Trang chủ Du lịch trong nước

Du lịch trong nước

Du lịch trong nước, tin tức du lịch trong nước, các tour du lịch trong nước, các địa điểm du lịch trong nước hấp dẫn được chúng tôi tổng hợp và đưa tin hàng ngày đến cho khách du lịch trên khắp mọi miền đất nước có được thông tin du lịch trong nước để có những thông tin hữu ích nhất cho mình và gia đình khi quyết định chọn chuyến du lịch trong nước cho mình và người thân

Đà Nẵng: Di sản mở lối du lịch Bàn Thạch

Những ngày qua, Lễ hội văn hóa – du lịch “Địa đạo Kỳ Anh – Bãi Sậy Sông Đầm” năm 2026 đã đưa du khách đến gần hơn với lịch sử, văn hóa làng và cảnh quan sông nước.


Người dân và du khách trải nghiệm bữa cơm chiến sĩ tại Lễ hội văn hóa – du lịch “Địa đạo Kỳ Anh – Bãi Sậy Sông Đầm” năm 2026. Ảnh: Phan Vinh

Chuỗi hoạt động cho thấy những giá trị được gìn giữ lâu đời có thể trở thành sản phẩm trải nghiệm, tạo thêm sức hút cho điểm đến và mở ra sinh kế cho cộng đồng địa phương.

Ký ức sống lại

Nhiều hoạt động tại lễ hội được tổ chức để người dân và du khách trực tiếp tham gia, thay vì chỉ tham quan. Chị Đặng Thị Huyền Trâm (xã Hiệp Đức) cùng gia đình đến Bàn Thạch vào dịp cuối tuần, đưa các con trải nghiệm địa đạo, chèo kayak trên sông Đầm lúc sáng sớm và thưởng thức những món ăn quê trong khu vực lễ hội. “Không khí rất rộn ràng nhưng vẫn giữ được sự trang nghiêm ở khu di tích. Các con được nghe kể chuyện về địa đạo, tự mình bước xuống lòng đất rồi buổi sáng hôm sau lại ra sông chèo thuyền. Một chuyến đi có cả lịch sử, thiên nhiên và những trải nghiệm gần gũi nên các cháu nhớ rất lâu”, chị Trâm chia sẻ.

Trong chuỗi hoạt động của lễ hội, chương trình thực cảnh “Bộ đội về làng” đưa người xem trở lại những năm tháng kháng chiến qua hình ảnh đoàn quân hành quân, xe đạp thồ chở lương thực, bữa cơm chiến sĩ và vòng tay đón bộ đội trở về.

Hơn 150 cựu chiến binh, hội viên phụ nữ, nông dân, đoàn viên thanh niên cùng tham gia, để câu chuyện lịch sử hiện lên qua gương mặt, bước chân và ký ức của chính cộng đồng địa phương. Dịp này, nhiều đoàn cơ quan, đơn vị cũng chọn địa đạo Kỳ Anh làm nơi sinh hoạt chuyên đề.

Chi bộ Văn phòng HĐND – UBND phường Hòa Khánh tham quan địa đạo Kỳ Anh. Ảnh: Phan Vinh

Ông Phan Thịnh, Bí thư Chi bộ Văn phòng HĐND – UBND phường Hòa Khánh cho biết, việc tổ chức sinh hoạt tại một “địa chỉ đỏ” giúp cán bộ, đảng viên hiểu sâu hơn về lịch sử địa phương qua dấu tích, câu chuyện và nhân chứng cụ thể. “Những điều được nghe, được thấy tại địa đạo Kỳ Anh làm cho buổi sinh hoạt có thêm chiều sâu, nhắc mỗi người trân trọng hòa bình, nhìn lại trách nhiệm đối với công việc và cộng đồng, từ đó làm tốt hơn phần việc được giao”, ông Thịnh nói.

Người dân và du khách khá ấn tượng với đêm khai mạc đưa ký ức ấy lên sân khấu “Địa đạo Kỳ Anh – Bản hùng ca trong lòng đất”. Ba chương biểu diễn tái hiện cảnh dân làng đào địa đạo, nuôi giấu cán bộ, giữ làng giữa bom đạn rồi mở ra hình ảnh Bàn Thạch hôm nay. Âm nhạc, ánh sáng và hoạt cảnh giúp câu chuyện lịch sử trở nên gần gũi với người xem.

Bên cạnh các chương trình lớn, tiếng hô bài chòi ở Thạch Tân, Vĩnh Bình giữ cho lễ hội vẻ mộc mạc, vui tươi của sinh hoạt dân gian xứ Quảng. Lễ hội giữ được nét gần gũi rất riêng.

Sông Đầm lung linh trong chương trình thả hoa đăng. Ảnh: UBND phường Bàn Thạch

Nét riêng cho điểm đến

Từ địa đạo Kỳ Anh, hành trình của du khách tiếp tục về Bãi Sậy Sông Đầm với nhiều trải nghiệm ý nghĩa. Trong đó, hoạt động thả cá, tôm giống tái tạo nguồn lợi thủy sản được tổ chức bên dòng sông, gợi nhắc trách nhiệm bảo vệ hệ sinh thái trong quá trình khai thác du lịch.

Ngoài ra, các đêm hô hát bài chòi tại Thạch Tân, Vĩnh Bình, hội thi dân vũ cộng đồng, giải đua kayak đôi, không gian tranh ảnh, nghề dệt chiếu cói và ẩm thực địa phương mang đến nhiều lựa chọn cho du khách.

Ông Võ Văn Thiên, Giám đốc Trung tâm Cung ứng dịch vụ công phường Bàn Thạch cho biết, công tác tổ chức được chuẩn bị theo hướng kết nối các điểm đến, phân bổ hoạt động theo nhiều khung giờ để người dân, du khách có thể tham gia trọn vẹn. Các lực lượng tại địa phương cùng đảm nhiệm việc đón tiếp, hướng dẫn, bảo đảm an ninh, an toàn đường thủy, vệ sinh môi trường và phục vụ tại các không gian trải nghiệm.

“Lượng người tham dự đông, nhiều hoạt động diễn ra liên tục nhưng cơ bản vẫn bảo đảm an toàn, nền nếp. Điều đáng mừng là người dân tham gia chủ động, từ làm ẩm thực, hướng dẫn khách, biểu diễn bài chòi, dân vũ đến tái hiện thực cảnh khiến du khách cảm nhận rõ hơn sự gần gũi và bản sắc của Bàn Thạch”, ông Thiên nói.

Việc kết nối địa đạo Kỳ Anh và Bãi Sậy Sông Đầm phù hợp với điều kiện và thế mạnh của địa phương. Địa đạo gắn với lịch sử đấu tranh, tình quân dân và cách người dân che chở lực lượng cách mạng ngay trong lòng làng. Sông Đầm có cảnh quan sông nước, bãi sậy, hệ sinh thái tự nhiên và đời sống cư dân.

Trình diễn hoạt động tiếp tế lương thực cho bộ đội ở địa đạo Kỳ Anh. Ảnh: Phan Vinh

Tour trải nghiệm gồm tham quan địa đạo, chèo thuyền, ngắm cảnh, xem chim đồng, thưởng thức món quê, giúp kéo dài thời gian lưu lại và tạo thêm cơ hội để người dân tham gia phục vụ du lịch.

Ông Trương Ngọc Hải, Phó Chủ tịch UBND phường Bàn Thạch cho rằng, lễ hội đã tạo được dấu ấn bước đầu khi giới thiệu các giá trị lịch sử, văn hóa và sinh thái trong cùng một chương trình. Địa phương sẽ tiếp tục đánh giá từng hoạt động, hoàn thiện khâu tổ chức, nâng chất lượng dịch vụ, xây dựng thêm sản phẩm trải nghiệm và tăng liên kết với các đơn vị lữ hành.

