách thức.

Nhiều phong tục, tập quán đã được giản lược để phù hợp với điều kiện sinh hoạt mới. Các nghề thủ công truyền thống như dệt vải, nhuộm chàm, làm giấy bản dần ít người theo học. Những nghệ nhân am hiểu sâu sắc về tiếng hát Hà lều, nghi lễ cổ truyền hay tri thức dân gian phần lớn đã cao tuổi, trong khi lớp trẻ ít có điều kiện tiếp cận và kế thừa.

Quá trình giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ khiến nhiều yếu tố văn hóa mới du nhập, làm thay đổi không gian văn hóa truyền thống. Nếu không được nghiên cứu, ghi chép và hệ thống hóa kịp thời, nhiều giá trị quý báu có nguy cơ chỉ còn tồn tại trong ký ức của các thế hệ cao niên.

Đáng chú ý, đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào phản ánh toàn diện đời sống văn hóa của người Nùng Vẻn tại Cao Bằng. Các tư liệu hiện có chủ yếu mới dừng ở mức giới thiệu, chưa tạo được cơ sở khoa học đầy đủ phục vụ công tác bảo tồn lâu dài.

Người Nùng Vẻn ở xóm Cả Tiểng, xã Tổng Cọt sở hữu kho tàng văn hóa phong phú và mang nhiều nét riêng biệt. Ảnh: Hạnh Nguyên

Đặt nền móng cho công tác nghiên cứu, bảo tồn

Xuất phát từ thực tiễn đó, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai đề tài khoa học cấp tỉnh: “Nghiên cứu, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống người Nùng Vẻn tỉnh Cao Bằng”.

Đề tài hướng tới việc điều tra, khảo sát, sưu tầm và hệ thống hóa toàn diện các giá trị văn hóa của cộng đồng Nùng Vẻn, tập trung làm rõ các đặc trưng văn hóa vật thể và phi vật thể, từ điều kiện cư trú, phương thức sản xuất, tổ chức xã hội đến phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, ngôn ngữ, văn học dân gian, nghệ thuật trình diễn và tri thức dân gian.

Trên cơ sở đó, đề tài phân tích những giá trị đặc trưng riêng của cộng đồng trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, đồng thời đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong bối cảnh phát triển hiện nay.

Kết quả nghiên cứu góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học về văn hóa người Nùng Vẻn; phục vụ công tác quản lý nhà nước về văn hóa, đồng thời là nguồn tư liệu quan trọng phục vụ giáo dục truyền thống, nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch văn hóa cộng đồng.

Bảo tồn để phát triển bền vững

Trong những năm gần đây, tỉnh xác định công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng, gắn với mục tiêu phát triển bền vững kinh tế – xã hội.

Đối với cộng đồng người Nùng Vẻn, bảo tồn không chỉ là lưu giữ những giá trị vật chất hay ghi chép phong tục tập quán, mà quan trọng hơn là làm cho những giá trị văn hóa ấy tiếp tục hiện diện trong đời sống cộng đồng, được trao truyền cho thế hệ trẻ và trở thành nguồn lực cho phát triển, nhất là phát triển du lịch văn hóa cộng đồng.

Mỗi nếp nhà sàn, mỗi bộ trang phục chàm, mỗi câu hát Hà lều hay mỗi nghi lễ truyền thống đều là những mảnh ghép ký ức văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Việc nghiên cứu, nhận diện đầy đủ và có hệ thống những giá trị ấy không chỉ góp phần bảo tồn một di sản văn hóa quý báu của địa phương mà còn khẳng định sự phong phú, đa dạng trong nền văn hóa thống nhất của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.

Trong dòng chảy không ngừng của thời đại, những giá trị truyền thống chỉ thực sự được sống khi được nhận diện, trân trọng và tiếp tục trao truyền. Vì vậy, công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa người Nùng Vẻn không chỉ là nhiệm vụ khoa học, mà còn là hành trình gìn giữ ký ức văn hóa, góp phần lan tỏa bản sắc của một cộng đồng nhỏ trong bức tranh đa dạng văn hóa các dân tộc Việt Nam.            

Đặng Hồng

Nguồn: Dulichvn

Dấu son Champa dưới bóng tháp Dương Long – Gia Lai

Giữa không gian khoáng đạt của đồng quê Bình An, ba ngọn tháp cổ Dương Long (xã Bình An, tỉnh Gia Lai) sừng sững trên một gò đất cao, nổi bật giữa màu xanh của ruộng đồng và màu lam của bầu trời mùa hạ.


Cụm tháp Dương Long dưới nắng hè. Ảnh: Tư liệu

Từ xa nhìn lại, cụm tháp giống như ba cột mốc thời gian, lặng lẽ kể câu chuyện về một nền văn minh từng rực rỡ trên dải đất miền Trung.

Lối về một miền di sản

Con đường dẫn về Bình An trải dài giữa những cánh đồng đang vào mùa xanh nhất. Nắng hè đổ xuống mặt đất một màu vàng óng, những đám mây trắng lững lờ trôi trên nền trời cao rộng, còn gió từ những triền đồi xa xa cứ miên man thổi qua cửa kính xe. Nơi đây có một sự bình yên rất riêng, đủ để người ta chậm lại và lắng nghe tiếng bước chân của thời gian.

Theo các nhà nghiên cứu, cụm tháp Dương Long được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XIII, dưới thời kỳ phát triển hưng thịnh của vương quốc Champa. Đây được xem là một trong những công trình kiến trúc Chăm tiêu biểu còn tồn tại đến ngày nay.

Tên gọi Dương Long đã xuất hiện từ rất lâu trong các tài liệu lịch sử. Người dân địa phương vẫn quen gọi nơi đây bằng cái tên gần gũi là “tháp Ngà”, bởi sắc màu đặc biệt của những khối đá trang trí trên thân tháp khi ánh nắng chiếu vào. Trải qua hàng trăm năm cùng những biến động lịch sử, chiến tranh, thiên tai và sự khắc nghiệt của thời tiết, ba ngọn tháp vẫn tồn tại như một minh chứng sống động cho trình độ kiến trúc, nghệ thuật và kỹ thuật xây dựng đáng kinh ngạc của người Chăm cổ.

Kiến trúc độc đáo

Ấn tượng đầu tiên khi đặt chân đến cụm tháp Dương Long chính là quy mô đồ sộ của công trình. Ba ngọn tháp được xây dựng thẳng hàng trên một gò đất cao, trong đó ngọn tháp trung tâm cao nhất, hai tháp còn lại thấp hơn và nằm cân đối ở hai bên. Sự sắp đặt ấy tạo nên tổng thể hài hòa cho công trình.

Dưới cái nắng vàng của mùa hè Gia Lai, những bức tường gạch cổ hiện lên với sắc đỏ trầm mặc. Điều khiến giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm là kỹ thuật xây dựng của người Chăm cổ. Cho đến nay, cách thức kết dính những viên gạch gần như không để lộ mạch vữa vẫn là một trong những bí ẩn của kiến trúc Champa.

Nếu quan sát kỹ, du khách sẽ nhận thấy một nét đặc biệt khác của tháp Dương Long là sự kết hợp giữa gạch nung và đá sa thạch. Những mảng phù điêu, tượng trang trí và hoa văn điêu khắc trên đá vẫn còn lưu giữ nhiều chi tiết tinh xảo dù đã trải qua hàng trăm năm phong hóa. Các hình tượng thần linh, hoa lá, linh vật cùng những đường nét kiến trúc giàu tính biểu tượng phản ánh đời sống tín ngưỡng phong phú của người Chăm xưa.