“Bàn Thạch hướng đến tổ chức lễ hội thành sự kiện thường niên, có nét riêng, đủ sức thu hút du khách quay lại. Mỗi hoạt động phải góp phần bảo tồn văn hóa, phát huy giá trị di tích, gìn giữ môi trường sông Đầm và tạo thêm sinh kế cho cộng đồng. Khi người dân thực sự được hưởng lợi, lễ hội mới có sức sống lâu dài”, ông Hải cho biết thêm.

Phan Vinh

 

Nguồn: Dulichvn

Vũ điệu Chăm làm sống lại không gian tháp cổ tỉnh Khánh Hòa

Trong không gian linh thiêng của tháp cổ, mỗi điệu múa Chăm là một thực hành văn hóa sống động, minh chứng cho sự thành công của công tác bảo tồn di sản tỉnh Khánh Hòa.


Việc duy trì và phát triển các vũ điệu này không đơn thuần là trình diễn nghệ thuật mà là một nỗ lực nghiên cứu, phục dựng và trao truyền tri thức tâm linh, bảo đảm tính nguyên bản của di sản được tôn trọng trong khi vẫn tìm kiếm không gian biểu đạt mới trong xã hội hiện đại.

Thiếu nữ Chăm nổi bật trong điệu múa truyền thống.

Trang phục truyền thống rực rỡ của vũ công Chăm nổi bật trên nền gạch cổ kính.

Điệu múa Chăm kết hợp với trống Paranưng đã trở thành một sản phẩm văn hóa, du lịch độc đáo.

Khán giả say sưa theo dõi từng nhịp điệu, cảm nhận sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại.

Chùm ảnh của Lâm Anh

 

Nguồn: Dulichvn

Xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa

Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa được xác định là động lực tăng trưởng mới, việc xây dựng một hệ sinh thái liên kết được xem là điều kiện tiên quyết để biến tài nguyên văn hóa thành nguồn lực kinh tế.


Buổi biểu diễn âm nhạc đặc sắc tại không gian Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam – đem đến trải nghiệm hấp dẫn du khách.

Chưa tạo thành sức mạnh tổng hợp

Những năm gần đây, nhiều địa phương đã bước đầu khai thác các giá trị văn hóa để phát triển kinh tế. Hà Nội phát huy lợi thế của Thành phố sáng tạo trong mạng lưới UNESCO; Huế gắn di sản với Festival; Ninh Bình kết nối di sản với điện ảnh và du lịch trải nghiệm; Bắc Ninh khai thác dân ca Quan họ trong các sản phẩm du lịch…

Tuy nhiên thiếu kết nối khiến nhiều giá trị văn hóa chưa thể chuyển hóa thành sản phẩm có sức cạnh tranh cao trên thị trường. Nhiều làng nghề nổi tiếng vẫn chủ yếu bán sản phẩm thủ công truyền thống mà chưa kết hợp với thiết kế sáng tạo, thương hiệu, thương mại điện tử hay trải nghiệm du lịch. Các loại hình nghệ thuật truyền thống cũng còn loay hoay trong việc tìm kiếm khán giả trẻ. Thực tế cho thấy, điểm nghẽn không nằm ở việc Việt Nam thiếu tài nguyên văn hóa, mà ở chỗ các nguồn lực ấy chưa được đặt trong cùng một hệ sinh thái để hỗ trợ và gia tăng giá trị cho nhau.

Theo Giám đốc S-DCI, TS. KTS Nguyễn Thu Hạnh, Việt Nam hiện sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa rất phong phú với hệ thống di sản vật thể, phi vật thể, bảo tàng, lễ hội, làng nghề, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, mỹ thuật, thiết kế, ẩm thực và nhiều loại hình sáng tạo khác. Đây là nền tảng để hình thành hệ sinh thái của 12 ngành công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, trên thực tế, các nguồn lực này vẫn chủ yếu phát triển theo từng lĩnh vực riêng lẻ, chưa hình thành được những mô hình liên kết đủ mạnh để tạo ra chuỗi giá trị tổng hợp, gia tăng trải nghiệm cho công chúng và tạo nguồn thu bền vững từ di sản. Du lịch văn hóa chủ yếu khai thác tham quan, ẩm thực và dịch vụ chưa trở thành sản phẩm văn hóa đặc thù. Các hoạt động truyền thông, xuất bản, điện ảnh, quảng cáo… thiếu điểm giao thoa.

Để trở thành động lực phát triển

Công nghiệp văn hóa cũng như những lĩnh vực khác, chỉ có thể phát triển khi các nguồn lực được kết nối thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh, từ bảo tồn, sáng tạo, sản xuất, truyền thông đến tiêu dùng. Chính vì vậy, cần sớm xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành thay vì quản lý theo từng lĩnh vực riêng biệt. Mỗi địa phương cũng cần xác định rõ lợi thế văn hóa để hình thành hệ sinh thái sáng tạo đặc trưng, kết nối giữa di sản, du lịch, công nghệ, thiết kế và doanh nghiệp.

Đánh giá mô hình liên kết phát triển 12 ngành công nghiệp văn hóa, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban văn hóa và xã hội của Quốc hội cho rằng, mô hình liên kết được nhìn nhận như một thiết chế trung gian của công nghiệp văn hóa. Đây là nơi các nguồn lực được kết nối; các ý tưởng được thử nghiệm; các sản phẩm được kiểm chứng; các chủ thể được đối thoại; các chính sách được soi chiếu qua thực tiễn; các giá trị truyền thống được chuyển hóa thành ngôn ngữ đương đại. Để triển khai thành công và nhân rộng mô hình này thời gian tới, các địa phương cần xác định rõ mô hình điều phối. cần xây dựng bộ tiêu chí lựa chọn sản phẩm và đối tác; phát triển nền tảng số dùng chung; chú trọng đào tạo nhân lực trung gian…

Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo đang trở thành xu hướng, Việt Nam có nhiều lợi thế để bứt phá. Điều cần thiết hiện nay là xây dựng một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đủ mạnh, nơi các nguồn lực văn hóa không còn tồn tại riêng lẻ mà được kết nối, cộng hưởng và tạo thành chuỗi giá trị bền vững. Khi đó, văn hóa sẽ không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng, đóng góp thiết thực cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao vị thế quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.

Phạm Sỹ

Nguồn: Dulichvn

Bồn bồn – Hương vị đồng quê trong từng món ngon miền Tây Nam Bộ

Giữa mênh mang sông nước Cửu Long, nơi những cánh đồng ngập nước trải dài theo mùa lũ, cây bồn bồn từ lâu đã trở thành một phần của đời sống người dân các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Loài cây mọc hoang tưởng chừng bình dị ấy không chỉ gắn với ký ức tuổi thơ của bao thế hệ mà còn trở thành nguyên liệu tạo nên nhiều món ăn dân dã, thơm ngon, mang đậm hồn quê Nam Bộ.


Ngày trước, bồn bồn mọc tự nhiên dày đặc ở những vùng đất ngập nước thuộc các tỉnh: Cà Mau, An Giang, Đồng Tháp… Mỗi mùa nước nổi, người dân chỉ cần lội đồng là có thể thu hoạch những bẹ non trắng ngần. Ngày nay, trước nhu cầu ngày càng lớn của thị trường, nhiều địa phương đã phát triển mô hình trồng bồn bồn, vừa bảo tồn đặc sản quê hương vừa tạo thêm nguồn thu nhập ổn định cho người dân.

Cây bồn bồn từ mọc hoang nay đã thành cây trồng hàng hóa đem lại thu nhập ổn định cho người dân miền Tây Nam Bộ.

Điều làm nên giá trị của bồn bồn chính là phần lõi non trắng mập, giòn ngọt tự nhiên. Sau khi bóc bỏ lớp bẹ già bên ngoài, phần nõn bên trong có thể chế biến thành nhiều món ăn hấp dẫn. Không cầu kỳ, chính sự mộc mạc ấy lại tạo nên nét riêng khiến thực khách một lần thưởng thức là nhớ mãi.

Nhắc đến các món ngon từ bồn bồn, trước hết phải kể đến gỏi bồn bồn tôm thịt, đây là món ăn gần như xuất hiện trong mọi bữa tiệc của người miền Tây. Những cọng bồn bồn tươi giòn được trộn cùng tôm sú luộc, thịt ba chỉ thái mỏng, rau thơm, đậu phộng rang và nước mắm chua ngọt. Vị giòn thanh của bồn bồn hòa quyện với vị ngọt của tôm, béo của thịt và hương thơm của các loại rau tạo nên một món khai vị vừa thanh mát vừa đậm đà.

Không chỉ làm gỏi, bồn bồn còn là nguyên liệu tuyệt vời cho các món canh chua. Canh chua cá lóc nấu bồn bồn mang hương vị đặc trưng của miền Tây với nước dùng chua thanh từ me, vị ngọt của cá đồng và độ giòn tự nhiên của bồn bồn. Trong những ngày hè oi ả, bát canh nóng hổi, thơm mùi rau ngổ, ngò om khiến bữa cơm gia đình thêm tròn vị.

Món bồn bồn xào tôm thơm ngon.

Một món ăn khác được nhiều người yêu thích là bồn bồn xào tôm. Chỉ với vài nguyên liệu đơn giản, người nội trợ đã có thể tạo nên món ăn hấp dẫn. Bồn bồn sau khi xào vừa chín tới vẫn giữ được độ giòn, quyện với vị ngọt của tôm tươi và mùi thơm của tỏi phi, tạo nên món ăn đưa cơm nhưng không hề ngấy.

Đặc biệt, dưa bồn bồn được xem là “đặc sản trong đặc sản” của vùng đất miền Tây. Sau khi muối lên men vừa đủ, bồn bồn có vị chua dịu, giòn sần sật. Dưa bồn bồn có thể ăn kèm cá kho, thịt luộc, cá nướng hoặc dùng để xào với thịt bò, tép đồng đều rất ngon. Mỗi miếng dưa như lưu giữ trọn hương vị của đồng quê, càng ăn càng cảm nhận được nét mộc mạc mà tinh tế của ẩm thực miền sông nước.

Ngoài ra, bồn bồn còn được chế biến thành nhiều món khác như bồn bồn xào tép đồng, bồn bồn kho cá, lẩu mắm ăn kèm bồn bồn hay đơn giản chỉ là bồn bồn chấm mắm kho… các món ăn gợi nhớ tuổi thơ của biết bao người con Nam Bộ.

Không chỉ ngon miệng, bồn bồn còn chứa nhiều chất xơ, vitamin và khoáng chất, có vị thanh mát, ít năng lượng nên phù hợp với xu hướng ăn uống lành mạnh. Chính vì vậy, nguyên liệu dân dã này ngày càng xuất hiện nhiều trong thực đơn của các nhà hàng, khu du lịch sinh thái và trở thành món quà quê được du khách tìm mua sau mỗi chuyến về miền Tây Nam Bộ.

Các sản phẩm đặc sản từ cây bồn bồn đã đến tay người tiêu dùng trên cả nước, làm phong phú thêm ẩm thực vùng miền.

Đặc biệt, những năm gần đây, cùng với những người con miền Tây Nam Bộ đến Cao Bằng sinh sống, lập nghiệp, hương vị bồn bồn cũng theo chân họ đến với vùng non nước. Đồng thời, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin chỉ với với vài thao tác trên các sàn thương mại điện tử, các sản phẩm, như: dưa bồn bồn, bồn bồn tươi sơ chế hay bồn bồn đóng gói hút chân không đã có thể được giao đến tận tay người tiêu dùng ở Cao Bằng và nhiều tỉnh, thành trên cả nước.

Sự hiện diện của bồn bồn tại Cao Bằng không chỉ là câu chuyện của một món ăn mà còn phản ánh sự giao thoa văn hóa ẩm thực giữa các vùng miền. Người miền Tây gửi gắm nỗi nhớ quê qua những món ăn thân thuộc, còn người Cao Bằng có thêm cơ hội khám phá một nguyên liệu mới, cảm nhận vị giòn ngọt đặc trưng của cây bồn bồn trong sự kết hợp hài hòa với các nguyên liệu địa phương. Từ những gian bếp gia đình đến không gian ẩm thực, từ chợ truyền thống đến các nền tảng số, bồn bồn đang từng bước khẳng định sức hấp dẫn của một đặc sản vùng miền, góp phần kết nối hương vị Bắc – Nam và làm phong phú thêm bản đồ ẩm thực Việt Nam.

P.V

Nguồn: Dulichvn

Mở không gian mới cho Làng Văn hóa – Du lịch

Việc đưa Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội) về thành phố Hà Nội quản lý đang mở ra kỳ vọng về một giai đoạn phát triển mới đối với thiết chế văn hóa đặc biệt này. Không chỉ giải quyết những điểm nghẽn trong công tác quản lý, khai thác, đây còn là cơ hội để phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam, gắn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm sáng tạo của cả nước.


Du khách hòa chung điệu xòe cùng đồng bào tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Khai thác xứng tầm

Sau gần 20 năm hình thành và đi vào hoạt động, Làng Văn hóa đã trở thành địa điểm bảo tồn và tái hiện không gian văn hóa truyền thống của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Nhiều công trình kiến trúc dân gian, hiện vật văn hóa cùng các hoạt động trình diễn, lễ hội, sinh hoạt cộng đồng đã góp phần giới thiệu những giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam đến đông đảo người dân và du khách.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, tiềm năng của Làng Văn hoá vẫn chưa được khai thác tương xứng. Không ít hạng mục còn hoạt động cầm chừng, lượng khách chưa ổn định, các sản phẩm du lịch còn thiếu tính hấp dẫn, trong khi việc kết nối với các điểm đến khác của Hà Nội chưa thực sự hiệu quả.

Trong bối cảnh Hà Nội đang đặt mục tiêu trở thành trung tâm công nghiệp văn hóa của khu vực, việc chuyển giao Làng Văn hóa cho thành phố Hà Nội, được xem là bước đi phù hợp nhằm thống nhất đầu mối quản lý. Đồng thời phát huy tốt hơn nguồn lực về quy hoạch, đầu tư, xúc tiến du lịch và tổ chức các sự kiện văn hóa.

Lợi thế lớn của Hà Nội là sở hữu hệ thống hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện, lượng khách du lịch lớn, cùng mạng lưới các điểm đến nổi tiếng như Ba Vì, Sơn Tây… Nếu được kết nối thành các tuyến du lịch chuyên đề, Làng Văn hóa sẽ không còn là điểm đến đơn lẻ mà trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi sản phẩm du lịch văn hóa của Thủ đô.