Từ chân tháp ngước nhìn lên, từng tầng kiến trúc chồng lớp vươn cao giữa nền trời xanh biếc khiến người ta không khỏi thán phục tài năng của những nghệ nhân cổ đại. Không chỉ là một công trình tôn giáo, Dương Long còn là một tác phẩm nghệ thuật khổng lồ được tạo nên từ sự sáng tạo và trí tuệ của con người.

Giá trị lịch sử vượt thời gian

Điều làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của cụm tháp Dương Long không chỉ nằm ở kiến trúc mà còn ở giá trị lịch sử công trình mang theo.

Ba ngọn tháp là chứng tích của một giai đoạn phát triển rực rỡ trong lịch sử Champa. Chúng phản ánh trình độ kỹ thuật xây dựng, mỹ thuật và đời sống tâm linh của cư dân cổ trên vùng đất này. Qua từng viên gạch, từng hoa văn chạm khắc, người xem có thể hình dung được phần nào diện mạo của một nền văn minh từng giao lưu mạnh mẽ với nhiều nền văn hóa trong khu vực.

Trong suốt nhiều thế kỷ, những ngọn tháp vẫn đứng đó, chứng kiến biết bao đổi thay của lịch sử. Những triều đại hưng thịnh rồi suy tàn, những cuộc di dân, những cuộc chiến tranh và sự chuyển mình của vùng đất đều đã đi qua dưới bóng những công trình cổ kính này.

Chính vì giá trị đặc biệt ấy, cụm tháp Dương Long được đánh giá là một trong những di sản kiến trúc Chăm quan trọng của Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa dân tộc.

Mùa hè là thời điểm lý tưởng để ghé thăm nơi này. Những ngày nắng đẹp giúp du khách dễ dàng chiêm ngưỡng toàn bộ vẻ uy nghi của các ngọn tháp giữa nền trời trong xanh. Từ khu vực di tích nhìn ra xa là những cánh đồng rộng lớn, những hàng cây xanh ngắt và khung cảnh thanh bình đặc trưng của vùng đất này.

Nhiều bạn trẻ tìm đến đây để chụp ảnh, khám phá văn hóa bản địa hoặc đơn giản là tìm một khoảng không gian yên tĩnh sau những ngày làm việc căng thẳng. Dưới ánh chiều tà, khi mặt trời nhuộm vàng các bức tường gạch cổ, cả khu di tích như khoác lên mình vẻ đẹp huyền ảo, vừa cổ kính vừa đầy sức sống.

Rời cụm tháp Dương Long khi nắng chiều dần tắt, tôi vẫn còn ngoái nhìn ba ngọn tháp thêm nhiều lần. Giữa đất trời Gia Lai lộng gió, những công trình cổ kính ấy vẫn đứng sừng sững như những người kể chuyện thầm lặng của lịch sử.

Có những điểm đến khiến người ta nhớ bởi cảnh đẹp. Có những nơi khiến người ta lưu luyến bởi con người. Riêng cụm tháp Dương Long để lại trong lòng du khách cảm giác được chạm vào một phần ký ức của vùng đất, được lắng nghe tiếng vọng từ quá khứ giữa không gian mùa hè ngập nắng.

Và có lẽ, đó cũng là giá trị lớn nhất của di sản. Không chỉ lưu giữ những dấu vết của cha ông, mà còn giúp thế hệ hôm nay hiểu hơn về cội nguồn văn hóa, để từ đó biết trân trọng hơn những gì đang có và gìn giữ cho các thế hệ mai sau.

Trúc Nguyễn

Nguồn: Dulichvn

Sơn La: Xím Vàng khai thác tiềm năng phát triển du lịch

Những ngày cuối tháng 7, khi nhiều nơi vẫn nắng nóng gay gắt, Xím Vàng (Sơn La) lại có không khí mát mẻ, phong cảnh núi non hùng vĩ với những thửa ruộng bậc thang xanh mướt nối nhau uốn quanh sườn núi; cùng những ngôi nhà truyền thống của đồng bào Mông bình yên dưới mây trời… đang tạo nên sức hút riêng có của xã vùng cao. Xím Vàng đang khai mở tiềm năng, đưa du lịch trở thành hướng phát triển kinh tế mới.


Du khách check-in tại Hây Hây Meadow, bản Xím Vàng, xã Xím Vàng.

Mất gần 2 giờ đi xe máy từ trung tâm xã Bắc Yên, theo tuyến đường tỉnh 112, vượt qua những con dốc quanh co, uốn lượn bám theo các sườn núi, chúng tôi có mặt tại xã Xím Vàng. Do nằm trên vùng núi cao của dãy Tà Xùa, độ cao trên 1.500 m so với mực nước biển, nên khí hậu tại Xím Vàng mát mẻ quanh năm, cùng với cảnh quan núi rừng hùng vĩ, những cánh rừng nguyên sinh cùng biển mây bồng bềnh, trở thành điểm đến hấp dẫn đối với những du khách yêu thích khám phá và trải nghiệm thiên nhiên. Sau sáp nhập giữa xã Xím Vàng và xã Hang Chú, xã Xím Vàng mới có quy mô dân số gần 7.600 người, đều là dân tộc Mông, các giá trị văn hóa truyền thống vẫn được bảo tồn nguyên vẹn.

Ẩn mình giữa cánh rừng nguyên sinh của bản Xím Vàng, thác nước Không Tên với dòng nước mát và không gian trong lành đang trở thành điểm đến thu hút đông đảo du khách đến khám phá, tổ chức picnic, cắm trại trong ngày và lưu lại những khoảnh khắc giữa thiên nhiên. Nhất là vào những ngày nghỉ lễ, cuối tuần, khu vực thác nước đón rất đông du khách đến trải nghiệm, tạo cơ hội cho các hộ dân kinh doanh dịch vụ ăn uống, giải khát và hướng dẫn du lịch. Dù chưa được đầu tư, khai thác quy mô lớn, nhưng chính vẻ đẹp nguyên sơ cùng hệ sinh thái rừng tự nhiên bao quanh đã tạo nên sức hút riêng của thác nước Không Tên.

Du khách tham quan, trải nghiệm tại những ruộng bậc thang xanh mướt.

Anh Giàng A Chơ, bản Xím Vàng, là người hướng dẫn du khách tham quan thác nước Không Tên, cho biết: Những năm gần đây, thác nước được nhiều người biết đến, nên lượng khách đến tham quan tăng rõ rệt. Chúng tôi hướng dẫn du khách di chuyển an toàn, giới thiệu về điểm đến và nhắc nhở mọi người giữ gìn vệ sinh môi trường, để bảo vệ vẻ đẹp nguyên sơ của điểm đến.

Không chỉ có thác nước, Xím Vàng còn níu chân du khách bởi những thửa ruộng bậc thang xanh mướt đang vào mùa trổ đòng. Nắm bắt được nhu cầu của du khách, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư phát triển các điểm ngắm cảnh, quán cà phê và khu vực check-in hướng ra ruộng bậc thang, giúp du khách có các điểm chụp ảnh lưu niệm đẹp và tạo thêm thu nhập.

Anh Nguyễn Văn Quý, chủ điểm check-in Hây Hây Meadow, bản Xím Vàng, chia sẻ: Từ khi đầu tư điểm ngắm cảnh và khu vực check-in, lượng khách đến quán ngày càng tăng, đặc biệt vào dịp cuối tuần hay ngày lễ. Chúng tôi phục vụ thêm cả dịch vụ ăn uống, thường xuyên chỉnh trang khuôn viên, đầu tư thêm các góc check-in và giữ gìn vệ sinh môi trường, nhằm mang đến không gian sạch đẹp, tạo ấn tượng tốt cho mỗi du khách khi đến với Xím Vàng.

Điểm check-in Hây Hây Meadow, bản Xím Vàng, xã Xím Vàng

Bên cạnh cảnh quan thiên nhiên, Xím Vàng còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Mông. Những nếp nhà truyền thống, trang phục rực rỡ sắc màu, các món ăn đặc trưng cùng đời sống văn hóa bản địa tạo nên nét hấp dẫn riêng đối với du khách. Địa phương còn sở hữu nhiều điểm đến giàu giá trị như bãi đá khắc cổ Khe Hổ, được công nhận di tích cấp quốc gia, hay đỉnh Phu Sa Phìn cao 2.868 m, đỉnh cao nhất của dãy Tà Xùa, với biển mây và cung đường trekking hấp dẫn. Đây đều là những lợi thế quan trọng để hình thành các sản phẩm du lịch khám phá, trải nghiệm.

Lần đầu đến Xím Vàng, chị Lê Hoài Thu, du khách đến từ tỉnh Hà Tĩnh, cho biết: Xím Vàng hấp dẫn bởi cảnh quan nguyên sơ, văn hóa đặc sắc, con người thân thiện, dễ mến. Tôi hy vọng sẽ có thêm nhiều du khách biết đến và lựa chọn Xím Vàng là điểm đến để khám phá, trải nghiệm những nét đẹp rất riêng của vùng cao.

Hiện nay, trên địa bàn xã Xím Vàng có 8 cơ sở kinh doanh dịch vụ homestay. Trong 6 tháng đầu năm, địa phương đón hơn 5.500 lượt khách, doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt trên 825 triệu đồng. Nói về định hướng phát triển du lịch của xã, ông Nguyễn Xuân Bắc, Chủ tịch UBND xã, thông tin: Xã xác định phát triển du lịch gắn với bảo tồn cảnh quan thiên nhiên và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là hướng đi lâu dài. Xã tích cực tuyên truyền, vận động người dân nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng; tăng cường bảo vệ rừng, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, xây dựng hình ảnh điểm đến an toàn, thân thiện để thu hút ngày càng nhiều du khách. Đồng thời, ưu tiên nguồn lực cho đầu tư, hoàn thiện hạ tầng giao thông. Tập trung xây dựng điểm đến tại các bản Xím Vàng, Háng Chơ và Sồng Chống thuộc không gian phát triển Khu du lịch Tà Xùa, tạo điều kiện kết nối với các điểm du lịch của xã Tà Xùa và khu vực lân cận.

Thác nước Không Tên tại bản Xím Vàng, xã Xím Vàng.

Với khí hậu mát mẻ quanh năm, cảnh quan thiên nhiên đặc sắc cùng những giá trị văn hóa truyền thống được gìn giữ, Xím Vàng mang trong mình sức hút riêng của một điểm đến vùng cao giàu tiềm năng du lịch sinh thái, khám phá và trải nghiệm. Phát triển du lịch theo hướng bài bản, trách nhiệm với những giải pháp mang tính bền vững sẽ giúp Xím Vàng khai thác hiệu quả lợi thế sẵn có, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

Bài, ảnh: Hoài Trang

Nguồn: Dulichvn

“Trốn nóng” cùng thiên nhiên ở Đà Nẵng

Nhiều người dân và du khách đến với Đà Nẵng không chỉ tìm đến với biển mà còn có xu hướng đi ngược lên núi, trở về với thiên nhiên hoang sơ.


Dòng nước mát lành đổ về từ thượng nguồn suối Mát. Ảnh: Hoàng Liên

Hành trình tìm đến với thiên nhiên có thể bắt đầu từ một cung đường không quá ồn ào, như về đèo Le (xã Quế Sơn), cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 50km về phía tây.

Con đèo từng gợi cảm giác hoang vu, thậm chí e dè với những khúc cua gắt và vực sâu, nhưng có một sức hút rất riêng của cảnh sắc. Càng lên cao, nơi đỉnh đèo Le, cái nắng gắt dần lùi lại, khiến du khách có cảm giác đang bước vào một thế giới khác, tách biệt hẳn sự oi ả phía dưới.

Suối Mát tại khu vực đèo Le là thắng cảnh không quá hoành tráng, cũng không phải là điểm check-in cầu kỳ, nhưng nơi đây giữ chân du khách bằng chính sự mát mẻ, sự giản dị và vẻ hoang sơ vốn có của thiên nhiên.

Dưới những tán cây cổ thụ, không khí nơi đây mát rượi như được chắt lọc từ núi rừng. Giữa trưa hè oi ả, nhiệt độ ở vùng này vẫn thường thấp hơn các khu vực lân cận từ 4-5 độ C.

Những năm gần đây, khu vực này được chỉnh trang với lối đi được gia cố, khu đón khách gọn gàng hơn, song sự can thiệp vẫn ở mức vừa đủ để thiên nhiên giữ vai trò chính. Những hồ tắm tự nhiên dẫn nước trực tiếp từ suối được tạo dựng khéo léo, vừa giữ chất suối rừng, vừa bảo đảm an toàn cho du khách.

Chị Nguyễn Lan Anh, một người con xứ Quảng cùng gia đình vừa trở về từ Thành phố Hồ Chí Minh, chia sẻ: “Về Đà Nẵng đợt này, gia đình tôi đã có vài ngày để đi biển, thăm các di tích thắng cảnh Ngũ Hành Sơn, phố cổ Hội An. Chúng tôi cũng dành một ngày ở suối Mát để tận hưởng cái mát dịu của thiên nhiên, để bọn trẻ có không gian tắm suối, ngâm mình trong làn nước mát lạnh, chơi đùa. Cả gia đình có không gian quây quần, tâm sự; ăn gà nướng chấm muối tiêu ớt xanh, gà hầm muối, thưởng thức rau rừng, rau sen bản địa và các món ẩm thực quê xứ. Ngồi bên suối, ngắm con thác đổ, không cần làm gì cũng thấy mát mẻ, dễ chịu hẳn”.

Ở xã Hà Nha, một không gian “trốn nóng” khác không kém phần thú vị, đó là Khu du lịch sinh thái Khe Lim, nằm cách trung tâm Đà Nẵng khoảng 50km. Nơi đây là một quần thể thác, suối, khe đá đầy hoang sơ và hùng vĩ.

Ẩn mình giữa cánh rừng nguyên sinh, khe Lim như một bức tranh thủy mặc. Dòng thác bắt nguồn từ vùng núi cao, đổ xuống qua nhiều tầng đá, tạo nên những dải nước trắng xóa nối tiếp. Nhiều nhóm du khách lựa chọn cắm trại bên suối, tổ chức ăn uống hoặc đơn giản là tắm suối, ngồi nghỉ mát.

Dù được biết đến nhiều, song khe Lim vẫn giữ được độ “thô” vốn có, không bị bào mòn bởi du lịch đại trà. Dòng người “trốn nóng” thường đi theo đoàn, đi theo gia đình. Đến đây, du khách cũng được khuyến cáo chú ý an toàn khi di chuyển trên đá trơn, chấp hành các quy định của ban quản lý khu du lịch, bảo đảm an toàn cho trẻ em.

Ở một địa điểm khác, Hải Vân Quan sau trùng tu không chỉ “sống lại” với diện mạo mới mà còn kéo theo sự thay đổi của cả cung đèo. Hải Vân đang trở thành một hành trình trải nghiệm, nơi du khách đứng lại, ngắm cảnh và chờ săn mây.