Quan trọng hơn, khi được đặt trong chiến lược phát triển chung của Thủ đô, Làng Văn hoá sẽ có thêm điều kiện để huy động nguồn lực xã hội hóa, thu hút doanh nghiệp tham gia đầu tư dịch vụ, nâng cao chất lượng trải nghiệm và từng bước hình thành hệ sinh thái văn hóa – du lịch hiện đại.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng việc chuyển giao nguyên trạng Làng Văn hóa về UBND thành phố Hà Nội là bước chuyển quan trọng nhằm tạo thêm nguồn lực để phát huy giá trị của một thiết chế văn hóa mang tầm quốc gia. Khi chuyển về Hà Nội, hơi thở của Làng Văn hoá vẫn được giữ nguyên. Hàng ngày, đồng bào các dân tộc từ nhiều vùng miền vẫn hiện diện tại đây, tiếp tục sinh hoạt, gìn giữ phong tục, trình diễn lễ hội, giới thiệu nghề truyền thống và giao lưu với du khách. Điều đó tạo nên giá trị khác biệt mà ít thiết chế văn hóa nào có được.

Tái hiện lễ mừng lúa mới của đồng bào Churu tại Làng Văn hoá.

Phát triển đa dạng các loại hình du lịch văn hóa.

Điều làm nên giá trị khác biệt của Làng Văn hóa không nằm ở các công trình kiến trúc, mà ở chính những chủ thể văn hóa – đồng bào các dân tộc đang sinh sống, hoạt động và tái hiện đời sống văn hóa truyền thống tại đây.

Đến với Làng Văn hoá, du khách không chỉ tham quan nhà sàn, nhà rông hay các công trình kiến trúc truyền thống mà còn có thể trực tiếp trải nghiệm nghề thủ công, thưởng thức nghệ thuật dân gian, khám phá ẩm thực vùng miền và tham gia các hoạt động sinh hoạt cộng đồng. Đây cũng là nền tảng quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Những giá trị văn hóa dân tộc có thể trở thành chất liệu cho thiết kế sáng tạo, thời trang, điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, trò chơi số, sản phẩm lưu niệm, biểu diễn nghệ thuật và các hoạt động giáo dục trải nghiệm. Thay vì chỉ bảo tồn theo cách tĩnh, văn hóa sẽ được chuyển hóa thành các sản phẩm có giá trị kinh tế nhưng vẫn giữ được bản sắc.

Không gian rộng lớn của Làng Văn hoá hoàn toàn có thể trở thành địa điểm tổ chức các festival văn hóa quốc tế, liên hoan nghệ thuật dân gian, tuần lễ thời trang lấy cảm hứng từ văn hóa truyền thống, các chương trình biểu diễn thực cảnh hay hội chợ văn hóa sáng tạo. Đây là những loại hình đang được nhiều quốc gia khai thác hiệu quả để thu hút khách du lịch và quảng bá hình ảnh đất nước.

Tại buổi làm việc với làm việc với Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam mới đây, Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Phong nhận định: Với tiềm năng, vị trí và xu hướng phát triển của Làng Văn hóa cùng toàn bộ khu vực phía Tây Thủ đô, cần mạnh dạn đặt mục tiêu xây dựng nơi đây đạt quy mô quốc tế. Để hiện thực hóa điều này, phải sớm xây dựng quy hoạch tổng thể cho toàn vùng; đồng thời có chiến lược thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng và định hướng phát triển.

Theo Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội Nguyễn Trọng Kỳ Anh, Làng Văn hóa hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các loại hình du lịch, văn hóa, vui chơi, giải trí quy mô lớn của Thủ đô. Về quy hoạch, khu vực này đã có nền tảng pháp lý tương đối đầy đủ, có là nền tảng quan trọng để tiếp tục thu hút đầu tư và phát triển khu vực.

Việc Hà Nội tiếp nhận quản lý Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam không chỉ là sự thay đổi về mặt hành chính. Điều được kỳ vọng hơn cả là tạo nên một động lực mới để khơi dậy sức sống của “Ngôi nhà chung” 54 dân tộc Việt Nam, biến nơi đây thành điểm hẹn văn hóa của cả nước, trung tâm giao lưu quốc tế và một cực tăng trưởng mới của công nghiệp văn hóa Thủ đô.

Phạm Sỹ

Nguồn: Dulichvn

Từ nhận diện giá trị đến kiến tạo tương lai cho di sản Huế

Di sản văn hóa chỉ thực sự có ý nghĩa khi không dừng lại ở việc được gìn giữ, mà tiếp tục trở thành nguồn lực cho phát triển. Đó cũng là tinh thần xuyên suốt của Hội thảo khoa học quốc tế về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa được tổ chức tại Huế ngày 18/7/2026. Quy tụ đông đảo các nhà khoa học, nhà quản lý và chuyên gia trong nước, quốc tế, hội thảo mở ra nhiều cách tiếp cận mới đối với di sản trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển công nghiệp văn hóa và xây dựng các đô thị di sản bền vững.


Chiếu của hoàng đế Minh Mạng được trưng bày trong không gian di sản. Ảnh: L. Minh

Trong bối cảnh Huế vừa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đồng thời đang hướng tới xây dựng mô hình đô thị di sản tiêu biểu của Việt Nam và khu vực, những vấn đề đặt ra tại hội thảo không chỉ mang ý nghĩa học thuật, mà còn gắn chặt với yêu cầu thực tiễn.

Chính vì vậy, từ phát biểu khai mạc của PGS.TS. Võ Thanh Tùng – Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học Huế; báo cáo đề dẫn của TS. Trần Thị Hồng Minh – Trưởng khoa Lý luận chính trị, Trường đại học Khoa học Huế đến các phiên thảo luận chuyên sâu, đều thống nhất một quan điểm: Cần chuyển từ tư duy “bảo tồn di tích” sang tư duy “quản trị di sản”, coi di sản là một hệ sinh thái sống, là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao chất lượng đời sống cộng đồng.

Điểm nổi bật của hội thảo là quy mô học thuật lớn với sự tham gia của nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và chuyên gia trong nhiều lĩnh vực như lịch sử, khảo cổ học, triết học, văn hóa học, bảo tàng học, quản lý di sản, lưu trữ học, nhân học và quy hoạch đô thị. Sự đa dạng ấy tạo nên một diễn đàn liên ngành đúng nghĩa, nơi di sản được nhìn nhận không chỉ như những công trình, hiện vật hay ký ức lịch sử, mà còn như một không gian văn hóa đang vận động, tương tác với cộng đồng, công nghệ, kinh tế và môi trường.

Bốn tiểu ban của hội thảo đã phản ánh khá đầy đủ các vấn đề đang đặt ra đối với di sản văn hóa hiện nay. Các tham luận không chỉ tổng kết thực tiễn bảo tồn mà còn đề xuất nhiều mô hình quản trị mới, tiếp cận từ góc nhìn quốc tế, đồng thời đối thoại với những vấn đề cụ thể của Huế. Nhiều ý tưởng mới được đưa ra, từ kinh tế di sản, công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số, quản trị dữ liệu di sản, giáo dục di sản, thích ứng với biến đổi khí hậu cho đến phát huy vai trò của cộng đồng trong bảo tồn.

Trong đó, Tiểu ban 3 – nơi tập trung 85 tham luận với 10 tham luận tiêu biểu được trình bày về bảo tồn và phát huy giá trị di sản Huế, đã để lại nhiều dấu ấn học thuật đáng chú ý. Các tham luận đã hình thành một bức tranh khá toàn diện, kết nối giữa lý luận và thực tiễn, giữa lịch sử và hiện đại, giữa di sản vật thể với di sản phi vật thể, giữa quản lý nhà nước với vai trò của cộng đồng.