Để săn được mây, khách có thể đi từ tầm 6 giờ sáng, đứng trên đỉnh đèo, nghe gió lùa qua những bức tường đá vừa được gia cố, cảm nhận cái lạnh se nhẹ phả vào da. Những đợt mây từ phía biển tràn lên, cuộn qua cổng thành, biến cả không gian thành biển trắng huyền ảo. Nhiều du khách, trong đó có du khách nước ngoài tỏ ra thích thú khi được trải nghiệm cảm giác thưởng mây bao phủ cung đèo này.

Không chỉ có Hải Vân Quan, dọc tuyến đèo Hải Vân, những điểm check-in mới mở ra không gian sống ảo cho du khách như đồi Cừu, Hải Vân Xanh… Buổi sáng, khi mây tan và nắng chiếu lên sườn núi, làm cả không gian bừng sáng.

Khi đêm xuống, bên những túp lều đơn sơ, bên ánh lửa bập bùng, du khách được trải nghiệm không gian của núi rừng, hòa vào thiên nhiên tĩnh mịch…

Hoàng Liên

Nguồn: Dulichvn

Gia Lai: Mở hướng mới bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số

Từ ngày 01/7/2026, Nghị định số 269/2026/NĐ-CP của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số chính thức có hiệu lực.


Sau sáp nhập, Gia Lai hội tụ không gian văn hóa Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ, Nghị định số 269/2026/NĐ-CP mở ra nhiều cơ hội để biến di sản văn hóa thành nguồn lực nội sinh phục vụ phát triển bền vững.

Khi cộng đồng là chủ thể, di sản mới thực sự được gìn giữ

Điểm mới nổi bật nhất của Nghị định số 269/2026/NĐ-CP (NĐ 269) là thay đổi cách tiếp cận đối với công tác bảo tồn văn hóa. Nếu trước đây việc bảo tồn thường tập trung vào phục dựng lễ hội, tu bổ thiết chế văn hóa hoặc sưu tầm hiện vật thì nay trọng tâm được chuyển sang chính những người đang nắm giữ và thực hành di sản.

Theo NĐ 269, ba nhóm chính sách được ưu tiên gồm bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một, bảo tồn không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống gắn với phát triển du lịch và phát huy vai trò của nghệ nhân, già làng, người có uy tín và cộng đồng trong việc trao truyền, thực hành và sáng tạo văn hóa. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với thực tiễn của Gia Lai.

Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, Gia Lai có không gian văn hóa của các dân tộc Bahnar, Jrai… ở khu vực phía Tây, cùng đồng bào Chăm H’roi, H’re, Bahnar… ở khu vực phía Đông. Sự đa dạng ấy tạo nên một bản đồ văn hóa phong phú, đồng thời đặt ra yêu cầu phải có những chính sách bảo tồn theo hướng lấy cộng đồng làm trung tâm.

Thực tế thời gian qua cho thấy nhiều mô hình ở Gia Lai đã đi đúng tinh thần này. Ngày hội Văn hóa các dân tộc tại xã Tơ Tung không chỉ là hoạt động trình diễn mà còn là dịp để người dân trực tiếp giới thiệu cồng chiêng, nghề dệt thổ cẩm, đan đát, ẩm thực truyền thống và truyền dạy cho thế hệ trẻ.

Chính sự tham gia chủ động của cộng đồng đã giúp các giá trị văn hóa tiếp tục được duy trì trong đời sống, thay vì chỉ tồn tại trong hồ sơ kiểm kê hay các cuộc trình diễn mang tính sự kiện.

Lễ hội thần làng của đồng bào Chăm H’roi xã Vân Canh. Ảnh: Ngọc Nhuận

Tại Điều 12, Nghị định số 269/2026/NĐ-CP quy định mức hỗ trợ đối với chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận trực tiếp tham gia hoạt động thực hành, trao truyền văn hóa truyền thống trong các chương trình, đề án, dự án do cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập chủ trì tổ chức.

Cụ thể, chủ thể văn hóa nòng cốt được hỗ trợ 400.000 đồng/người/buổi, chủ thể văn hóa kế cận 300.000 đồng/người/buổi. Số buổi hỗ trợ tối đa không quá 20 buổi/chương trình, kinh phí thực hiện được chi trả trong phạm vi dự toán được cấp thẩm quyền giao.

Ở khu vực phía Đông, cộng đồng Chăm H’roi tại xã Vân Canh hay đồng bào H’re ở xã An Vinh vẫn đang gìn giữ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc như lễ hội truyền thống, nghề thủ công, tri thức dân gian và nghệ thuật diễn xướng.

Đây là những không gian văn hóa tiêu biểu để triển khai các chính sách hỗ trợ nghệ nhân, truyền dạy và phục hồi những giá trị đang đứng trước nguy cơ mai một theo tinh thần của NĐ 269.

Có thể thấy, thay vì “bảo tồn thay cộng đồng”, nghị định hướng tới việc tạo điều kiện để cộng đồng trở thành chủ thể sáng tạo, thực hành và hưởng lợi từ chính di sản của mình.

Nhiều điều kiện thuận lợi trong triển khai

Điểm đáng chú ý của NĐ 269 là quy định khá cụ thể các tiêu chí xác định những giá trị văn hóa cần ưu tiên bảo tồn, như số lượng người thực hành ngày càng ít, hoạt động truyền dạy bị gián đoạn, không gian thực hành bị thu hẹp hoặc lễ hội không còn được tổ chức thường xuyên.

Đối với Gia Lai, đây là cơ sở quan trọng để tiến hành rà soát, kiểm kê lại toàn bộ hệ thống di sản văn hóa sau khi mở rộng không gian hành chính.

Lễ mừng cốm lúa mới của đồng bào dân tộc Bahnar xã Vĩnh Sơn. Ảnh: Ngọc Nhuận

Việc xây dựng danh mục các di sản có nguy cơ mai một sẽ giúp địa phương tập trung nguồn lực đầu tư đúng trọng tâm, thay vì triển khai dàn trải. So với nhiều địa phương khác, Gia Lai cũng có nhiều điều kiện thuận lợi để kết hợp thực hiện NĐ 269 với chương trình chuyển đổi số đang được tỉnh triển khai.

Xây dựng cơ sở dữ liệu số về di sản, số hóa tư liệu, lập bản đồ số, ứng dụng mã QR tại các điểm di sản, phát triển các sản phẩm truyền thông số và ứng dụng công nghệ thực tế ảo sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, quảng bá và giáo dục văn hóa truyền thống.

Một lợi thế khác của Gia Lai sau sáp nhập là khả năng hình thành các tuyến du lịch văn hóa liên vùng. Nếu khu vực Tây Nguyên nổi bật với không gian văn hóa cồng chiêng, nhà rông và sử thi thì khu vực phía Đông lại có văn hóa Chăm H’roi, H’re, Bahnar cùng hệ thống làng nghề truyền thống và các thiết chế văn hóa đặc sắc.

Việc kết nối các giá trị này sẽ tạo nên những sản phẩm du lịch có chiều sâu, góp phần đưa văn hóa trở thành ngành kinh tế quan trọng như tinh thần mà NĐ 269 hướng tới.

NĐ 269 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy bảo tồn văn hóa ở nước ta. Với Gia Lai – nơi hội tụ các giá trị văn hóa của Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ, nghị định không chỉ tạo hành lang pháp lý mà còn mở ra cơ hội xây dựng một không gian văn hóa liên vùng giàu bản sắc.

TS Võ Minh Hải

Nguồn: Dulichvn

Theo dấu rừng xanh Ba Bể – Thái Nguyên

Vượt hơn 40km từ phường Bắc Kạn, theo cung đường uốn lượn về phía Bắc hồ Ba Bể chúng tôi đến điểm hẹn gần cổng Vườn Quốc gia Ba Bể khi nắng đã lên cao. Cái oi ả của miền núi nhanh chóng nhường chỗ cho bầu không khí mát lành dưới những tán rừng xanh thẳm. Hơi mát từ núi đá, mặt hồ và thảm thực vật dày đặc như xua tan mọi mệt mỏi sau một chặng đường dài.


Các cán bộ của Ban Quản lý và Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Ba Bể đưa đoàn tham quan đi trải nghiệm cung đường trekking.

“Bảo vật” của vùng Đông Bắc

Từ lâu, Vườn Quốc gia Ba Bể được ví như “bảo vật” của vùng Đông Bắc. Nơi đây níu chân du khách bởi vẻ đẹp nguyên sơ của mặt hồ xanh biếc giữa trùng điệp núi đá vôi, những cánh rừng nhiệt đới rì rào trong gió và nhịp sống bình dị của đồng bào bản địa.

Theo lời hẹn, ông Phạm Văn Chí, Phó Giám đốc Ban Quản lý Vườn Quốc gia Ba Bể, cùng các cán bộ của Vườn đưa chúng tôi men theo cung đường trekking quen thuộc. Con đường dưới tán cây, lúc bằng phẳng, lúc gập ghềnh, mở ra không gian xanh ngút, tiếng chim vọng xa, tiếng lá khô xào xạc dưới chân, những vệt nắng len qua tầng cây tạo nên bức tranh thiên nhiên vừa yên bình, vừa sống động.

Vườn Quốc gia Ba Bể được thành lập năm 1992 với tổng diện tích 10.048ha, gồm 3.846ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, 6.162ha phân khu phục hồi sinh thái và 40ha phân khu hành chính – dịch vụ.

Năm 2004, Ba Bể được công nhận là Vườn Di sản ASEAN; năm 2011 được công nhận là Khu Ramsar, khẳng định giá trị đặc biệt về sinh thái, cảnh quan và đa dạng sinh học.

Đi sâu vào cánh rừng, càng dễ cảm nhận vì sao Ba Bể được xem là một trong những điểm du lịch sinh thái tiêu biểu của Việt Nam. Có lúc, cả đoàn dừng chân khá lâu chỉ để ngắm những cánh bướm chập chờn trong nắng. Khoảnh khắc ấy khiến khu rừng mang vẻ đẹp vừa thực, vừa mơ.

Cây gội, một loài cây phổ biến trong Vườn Quốc gia Ba Bể,

Anh Hoàng Thăng Trình, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Ba Bể, vừa hướng dẫn chúng tôi đi vừa giới thiệu: Vườn có hơn 1.000 loài thực vật, khoảng 80 loài thú quý hiếm cùng hàng trăm loài động vật có xương sống. Giữa khu rừng nhiệt đới ấy hiện diện nhiều loài gỗ quý như nghiến, đinh, lim, lát hoa; đặc biệt có loài trúc dây đặc hữu bám trên các vách núi, tạo nên nét riêng cho cảnh quan hồ Ba Bể.

Theo định hướng phát triển du lịch bền vững của tỉnh, Ban Quản lý Vườn Quốc gia Ba Bể đang xây dựng các tour, tuyến tham quan gắn với bảo tồn thiên nhiên trên cơ sở khai thác hợp lý hệ sinh thái đặc thù, bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật và giữ gìn nguyên vẹn các giá trị cốt lõi của di sản.

Khám phá dấu tích của người tiền sử

Không chỉ nổi tiếng bởi cảnh quan và đa dạng sinh học, Vườn Quốc gia Ba Bể còn lưu giữ nhiều dấu tích quý giá của người tiền sử trong các hang động đá vôi như Thẳm Kít, Thẳm Mỳa, Nả Phoòng, Kẹm Liềm và động Ba Cửa nằm trong vùng lõi của Vườn.

Hang Thẳm Kít nằm phía Bắc hồ Ba Bể, cao hơn 50m so với mặt hồ. Cửa hang hình vòm lớn quay về hướng Tây chếch Nam. Càng tiến gần cửa hang, cảm giác huyền bí càng rõ nét. Bên trong là không gian rộng gần 3.000m2, nền tương đối bằng phẳng, chia thành ba buồng lớn cùng nhiều ngách nhỏ.

Những khối đá tảng nằm rải rác là dấu tích của quá trình kiến tạo địa chất khi đá tách khỏi trần hang từ hàng nghìn năm trước.

Du khách thích thú khi trekking Vườn Quốc gia Ba Bể vào mùa hè.

Theo các nhà khảo cổ, Thẳm Kít được xem là “động người xưa” của khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể. Tại đây đã phát hiện dấu tích cư trú cùng nhiều di vật của người nguyên thủy thuộc hậu kỳ Đá cũ, có niên đại gần 20.000 năm trước. Những lớp trầm tích, công cụ đá và dấu vết sinh hoạt còn lưu giữ trong hang là minh chứng cho sự hiện diện và thích nghi của con người với môi trường núi rừng từ hàng vạn năm trước.

Không xa Thẳm Kít là hang Kẹm Liềm, thuộc thôn Chợ Lèng, xã Đồng Phúc. Các nhà khảo cổ đã phát hiện tại đây nhiều vỏ ốc suối, xương động vật, hòn ghè, đá cuội nguyên liệu, đá có vết ghè và mảnh tước, phản ánh đời sống săn bắt, hái lượm của cư dân tiền sử.

Dựa trên địa tầng văn hóa và hệ thống di vật, các nhà nghiên cứu bước đầu xác định hang Kẹm Liềm là di tích cư trú của người tiền sử thuộc giai đoạn sớm thời đại Đá mới, cách nay khoảng 7.000-8.000 năm.

Các nhà khảo cổ tìm thấy dấu tích người tiền sử tại hang Kẹm Liềm, thuộc thôn Chợ Lèng, xã Đồng Phúc (trong Vườn Quốc gia Ba Bể).

Những phát hiện khảo cổ tại Vườn Quốc gia Ba Bể góp phần làm phong phú thêm nhận thức về văn hóa tiền sử ở khu vực phía Bắc Thái Nguyên nói riêng và Việt Nam nói chung. Điều đó cho thấy Ba Bể không chỉ là di sản thiên nhiên quý giá mà còn là không gian lưu giữ những tầng sâu văn hóa, nơi thiên nhiên và lịch sử hòa quyện trong một chỉnh thể thống nhất.

Khép lại hành trình trekking, đứng trước màu xanh thẳm của rừng, mặt hồ phẳng lặng và những dãy núi đá vôi nối tiếp nhau, chúng tôi cảm nhận rõ hơn giá trị đặc biệt của Vườn Quốc gia Ba Bể. Đó là giá trị của một hệ sinh thái giàu có, nơi từng tán cây, dòng suối, cánh bướm và tiếng chim đều góp phần tạo nên sức sống của đại ngàn. Đó cũng là giá trị của cảnh quan được thiên nhiên kiến tạo qua hàng triệu năm và của những di tích khảo cổ vẫn lặng lẽ kể câu chuyện về thuở bình minh của loài người.