Du khách chiêm ngắm Bộ tranh “Đại Lễ phục triều đình An Nam” tại Điện Thái Hòa. Ảnh: L. Minh

Điều đáng ghi nhận là nhiều cách tiếp cận mới đã xuất hiện tại diễn đàn. Khái niệm “không gian ký ức sống” được vận dụng khi so sánh Hoàng thành Huế với lâu đài Wawel của Ba Lan, gợi mở khả năng đưa di sản trở thành không gian giáo dục lịch sử và kiến tạo bản sắc đương đại. Quan điểm coi Quần thể di tích Cố đô Huế là một “hệ thống sống và tiến hóa”, hay nhìn nhận văn hóa như một “hàng hóa công toàn cầu” theo tinh thần UNESCO cũng góp phần mở rộng cách tiếp cận truyền thống đối với công tác bảo tồn. Những nghiên cứu về Bài chòi, ẩm thực chay Huế, di sản tư liệu, Nho giáo Triều Nguyễn hay quan hệ giữa Triều Nguyễn với Công giáo đều cho thấy nỗ lực đưa di sản trở về với đời sống, thay vì chỉ tồn tại trong hồ sơ, bảo tàng hay các sự kiện mang tính trình diễn.

Có thể nói, thông điệp lớn nhất của hội thảo là sự dịch chuyển trong tư duy về di sản. Nếu trước đây, mục tiêu chủ yếu là bảo vệ các đối tượng riêng lẻ, thì nay yêu cầu đặt ra là bảo vệ toàn bộ hệ sinh thái di sản; nếu trước đây trọng tâm là gìn giữ vật thể, thì nay phải đồng thời gìn giữ ký ức, tri thức, tập quán, không gian sống và cộng đồng thực hành. Di sản vì thế không còn là “phần còn lại của quá khứ” mà là một nguồn lực đang tiếp tục được sáng tạo và tái tạo trong đời sống đương đại.

Đối với Huế, những gợi mở từ hội thảo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thành phố đang đứng trước yêu cầu phải đồng thời giải quyết hai nhiệm vụ: Bảo tồn hệ thống di sản đồ sộ và tạo dựng động lực tăng trưởng mới dựa trên chính nguồn lực văn hóa ấy. Điều này đòi hỏi phải xây dựng mô hình quản trị hiện đại hơn, tăng cường ứng dụng công nghệ số, hình thành cơ sở dữ liệu di sản thống nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy công nghiệp văn hóa, đồng thời bảo đảm sự tham gia thực chất của cộng đồng. Chỉ khi người dân trở thành chủ thể của di sản, di sản mới thực sự sống và tiếp tục phát huy giá trị lâu dài.

Một điểm đáng trân trọng khác là tinh thần đối thoại cởi mở và hợp tác quốc tế được thể hiện xuyên suốt hội thảo. Các tham luận không chỉ giới thiệu kinh nghiệm của nhiều quốc gia mà còn luôn đặt vấn đề trong bối cảnh đặc thù của Huế, tránh sao chép máy móc các mô hình từ bên ngoài. Chính cách tiếp cận ấy giúp những bài học quốc tế trở thành nguồn tham khảo hữu ích để Huế lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và xã hội của mình.

Tại phiên bế mạc, TS. Lê Hoàng Dũng, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), đánh giá cao chất lượng học thuật, tinh thần trao đổi cởi mở cũng như những đề xuất thiết thực được đưa ra tại hội thảo.

Đặc biệt, đề xuất để bốn trường đại học của ba trung tâm Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh luân phiên đăng cai tổ chức hội thảo định kỳ hai đến ba năm một lần về chủ đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đã nhận được sự đồng tình của nhiều đại biểu. Nếu được triển khai, đây sẽ không chỉ là một diễn đàn học thuật định kỳ mà còn là mạng lưới hợp tác lâu dài giữa các cơ sở đào tạo, nghiên cứu và quản lý di sản của cả nước.

Một hội thảo khoa học chỉ thực sự thành công khi những ý tưởng được chuyển hóa thành chính sách, những khuyến nghị trở thành hành động và những cuộc đối thoại tiếp tục được duy trì sau khi hội thảo kết thúc. Với những kết quả đạt được, hội thảo lần này đã vượt lên khuôn khổ của một hoạt động học thuật thông thường để trở thành một diễn đàn hoạch định tư duy phát triển mới cho di sản văn hóa Việt Nam nói chung và Huế nói riêng.

Đối với Huế, giá trị lớn nhất mà hội thảo để lại có lẽ không chỉ nằm ở số lượng tham luận hay những phát hiện khoa học mới, mà ở sự thống nhất về nhận thức rằng: Di sản là nền tảng của bản sắc, là nguồn lực của sáng tạo, là sức mạnh mềm của địa phương và là vốn quý để kiến tạo tương lai. Khi di sản được bảo tồn bằng tri thức, được phát huy bằng đổi mới sáng tạo và được cộng đồng tiếp tục nuôi dưỡng trong đời sống hằng ngày, Huế sẽ có thêm cơ sở để khẳng định vị thế của một đô thị di sản đặc sắc, đồng thời trở thành một trung tâm nghiên cứu, thực hành và lan tỏa các giá trị văn hóa của Việt Nam trong thời đại mới.

Hương Bình

Nguồn: Dulichvn

Tà Đùng mở rộng không gian du lịch từ chuyển đổi số

Sở hữu cảnh quan hồ nước rộng lớn với hàng chục hòn đảo lớn nhỏ giữa núi rừng, Tà Đùng từ lâu được xem là một trong những điểm đến giàu tiềm năng của Lâm Đồng. Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành xu thế tất yếu, địa phương đang từng bước ứng dụng công nghệ để quảng bá hình ảnh, nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng không gian phát triển du lịch theo hướng bền vững.


Hồ Tà Đùng

Khơi dậy tiềm năng từ lợi thế sẵn có

Không chỉ có hồ nước và rừng xanh, Tà Đùng còn sở hữu những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số, các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng và không gian sinh hoạt cộng đồng mang đậm bản sắc địa phương. Đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, trải nghiệm nông nghiệp và khám phá văn hóa bản địa.

Những năm gần đây, cùng với sự quan tâm đầu tư của địa phương và sự tham gia của người dân, hoạt động du lịch trên địa bàn đã có nhiều chuyển biến tích cực. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Tà Đùng đón 11.988 lượt khách đến tham quan, nghỉ dưỡng. Hiện địa phương có 17 cơ sở lưu trú với tổng cộng 231 phòng, đáp ứng nhu cầu lưu trú cho khoảng 662 khách cùng thời điểm.

Đến nay, 100% hộ kinh doanh du lịch đã triển khai thanh toán bằng mã QR; 100% cơ sở kinh doanh được định vị trên Google Maps, giúp du khách dễ dàng tìm kiếm thông tin và tiếp cận dịch vụ. Tỷ lệ người dân sử dụng VNeID đạt 79,7%; các nền tảng số của địa phương ghi nhận 4.538 lượt tương tác trong 6 tháng đầu năm 2026.

Khách du lịch check – in trên hồ Tà Đùng.

Sự phát triển của du lịch không chỉ tạo thêm nguồn thu cho các cơ sở kinh doanh mà còn mở ra cơ hội để người dân tham gia vào chuỗi giá trị du lịch thông qua các hoạt động lưu trú, ẩm thực, bán sản phẩm nông nghiệp, đặc sản địa phương và giới thiệu văn hóa truyền thống.

Thực tế cho thấy, chuyển đổi số đang tạo thêm cơ hội để người dân quảng bá sản phẩm, tiếp cận khách hàng và tham gia sâu hơn vào hoạt động du lịch. Đồng thời, đây cũng là công cụ hỗ trợ chính quyền nâng cao hiệu quả quản lý, từng bước xây dựng môi trường du lịch văn minh, an toàn và thân thiện.