Có lẽ, điều còn đọng lại sau chuyến đi không chỉ là vẻ đẹp của núi rừng Ba Bể, mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm gìn giữ những giá trị thiên nhiên và di sản quý báu ấy cho hôm nay và mai sau.

Vi Diễn

Nguồn: Dulichvn

Vẻ đẹp kỳ vĩ của những cung đèo Cao Bằng

Giữa miền biên viễn Đông Bắc, Cao Bằng hiện ra như một bức tranh sống động của núi non, mây trời và những cung đường đèo uốn lượn. Mỗi khúc cua, mỗi con dốc không chỉ mở ra khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ mà còn là câu chuyện về một vùng đất giàu bản sắc, nơi dấu ấn lịch sử và văn hoá hòa quyện cùng vẻ đẹp nguyên sơ. Từ đèo Mã Phục huyền thoại, Khau Liêu thơ mộng đến Khau Cốc Chà đầy thử thách, hành trình vượt đèo ở Cao Bằng là lời mời gọi dành cho những đôi chân ưa khám phá và trái tim yêu tự do – để một lần chạm mây, ôm trọn sắc xanh biên cương. 


Đèo Mã Phục – tuyệt tác giữa núi non

Đèo Mã Phục nằm trên Quốc lộ 3, cách trung tâm tỉnh khoảng 22 km về phía đông bắc. Đèo dài gần 3,5 km, uốn lượn qua 7 tầng dốc giữa những núi đá vôi sừng sững. Đặc biệt, đoạn đỉnh đèo có hai ngọn núi đá dựng đứng tựa như hình ảnh con ngựa quỳ, tạo nên cái tên “Mã Phục” đầy ấn tượng. Đứng từ trên cao nhìn xuống, con đường đèo mềm mại như dải lụa vắt ngang giữa màu xanh bạt ngàn của núi rừng.

Đèo Mã Phục.

Theo dân gian tương truyền rằng: Ngày xưa, vùng đất Cao Bằng thường có giặc phương Bắc tràn sang quấy phá. Trong một trận chiến khốc liệt, một vị tướng cưỡi chiến truy đuổi kẻ thù đến đỉnh đèo thì con ngựa bỗng quỳ rạp xuống, không chịu đi tiếp. Vị tướng hiểu rằng đây là điềm báo của thần núi nên dừng quân, mai phục và cuối cùng đã chiến thắng. Để ghi nhớ điềm lành đó, người dân gọi nơi đây là đèo Mã Phục. Ngày nay đèo Mã Phục không chỉ là con đường huyết mạch nối liền trung tâm hành chính, kinh tế của tỉnh với các xã phía đông mà còn là điểm đến du lịch hấp dẫn. Du khách khi đi qua đèo đều không quên dừng chân để chiêm ngưỡng cảnh quan hùng vĩ, nghe kể về truyền thuyết “ngựa quỳ” và cảm nhận nét thiêng liêng của vùng biên viễn.

Đèo Khau Cốc Chà – con đường thử thách

Nằm trên Quốc lộ 4A, đèo Khau Cốc Chà là cung đường nối tỉnh Tuyên Quang và Cao Bằng, đèo có độ dốc lớn, với 14 khúc cua tay áo, tạo thành 15 tầng dốc dựng đứng, biến con đường thành một tượng hình sống động, như bậc thang dẫn lên trời. Vào mùa đông, sương mù dày đặc khiến Khau Cốc Chà trở thành một trong những con đèo thử thách bậc nhất ở Cao Bằng, đổi lại, khi vượt qua đỉnh đèo, du khách sẽ được chiêm ngưỡng cảnh quan hùng vĩ của các thung lũng thấp thoáng dưới chân núi. Đây không chỉ là hành trình “thử thách tay lái” mà còn là trải nghiệm văn hóa, đi qua thung lũng Đồng Mu, quê hương của gạo nếp Xuân Trường trứ danh, ngắm nhà sàn, thưởng thức ẩm thực dân tộc như xôi ngũ sắc, thịt quay, phở vịt Cao Bằng và trò chuyện với người dân bản địa thân thiện. Thời điểm lý tưởng nhất để trải nghiệm cung đường đèo Khau Cốc Chà là vào mùa lúa chín từ cuối tháng 9 đến tháng 11. Khi đó, từng thửa ruộng bậc thang óng ánh bên chân đèo hòa cùng biển mây sáng sớm tạo nên bức tranh thiên nhiên kỳ ảo.

Đèo Khau Cốc Chà với 15 tầng dốc dựng đứng như bậc thang dẫn lên trời.

Đèo Nà Tềnh – Dải lụa giữa thiên nhiên

Đèo nằm trên Quốc lộ 4A, cách đèo Khau Cốc Chà khoảng 15 - 18 km. Đây là tuyến đường mang lại lộ trình phượt đầy mê hoặc và thơ mộng. Đèo không quá dốc nhưng lại sở hữu vẻ đẹp bình yên. Con đường men theo sườn núi, ôm trọn những thửa ruộng bậc thang và bản làng yên ả. Mỗi mùa trong năm, cảnh sắc lại khoác lên mình một tấm áo mới: mùa xuân hoa đào, hoa mận nở trắng xóa; mùa thu vàng óng lúa chín; mùa đông mây sương bảng lảng.

Đèo Nà Tềnh gắn liền với truyền thuyết về thiếu nữ tên là Nà Tềnh, con gái của già làng, xinh đẹp nức tiếng, vừa dịu hiền lại vừa giỏi hát lượn. Mỗi lần nàng cất tiếng hát vang vọng lên tận núi cao, khiến chim dừng bay, suối ngừng róc rách để lắng nghe. Một ngày nọ, trong giấc mơ của già làng, Mẹ Núi hiện lên và nói: Đất này linh thiêng nhưng đường sá hiểm trở, dân khổ vì núi cao. Nếu có người mang tấm lòng trong sáng, dám hi sinh vì bản làng, núi sẽ mở đường, biến khó thành dễ. Hôm sau, già làng kể lại lời sấm truyền. Cả làng im lặng, ai cũng sợ hy sinh. Chỉ riêng Nà Tềnh bước ra, khẽ nói: Vì bản làng, con xin hiến tấm lòng của mình. Nếu đường mở, xin núi cho dân bản bình an, mùa màng tốt tươi.

Đèo Nà Tềnh với những khúc cua men theo sườn núi, ôm trọn những thửa ruộng bậc thang và bản làng yên ả.

Sau đó, nàng đến bên vực núi cao nhất, nơi chỉ toàn đá tai mèo sắc nhọn và sương mù dày đặc. Nàng hát một khúc lượn dài, tiếng hát trong vắt, lan xa khắp rừng núi. Trời đất rung động, mây kéo thành từng dải lụa bay xuống chân núi. Bỗng một cơn gió lớn nổi lên, cuốn nàng vào làn sương trắng, thân hình hóa thành dải lụa mềm ôm lấy sườn núi, uốn lượn qua 20 khúc cong mềm mại, mở ra một con đường mới. Từ đó, người dân đi lại thuận lợi, ruộng nương xanh tốt, bản làng giàu có. Để tưởng nhớ nàng, dân bản gọi con đường là đèo Nà Tềnh – như khắc ghi tấm lòng trong sáng và sự hi sinh của cô gái đã hóa thân thành dải lụa của núi rừng. Ngày nay, mỗi khi bình minh lên, sương trắng quấn quanh, người già lại kể cho con cháu nghe rằng đó là nàng Nà Tềnh đang bay lượn trên trời, bảo vệ bản làng bình yên.

Chinh phục những cung đường đèo Cao Bằng không chỉ là hành trình thử thách tay lái, mà còn là cơ hội để hòa mình vào thiên nhiên, tận hưởng không khí trong lành của vùng núi cao. Đối với các phượt thủ, đây là những điểm đến lý tưởng để ghi lại những khung hình “sống ảo” ngoạn mục, lưu giữ những khoảnh khắc đáng nhớ trên miền non nước hùng vĩ.            

Thanh Bình

Nguồn: Dulichvn

Quảng Trị: Bảo tồn di sản văn hóa Bru – Vân Kiều gắn với phát triển du lịch cộng đồng

Bên trong những bản làng dưới chân dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào Bru – Vân Kiều sống đoàn kết bên nhau. Cũng trong những mái nhà sàn yên bình ấy là cả một kho tàng văn hóa độc đáo, đồ sộ, chứa đựng đời sống tinh thần phong phú của đồng bào Bru – Vân Kiều qua nhiều thế hệ.


Người Bru – Vân Kiều ngày nay đã biết đưa di sản văn hóa của đồng bào vào phục vụ du lịch, vừa là cách trao truyền, bảo tồn, vừa phát huy giá trị vững bền, góp phần phát triển kinh tế, xã hội.

Người Vân Kiều bảo tồn những nét văn hóa truyền thống gắn với việc đưa vào phục vụ du lịch cộng đồng

Trong số 13 di sản ở tỉnh Quảng Bình trước đây, nay là tỉnh Quảng Trị được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia thì đồng bào Bru – Vân Kiều đã sở hữu 3 di sản. Những di sản đó là lễ hội đập trống của người Ma Coong, xã Thượng Trạch; lễ hội trỉa lúa của người Bru – Vân Kiều, xã Trường Sơn; lễ hội mừng cơm mới của người Bru – Vân Kiều, xã Kim Ngân. Cùng với đó, người Bru – Vân Kiều có rất nhiều làn điệu dân ca, phong tục đã được gìn giữ và vun đắp qua nhiều thế hệ.

Lễ hội mừng cơm mới của người Bru – Vân Kiều là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Khi lễ hội mừng cơm mới của dân tộc Bru – Vân Kiều ở xã Ngân Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trước đây, nay là xã Kim Ngân, tỉnh Quảng Trị được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, tỉnh này đã triển khai nhiều giải pháp để bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn. Bảo tồn và phát triển Lễ hội mừng cơm mới của dân tộc Bru – Vân Kiều gắn với việc phát triển du lịch sẽ góp phần nâng cao đời sống kinh tế – văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số sống trên dãy Trường Sơn.

Người Bru – Vân Kiều coi thần lúa là vị thần quan trọng nhất. Vì vậy, bà con rất coi trọng các lễ cúng mùa vụ, như lễ trỉa lúa, lễ mừng cơm mới… Bà con cúng tạ ơn các thần linh phù hộ có một vụ mùa tốt, cầu xin thần lúa, và các vị thần sông, thần núi cho bà con vụ mùa tới tốt hơn.

Già làng Hồ Nham, ở bản Khe Giữa, xã Ngân Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trước đây, nay là xã Kim Ngân, tỉnh Quảng Trị cho biết, lễ hội mừng cơm mới được đồng bào Bru – Vân Kiều tổ chức vào khoảng tháng 10 âm lịch hàng năm, khi vụ mùa kết thúc để bước vào một vụ mùa mới. “Cấp bằng di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cho Lễ hội Mừng cơm mới của người Bru – Vân Kiều, bà con rất phấn khởi vui mừng. Con cháu cũng trình diễn lại lễ hội Mừng cơm mới từ xa xưa đến nay. Mong muốn Nhà nước tạo điều kiện để bà con được phát triển du lịch từ lễ hội này”.

Những di sản văn hóa là cầu nối gắn cộng đồng Vân Kiều gần nhau hơn, xây dựng mối đại đoàn kết bản làng, dân tộc

Người Bru – Vân Kiều bao năm vẫn sống trong những lo toan về cái ăn, cái mặc vì họ sống ở những địa bàn miền núi, biên giới xa xôi. Bà con đã hội tụ và lưu giữ khá nguyên vẹn các loại hình văn hóa phi vật thể, văn hóa vật thể, các nghề thủ công truyền thống, nghệ thuật trình diễn dân gian gắn với các hoạt động lao động, sản xuất, các làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc.

Nói đến văn nghệ dân gian của Bru -Vân Kiều phải kể tới kho truyện kể và những bản tình ca rất đặc sắc được truyền từ đời nọ qua đời kia. Họ có thể kể cho nhau nghe vào bất cứ lúc nào, trong lúc gieo trồng, hay khi nghỉ ngơi sau giờ lao động mệt nhọc, bên bếp lửa hồng giữa ngôi nhà sàn. Trong vòng quay của cuộc sống hiện đại, những bậc cao niên lo lắng khi giới trẻ nơi đây dần tiếp thu những văn hóa hiện đại hơn, rồi một ngày nào đó sẽ lãng quên nét văn hóa đặc trưng của đồng bào mình.

Những người phụ nữ Vân Kiều say sưa biểu diễn làn điệu dân gian của đồng bào mình

Chị Hồ Thị Khuyên, dân tộc Bru – Vân Kiều ở xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình trước đây, nay là xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị nói rằng, những nét văn hóa truyền thống của đồng bào mình phải gắn liền với cuộc sống hàng ngày, phải phát huy giá trị đó vào du lịch cộng đồng như thế vừa đảm bảo kinh tế cho bà con, vừa có thể bảo tồn cho đời sau.

Theo chị Hồ Thị Khuyên, trong công tác bảo tồn cần phải trao truyền những di sản này từ các nghệ nhân đến thế hệ sau, tổ chức trình diễn, hướng dẫn dân ca, dân vũ, dân nhạc truyền thống của dân tộc Bru – Vân Kiều. “Qua những lớp tập huấn trao truyền giá trị văn hóa, tôi và các anh chị được các nghệ nhân truyền đạt lại các làn điệu của người Bru – Vân Kiều. Từ đó mình hiểu hơn, sau này truyền đạt lại cho thế hệ trẻ hơn mình để các cháu cũng hiểu hơn về truyền thống của người Bru – Vân Kiều. Các làn điệu ru con, điệu Tà Ổi của người Vân Kiều giúp mình thấu hiểu hơn truyền thống của người Bru – Vân Kiều”.

Phụ nữ Vân Kiều thể hiện những làn điệu truyền thống

Nghệ nhân Hồ Thao, ở xã Kim Ngân, tỉnh Quảng Trị cho biết, ngày đó, vùng ông ở có nhiều lễ hội để trai gái hẹn hò, gặp nhau. Đặc biệt, trong những dịp đi sim, ai muốn có bạn tình thì phải biết đàn, hát, thổi sáo. Từ những yếu tố đặc thù như thế nên trai gái trong vùng ai cũng đam mê học nhạc. Người biết nhiều thì truyền cho người biết ít, người biết ít truyền lại cho người chưa biết nên trai gái trong vùng gần như ai cũng biết hát, đàn, thổi sáo. Nhưng bây giờ thì khác, cuộc sống hiện đại, thanh niên trẻ sống với điện thoại, hẹn hò nhau thì ngồi mở điện thoại nghe nhạc, xem phim chứ ít ai còn nhắc đến nét truyền thống ngày xưa.