Chuyển đổi số – động lực cho du lịch phát triển

Dù vậy, quá trình chuyển đổi số trong du lịch tại Tà Đùng vẫn còn nhiều việc phải làm. Một bộ phận người dân còn hạn chế về kỹ năng số; dữ liệu du lịch cần tiếp tục được hoàn thiện; hoạt động quảng bá cần được đầu tư bài bản hơn để tạo dấu ấn riêng cho điểm đến.

Không gian trưng bày nhạc cụ và các vật dụng của người M’nông ở Tà Đùng

Nhận thức rõ yêu cầu đó, Tà Đùng đang từng bước đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, quảng bá và phát triển du lịch. Theo ông Nguyễn Văn Hùng – Phó Chủ tịch UBND xã Tà Đùng, chuyển đổi số không chỉ phục vụ công tác quản lý mà còn là giải pháp quan trọng để khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch của địa phương.

Đặc biệt, chuyển đổi số sẽ giúp Tà Đùng giải quyết đồng thời bốn bài toán cốt lõi. Đó là nâng cao nhận diện điểm đến để du khách dễ tiếp cận thông tin; kết nối người dân, doanh nghiệp và các dịch vụ du lịch thành một hệ sinh thái đồng bộ; hỗ trợ chính quyền quản lý hiệu quả hoạt động du lịch, môi trường và an ninh trật tự. Đồng thời tạo điều kiện để người dân trở thành chủ thể tham gia cung cấp dịch vụ, quảng bá văn hóa, tiêu thụ sản phẩm địa phương và nâng cao thu nhập.

Trước mắt trong năm 2026, Tà Đùng đặt mục tiêu từng bước hoàn thiện nền tảng dữ liệu du lịch cấp xã, xây dựng nhận diện số cho điểm đến; hỗ trợ các hộ kinh doanh, cơ sở dịch vụ và điểm du lịch cộng đồng tiếp cận thanh toán số, quảng bá trực tuyến; đồng thời nâng cao kỹ năng số cho lực lượng nòng cốt tại các thôn phục vụ phát triển du lịch.

Du khách trải nghiệm chèo thuyền kayak trên hồ Tà Đùng. Ảnh tư liệu

Chuyển đổi số ở Tà Đùng bắt đầu từ những việc thiết thực như xây dựng dữ liệu, cung cấp thông tin minh bạch, ứng dụng mã QR, bản đồ số và thanh toán không dùng tiền mặt. Qua đó, người dân thuận lợi quảng bá sản phẩm, du khách dễ tiếp cận thông tin và phản hồi, còn chính quyền có thêm công cụ quản lý, góp phần phát triển du lịch bền vững.

“Với Tà Đùng, chuyển đổi số trong du lịch không phải là việc làm cho có, mà là giải pháp thiết thực để mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng phục vụ, bảo vệ tài nguyên, tạo sinh kế mới cho người dân và xây dựng hình ảnh địa phương văn minh, thân thiện, bền vững”. – Ông Nguyễn Văn Hùng, Phó Chủ tịch UBND xã Tà Đùng

Hồng Thắm

 

 

Nguồn: Dulichvn

Khi nghệ sĩ chọn ở lại làng nghề

Không chỉ tìm cảm hứng sáng tạo, ngày càng nhiều họa sĩ và nhà thiết kế lựa chọn gắn bó lâu dài với các làng nghề truyền thống. Sự kết hợp giữa tư duy thiết kế và kỹ nghệ thủ công đang mở ra hướng đi mới cho sản phẩm làng nghề, nhưng để trở thành động lực phát triển bền vững vẫn cần những chính sách đồng hành.


Nếu trước đây, những người thợ giỏi thường rời làng lên thành phố tìm việc thì nay ngày càng có nhiều họa sĩ, nhà thiết kế được đào tạo bài bản lựa chọn trở về hoặc gắn bó lâu dài với làng nghề.

Với các họa sĩ và nhà thiết kế, kỹ thuật thủ công độc đáo của làng nghề là nền tảng để tạo ra những sản phẩm khác biệt, đáp ứng xu hướng tiêu dùng đề cao tính bền vững và bản sắc văn hóa. Họ mang tư duy thiết kế mới, khả năng nắm bắt thị trường và cách kể câu chuyện cho sản phẩm.

Họa sĩ Đặng Cao Cường chia sẻ về sơn mài với học sinh đến tham quan, trải nghiệm.

Ở chiều ngược lại, nhiều làng nghề tuy có tay nghề tinh xảo nhưng lại gặp khó trong việc đổi mới mẫu mã và tiếp cận khách hàng. Khi nghệ nhân đóng góp kỹ thuật chế tác, còn nghệ sĩ mang đến ý tưởng và tư duy thị trường, hai bên tạo nên một mối quan hệ bổ trợ cho nhau. Nhờ đó, sản phẩm làng nghề có cơ hội chuyển từ những mặt hàng lưu niệm phổ thông sang các dòng sản phẩm có giá trị cao hơn, có thể vươn ra thị trường quốc tế.

Kinh nghiệm từ Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy, sự kết nối giữa nghệ sĩ đương đại với làng nghề có thể tạo ra những chuyển biến thực chất. Tại các vùng nghề sơn mài truyền thống như Wajima (Nhật Bản) và Wonju (Hàn Quốc), các chương trình mời nhà thiết kế đến làm việc cùng nghệ nhân đã giúp sản phẩm thủ công bước vào phân khúc nội thất cao cấp và các phòng trưng bày nghệ thuật quốc tế, thay vì chỉ dừng lại ở thị trường quà lưu niệm. Di sản vì thế không bị “đóng khung” trong quá khứ mà tiếp tục được tái tạo, thích ứng và phát triển trong đời sống đương đại.

Tuy nhiên, nỗ lực của các nghệ sĩ vẫn chưa đủ để tạo nên sự thay đổi trên diện rộng nếu thiếu sự hỗ trợ từ chính sách. Việc nghệ sĩ về làng giúp phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường, nhưng để mô hình này được duy trì và nhân rộng, cần có các chương trình đào tạo gắn với làng nghề, cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và những không gian hỗ trợ sáng tạo ngay tại địa phương.

Tại làng nghề sơn mài Hạ Thái (xã Hồng Vân, TP Hà Nội), họa sĩ Đặng Cao Cường là một trong những người lựa chọn trở về làng nghề sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam. Anh nhận thấy nhiều bạn cùng nghề thường đứng trước hai lựa chọn là theo đuổi nghệ thuật thuần túy hoặc làm sản phẩm chạy theo thị trường. Với anh, gắn bó với làng nghề là con đường thực tế hơn, vừa có thể tiếp tục sáng tác, vừa tạo được thu nhập ổn định.

Gần 20 năm gắn bó với làng Hạ Thái, anh cùng một nhóm họa sĩ đã phát triển các dòng sản phẩm trang trí, đồ nội thất ứng dụng và tổ chức những buổi trải nghiệm nghề sơn mài dành cho học sinh, khách quốc tế. Theo anh, mục tiêu của các hoạt động này không phải để kiếm tiền từ du lịch mà nhằm quảng bá chất liệu sơn mài, kỹ thuật truyền thống của làng Hạ Thái, đồng thời duy trì chuỗi sản xuất giữa các hộ làm nghề trong làng.

Họa sĩ Đặng Cao Cường cho rằng những việc mình làm chỉ là cách để “giữ nghề và phát triển tiếp những gì đang khó khăn”. Theo anh, để làng nghề thực sự phát triển bền vững vẫn cần một chiến lược dài hạn từ chính quyền địa phương. Dẫu vậy, mô hình của anh và các nghệ sĩ đang đồng hành với làng sơn mài Hạ Thái đã mở ra một hướng đi khả thi cho nhiều bạn trẻ tốt nghiệp ngành mỹ thuật, giúp họ vừa theo đuổi sáng tạo, vừa có thu nhập ổn định và tiếp tục gắn bó với nghề.

Việt Thành

Nguồn: Dulichvn

Đậm đà hương vị tương Làng Bợ

Được làm từ nguyên liệu tự nhiên, tương Làng Bợ – sản phẩm trứ danh của miền quê Đào Xá (Phú Thọ) mang hương vị ngon đặc biệt, hòa quyện giữa đỗ tương ngọt, gạo nếp thơm và muối đậm đà.


Nghề làm tương truyền thống ở khu Thạch Đồng góp phần tạo nên bức tranh làng quê mộc mạc, bình dị.

Tại trại văn hóa địa phương trong không gian Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa – Du lịch Đất Tổ 2026, khu trưng bày, giới thiệu đặc sản truyền thống tương Làng Bợ đón hàng trăm đoàn khách từ khắp mọi miền đến tham quan, mua sắm. Chị Đinh Thị Hương – du khách đến từ Hà Nội chia sẻ: Tôi biết đến tương Làng Bợ qua các kênh mua sắm trực tuyến và các siêu thị. Vị tương bần này là nước chấm ưa thích của gia đình tôi, rất phù hợp với các món ăn luộc, như rau muống, thịt ba chỉ, thịt vịt hoặc kho thịt, cá. Nhân chương trình du lịch lễ hội Đền Hùng, tôi đến gian hàng để vừa tham quan, mua sắm tại gian hàng, vừa trực tiếp tìm hiểu về nghề làm tương ở làng quê gốc.

Đặc sản tương Làng Bợ được giới thiệu, quảng bá tại Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa – Du lịch Đất Tổ 2026.

Tên gọi Làng Bợ trước nay được gắn với địa danh Thạch Đồng (xã Đào Xá) là khu vực giao thương nhộn nhịp ven tuyến sông Đà. Theo lời kể của người dân, xưa kia, nước mắm rất hiếm nên tương là gia vị chính trong bữa ăn của các gia đình. Sau nhiều năm nghề làm tương bị mai một, HTX Tương Làng Bợ được thành lập với sự quan tâm, hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền địa phương. HTX đã xây dựng nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm. Liên tiếp các năm 2019, 2020, tương Làng Bợ được chứng nhận sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh, sản phẩm OCOP 3 sao.

Chị Trần Thị Phượng – Giám đốc HTX Tương Làng Bợ giới thiệu: Thành phần chính của tương Làng Bợ là gạo nếp cái hoa vàng, đỗ tương và muối. Từ công thức gia truyền mà người dân làng Bợ cho ra loại nước chấm có hương vị thơm ngon, đặc trưng, nước tương sánh và có màu vàng bắt mắt. Khi dùng để kho cá, thịt, tương chuyển sang màu đỏ nâu hấp dẫn. Khi dùng làm nước chấm, tùy vào món ăn cũng như khẩu vị để thêm vào các gia vị khác, như chanh, ớt, tỏi, tạo nên nước chấm đúng điệu.

Chị Trần Thị Phượng – Giám đốc HTX Tương Làng Bợ thực hiện quy trình làm tương công phu.

Quy trình làm tương bần của người làng Bợ đòi hỏi kinh nghiệm và kỹ thuật chế biến công phu. Trước tiên đem xôi gạo ủ cho lên mốc, gạo nếp đem ngâm rồi nấu chín thành xôi. Sau khoảng một tuần đem ra phơi để cho mốc khô. Đỗ tương rang xong thì đem xay nhỏ và ngâm trong chum sành với nước từ 7-10 ngày để đỗ lên màu vàng đỏ. Nước đỗ được phơi ngoài trời cho thơm sau đó trộn với mốc khô.

Cũng theo Giám đốc HTX Tương Làng Bợ, bí quyết để làm ra mẻ tương ngon là ở khâu lựa chọn nước ngâm. Nước ngâm đỗ phải bằng nước giếng khơi mạch rừng chứ không dùng nước đun sôi, để nguội, như vậy tương mới đậm đà, tinh khiết. Mốc khô được trộn đều cùng nước đỗ và muối thành mốc tương rồi ủ kỹ từ 1-2 tháng trong chum sành.

Du khách tham quan, tìm hiểu quy trình làm tương của hộ làm nghề khu Thạch Đồng, xã Đào Xá.

Người dân làng Bợ thường làm tương vào mùa hè và mùa thu bởi nắng nhiều, thời tiết thuận lợi. Trong thời gian ngâm ủ tương, hàng ngày người làm tương sẽ mở nắp chum, khuấy đều cho thêm nước. Trời nắng thì mở nắp phơi, trời mưa thì phủ kín miệng chum bằng túi nilon để tránh nước mưa.

Sau khi chế biến nước tương thành công, sản phẩm được đóng chai, dán nhãn để đem phân phối cho người tiêu dùng ở địa phương và các tỉnh, thành phố trên cả nước. Kể từ khi được chứng nhận thương hiệu, HTX Tương Làng Bợ đẩy mạnh triển khai các hoạt động xúc tiến tiêu thụ, mở rộng kênh phân phối thông qua các hội chợ, trang mạng xã hội, sàn thương mại điện tử.

Hiện nay, đặc sản truyền thống này có mặt ở trên kệ hàng của nhiều siêu thị, cung ứng cho các nhà hàng, quán ăn. Mẫu mã, bao bì được HTX quan tâm cải tiến góp phần nâng cao uy tín sản phẩm, nhận diện nhãn hiệu.

Hiện nay, nghề làm tương truyền thống thu hút hơn 50 hộ dân ở khu Thạch Đồng tham gia. Không chỉ giúp các hộ tăng thu nhập, nghề thủ công này còn góp phần quảng bá nét văn hóa ẩm thực đặc sắc của vùng nông thôn. Đây cũng là một trong những làng nghề đón các đoàn khách ghé thăm trải nghiệm quy trình làm tương thủ công trên hành trình tham quan, khám phá tại tuyến điểm du lịch sinh thái, du lịch làng nghề.

Bùi Minh

Nguồn: Dulichvn

Bắc Ninh: Giữ cho quan họ mãi xanh

Là địa phương có mật độ làng quan họ gốc dày đặc của tỉnh, phường Võ Cường (Bắc Ninh) luôn quan tâm tạo điều kiện để các thế hệ nghệ nhân, liền anh, liền chị gìn giữ, trao truyền di sản, đồng thời từng bước kiến tạo những không gian diễn xướng phù hợp nhịp sống đương đại. Sự đồng hành của chính quyền cùng tình yêu di sản của cộng đồng giúp quan họ tiếp tục lan tỏa và ngày càng “nở cành, xanh ngọn”.


Đặc sắc canh hát đêm Rằm

Di sản dân ca quan họ Bắc Ninh từ lâu đã trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng nghĩa tình, gắn kết cộng đồng và bồi đắp cốt cách văn hóa Kinh Bắc. Phường Võ Cường hiện có 7 làng quan họ gốc gồm: Hòa Đình, Bồ Sơn, Khả Lễ, Xuân Ổ, Dương Ổ, Đào Xá, Châm Khê cùng 2 làng quan họ thực hành được UBND tỉnh công nhận. Từ nền tảng ấy, nhiều hoạt động thiết thực được triển khai nhằm hiện thực hóa cam kết với UNESCO về bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Chương trình giao lưu “Canh hát quan họ đêm Rằm” được tổ chức hằng quý với sự tham gia của các câu lạc bộ quan họ trên địa bàn phường Võ Cường.

Từ tháng 8/2025, UBND phường Võ Cường giao Trung tâm Cung ứng dịch vụ sự nghiệp công của phường chủ trì tổ chức chương trình giao lưu “Canh hát quan họ đêm Rằm” nhằm mở rộng không gian giao lưu diễn xướng di sản trong cộng đồng. Mỗi canh hát là một cuộc hội ngộ của những sắc màu quan họ.