Nghệ nhân Hồ Thao tâm sự, việc truyền dạy cho cộng đồng những di sản văn hóa phi vật thể là cần thiết. Như vậy các di sản văn hóa phi vật thể mới tiếp tục bám rễ và sống bền bỉ trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Bên cạnh đó, địa phương cần phục dựng một số lễ hội tiêu biểu, lễ hội truyền thống từ đó nhân rộng, khuyến khích bảo lưu giá trị văn hoá cổ truyền.

“Phục hồi và trao truyền lại cho con cháu những bản sắc dân tộc, tiếng hát người Bru – Vân Kiều của mình. Các làn điệu Tà Ỏi, Xà Nớt. Chính sách của Đảng, Nhà nước muốn phục dựng lại văn hóa Bru – Vân Kiều mình thì mình phải cố giữ gìn phát huy, phục hồi bản sắc dân tộc mình để con cháu nối tiếp để không bao giờ mai một gốc của Bru – Vân Kiều”.

Ngoài các lễ hội truyền thống, người Bru – Vân Kiều có kho tàng văn nghệ dân gian rất phong phú. Cùng với đa dạng các loại nhạc cụ như trống, thanh la, kèn…, họ còn có rất nhiều làn điệu hát khác nhau. Ngôn ngữ bình thường của người Bru – Vân Kiều cũng rất giàu hình tượng. Nhiều câu nói trong giao tiếp hàng ngày giống như ca dao, tục ngữ. Dù đã có nhiều nỗ lực, công tác bảo tồn văn hóa truyền thống hiện đang đối mặt với nhiều thách thức.

Sự ảnh hưởng từ xu hướng “sính ngoại” và sự mai một trong việc trao truyền di sản đang gây nguy cơ làm nhạt phai những nét đặc sắc văn hóa. Một bộ phận thanh niên chưa thật sự quan tâm đến di sản, do đó việc khơi dậy lòng tự hào văn hóa là điều cần thiết. Thời gian qua, công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Trị cũng đã được các cấp, ngành rất quan tâm.

Các nghi thức làm lễ mừng cơm mới của người Bru – Vân Kiều

Nhận thấy tầm quan trọng, những giá trị đặc sắc và sự cần thiết phải bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản văn hóa phi vật thể, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị đã kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, trong đó có đồng bào dân tộc Bru – Vân Kiều. Để các di sản văn hóa không dần mai một, cách làm hiệu quả nhất là gắn việc bảo tồn với phát huy giá trị văn hóa trong phát triển du lịch. Thực tế, tỉnh Quảng Bình trước đây và tỉnh Quảng Trị bây giờ đang triển khai mô hình du lịch văn hóa cộng đồng, lấy giá trị văn hóa cốt yếu của bà con Bru – Vân Kiều làm trọng tâm để kết nối với các điểm du lịch khác.

Theo ông Mai Xuân Thành, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị, giữ gìn bản sắc văn hóa đồng bào Bru – Vân Kiều không chỉ là một sứ mệnh văn hóa mà còn đem lại cơ hội phát triển kinh tế bền vững thông qua du lịch. “Trong thời gian qua, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, ngành văn hóa tỉnh Quảng Bình phối hợp chặt chẽ Vụ Văn hóa Dân tộc thì những giá trị văn hóa truyền thống như dân ca, dân vũ, dân nhạc của đồng bào Bru – Vân Kiều trên địa bàn đã được quan tâm khôi phục, phát triển, phát huy. Triển khai các lớp tập huấn truyền dạy các giá trị văn hóa phi vật thể trong đó có các loại hình dân ca dân vũ dân nhạc của đồng bào. Tổ chức xây dựng các câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa dân gian và trong các câu lạc bộ này nội dung chủ yếu tập trung vào khôi phục, phát huy, truyền dạy từ các nghệ nhân cho đồng bào”.

Thanh Hiếu

 

Nguồn: Dulichvn

Lâm Đồng: Gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch

Dự án Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số (DTTS) gắn với phát triển du lịch đã góp phần gìn giữ, lan tỏa bản sắc văn hóa. Đồng thời kết hợp hài hòa giữa bảo tồn với phát triển du lịch và kinh tế – xã hội, tạo thêm sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.


Khôi phục nghề dệt ở tổ 42, phường 2 Bảo Lộc

Tại tổ 42, phường 2 Bảo Lộc, những khung dệt từng bị bỏ quên nay được dựng lại giữa nhà sàn, nơi ánh sáng chan hòa trên từng sợi vải. 20 thành viên Tổ dệt thổ cẩm vẫn ngày ngày kiên trì, người lớn tận tình truyền dạy, người trẻ chăm chỉ học từng hoa văn. Hơn 2 năm qua, mái nhà sàn truyền thống không chỉ là không gian sinh hoạt cộng đồng mà còn là không gian nghề truyền thống, giới thiệu sản phẩm cho du khách trong và ngoài địa phương. Từ chỗ đứng trước nguy cơ mai một, nhờ nguồn vốn và sự hỗ trợ của ngành văn hóa, thể thao và du lịch, Tổ dệt thổ cẩm nay trở thành minh chứng cho nỗ lực khôi phục văn hóa bằng cách làm phù hợp, đồng thời là nguồn lực tiếp sức cho cộng đồng phát triển.

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, dự án Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các DTTS gắn với phát triển du lịch (gọi tắt là Dự án 6), thuộc chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025, đã góp phần khôi phục, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống gắn với du lịch. Qua đó giúp ổn định đời sống đồng bào và tạo cơ hội phát triển kinh tế – xã hội địa phương.

Đơn vị đã triển khai nhiều hoạt động bảo tồn và quảng bá di sản văn hóa phi vật thể: phục dựng Lễ hội Nhô Phú (cầu mùa), Lễ Nhô Dơng (cầu mưa) tại xã Đam Rông 4; xây dựng 3 mô hình văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS gắn với phát triển du lịch; xuất bản 3 ấn phẩm về văn hóa các dân tộc. Đồng thời hỗ trợ nghiên cứu, phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một như dân ca, dân vũ, nghề dệt và gốm thủ công truyền thống.

Tại địa bàn Đắk Nông và Bình Thuận cũ, Dự án 6 đã hỗ trợ vốn chống xuống cấp các di tích lịch sử gắn với phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của đồng bào M’nông do N’Trang Lơng lãnh đạo; tu bổ, tôn tạo di tích văn hóa Chăm; bảo tồn và phát huy các lễ hội truyền thống tiêu biểu của đồng bào DTTS gắn với khai thác, xây dựng sản phẩm du lịch. Dự án cũng tổ chức các lớp truyền dạy kỹ thuật làm gốm, dân ca, dân vũ, dân nhạc, đan lát và nhạc cụ truyền thống của người Chăm, K’ho. Đồng thời hỗ trợ tuyên truyền, quảng bá giá trị văn hóa tiêu biểu của các DTTS, kết hợp xúc tiến du lịch, khảo sát tiềm năng và lựa chọn xây dựng sản phẩm đặc trưng cho từng vùng.

Dự án còn góp phần nâng cao ý thức, niềm tự hào về bản sắc văn hóa của đồng bào DTTS, khuyến khích cộng đồng gìn giữ, phát huy và lan tỏa các giá trị truyền thống trong đời sống hiện đại. Hiện nay, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các địa phương tiếp tục triển khai mô hình sinh hoạt văn hóa truyền thống, phục dựng lễ hội gắn với phát triển du lịch, quảng bá rộng rãi di sản các dân tộc. Qua đó xây dựng và nhân rộng những mô hình hiệu quả, gắn bảo tồn với phát triển du lịch, góp phần phát triển kinh tế – xã hội và tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân.

Hồng Thắm

 

Nguồn: Dulichvn

TIN MỚI NHẤT