Các liền anh, liền chị có cơ hội phô diễn các giọng lề lối, giọng lẻ, giọng vặt, giọng giã bạn cùng phong cách chơi quan họ đặc trưng riêng có của mỗi làng, dệt nên bức tranh đa sắc của di sản. Ngoài giao lưu ca hát, các nghệ nhân còn kiên trì trao truyền lề lối ứng xử, “lời ăn nết ở” và đạo lý nghĩa tình – những giá trị đặc sắc đã làm nên sức sống bền bỉ của dân ca quan họ Bắc Ninh qua bao thế hệ.

Theo ông Trần Văn Quyến, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Quan họ Hòa Đình, chương trình “Canh hát quan họ đêm Rằm” là một cách làm sáng tạo, có ý nghĩa thiết thực, tạo không gian diễn xướng cho những người yêu say quan họ được gặp gỡ, giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm gìn giữ di sản. Điều quý nhất là sau mỗi canh hát, tình yêu quan họ lại được lan tỏa đến nhiều người, nhất là thế hệ trẻ, từ đó khuyến khích cộng đồng cùng chung tay bảo vệ và phát huy giá trị di sản.

Từ năm 2026, chương trình được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn, thay vì tổ chức hằng tháng, phường tổ chức mỗi quý một canh vào đêm Rằm của tháng giữa quý. Bà Nguyễn Thị Thương, Phó Giám đốc Trung tâm Cung ứng dịch vụ sự nghiệp công phường Võ Cường cho biết: Việc điều chỉnh tần suất tổ chức chương trình giao lưu “Canh hát quan họ đêm Rằm” giúp các câu lạc bộ có thêm thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng, nâng cao chất lượng chương trình. Nội dung mỗi canh hát được xây dựng hài hòa, đan xen các tiết mục quan họ cổ và quan họ sân khấu để vừa giữ gìn giá trị truyền thống, vừa đáp ứng nhu cầu thưởng thức của đông đảo công chúng.

Mỗi chương trình quy tụ 5 câu lạc bộ trên địa bàn tham gia theo hình thức luân phiên. Địa điểm tổ chức cũng được lựa chọn linh hoạt tại nhà chứa quan họ, đình làng hoặc nhà văn hóa nhằm tạo điều kiện cho các câu lạc bộ cùng có cơ hội tham gia đăng cai và giao lưu, góp phần lan tỏa tình yêu quan họ, khơi dậy ý thức gìn giữ di sản trong cộng đồng. Mỗi đêm Rằm, những câu hát ngọt mượt, thiết tha, dùng dằng thương nhớ vang ngân đã trở thành minh chứng sinh động cho sức sống trường tồn của di sản luôn được cộng đồng trân trọng gìn giữ bằng tình yêu, trách nhiệm và niềm tự hào.

Cộng đồng nuôi dưỡng di sản

Hiện nay, phường Võ Cường có gần 500 liền anh, liền chị ở nhiều lứa tuổi tham gia sinh hoạt thường xuyên tại 10 câu lạc bộ quan họ. Nổi bật trong đó là Câu lạc bộ Quan họ Bồ Sơn với hơn 100 liền anh, liền chị; Câu lạc bộ Quan họ Hòa Đình từng có 11 cặp liền anh, liền chị đoạt giải Nhất tại Hội thi đối đáp Quan họ đầu xuân. Các làng quan họ gốc Đào Xá, Châm Khê, Khả Lễ, Xuân Ổ, Dương Ổ cũng là những đơn vị tích cực sưu tầm tư liệu, phục dựng làn điệu cổ, tham gia các liên hoan, hội diễn và mở lớp truyền dạy cho thiếu nhi, góp phần làm giàu thêm đời sống văn hóa cộng đồng.

Phường Võ Cường có gần 500 liền anh, liền chị ở nhiều lứa tuổi tham gia sinh hoạt thường xuyên tại 10 câu lạc bộ quan họ. Nổi bật trong đó là Câu lạc bộ Quan họ Bồ Sơn với hơn 100 liền anh, liền chị; Câu lạc bộ Quan họ Hòa Đình từng có hơn 10 lần đoạt giải Nhất tại Hội thi đối đáp Quan họ đầu xuân. Các làng quan họ gốc Đào Xá, Châm Khê, Khả Lễ, Xuân Ổ, Dương Ổ cũng là những đơn vị tích cực sưu tầm tư liệu, phục dựng làn điệu cổ, tham gia các liên hoan, hội diễn và mở lớp truyền dạy cho thiếu nhi, góp phần làm giàu thêm đời sống văn hóa cộng đồng.

Mỗi câu lạc bộ, mỗi làng quan họ đều có cách gìn giữ di sản riêng nhưng cùng chung một mục tiêu là giữ cho câu quan họ tiếp tục ngân vang trong đời sống hôm nay. Đặc biệt, công tác truyền dạy di sản luôn được các câu lạc bộ đặt ở vị trí trung tâm.

Liền chị Nguyễn Thị Hoa, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Quan họ Bồ Sơn chia sẻ: “Bồ Sơn là làng quan họ gốc có nhiều thế hệ liền anh, liền chị đạt trình độ “đặt câu, bẻ giọng”. Câu lạc bộ Quan họ Bồ Sơn được thành lập từ năm 1960, ban đầu chỉ có 10 thành viên đến nay đã quy tụ hơn 100 liền anh, liền chị tuổi từ 25 đến ngoài 90 tham gia sinh hoạt thường xuyên, trong đó có 15 nghệ nhân được vinh danh. Đều đặn hằng tuần, câu lạc bộ duy trì 4 lớp quan họ (1 lớp 150 câu cổ; 2 lớp 50 câu và 1 lớp quan họ măng non). Trong quá trình truyền dạy, ngoài kỹ thuật ca hát, chúng tôi chú trọng gìn giữ lề lối ứng xử, phong cách chơi quan họ và những giá trị văn hóa truyền thống. Mong muốn lớn nhất là ngày càng có nhiều người trẻ yêu, hiểu và sẵn sàng tiếp nối di sản của quê hương”.

Duy trì sinh hoạt và truyền dạy trong cộng đồng, các câu lạc bộ còn tích cực tham gia biểu diễn, giao lưu, quảng bá di sản trong và ngoài tỉnh; phối hợp với các nhà trường tổ chức giới thiệu về vẻ đẹp cùng những giá trị nhân văn kết tinh trong di sản quan họ; hướng dẫn học sinh thực hành hát đối đáp, tìm hiểu tục kết chạ, tục mời trầu, cách xưng hô và văn hóa ứng xử của người quan họ. Qua đó, từng bước hình thành lớp kế cận vừa thành thục làn điệu, vừa am hiểu lề lối của nghề chơi.

Dân ca quan họ thấm sâu vào đời sống người dân Kinh Bắc và vẫn đang được trao truyền qua nhiều thế hệ. Ở Võ Cường, tình yêu di sản của cộng đồng cùng sự đồng hành của chính quyền bằng những việc làm thiết thực không chỉ góp phần thực hiện cam kết với UNESCO trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản, mà còn khẳng định sức sống mới của di sản trong đời sống hôm nay. Chính từ những nỗ lực bền bỉ ấy, di sản quan họ sẽ mãi xanh, tiếp tục lan tỏa những giá trị nhân văn, bồi đắp bản sắc văn hóa và trở thành nguồn sức mạnh nội sinh cho sự phát triển bền vững của quê hương.

Thuận Thảo

Nguồn: Dulichvn

TIN MỚI NHẤT