Du lịch trong nước

Du lịch trong nước, tin tức du lịch trong nước, các tour du lịch trong nước, các địa điểm du lịch trong nước hấp dẫn được chúng tôi tổng hợp và đưa tin hàng ngày đến cho khách du lịch trên khắp mọi miền đất nước có được thông tin du lịch trong nước để có những thông tin hữu ích nhất cho mình và gia đình khi quyết định chọn chuyến du lịch trong nước cho mình và người thân

Kỳ quan giữa rừng già

Danh thắng Hang Dơi nằm tại xã Tiên An, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam (cũ), nay là xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng thuộc một trong những hệ tầng đá cổ nhất ở khu vực. Với dấu ấn của tạo hóa, qua bao thời gian Hang Dơi vẫn giữ nguyên vẻ đẹp nguyên sơ khiến ai đặt chân tới cũng phải trầm trồ.


Quần thể Hang Dơi bao gồm hệ thống hang và các lớp đá mầu sắc, cấu tạo phân phiến, vi uốn nếp. Những điểm đá phát lộ như một bảo tàng tự nhiên, vì vậy nơi đây là điểm đến lý tưởng để tham quan và nghiên cứu.

Hang Dơi chia thành hai phần gồm hang trên và hang dưới. Hang dưới gây ấn tượng với những vách đá cao hơn 10 m, lòng hang mở rộng, có đoạn rộng tới hơn 20 m, bên trong rêu phủ xanh mướt, dây leo chằng chịt, tạo nên khung cảnh vừa hoang sơ vừa huyền bí. Dọc hai vách đá là những dòng nước ngầm. Càng đi sâu vào hang, không khí càng lạnh buốt nhưng kích thích trí tò mò, thôi thúc du khách tiếp tục hành trình khám phá. Do nằm sâu trong núi, quanh năm hầu như không có ánh mặt trời lọt vào nên hang rất tối và ẩm ướt. Hang vì thế là nơi trú ẩn lý tưởng của loài dơi. Cái tên Hang Dơi theo đó ra đời.

Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Hang Dơi từng là cơ sở của các tổ chức cách mạng thuộc khu V, tỉnh ủy và huyện Tiên Phước. Những năm qua, công tác quản lý, bảo tồn danh thắng đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương quan tâm. Đến nay, xã Thạnh Bình (mới) vẫn đang tích cực triển khai các hoạt động phát triển du lịch gắn với việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử – văn hóa, danh thắng tự nhiên.

Hang Dơi được UBND tỉnh Quảng Nam (cũ), nay là UBND thành phố Đà Nẵng xếp hạng di tích cấp tỉnh vào ngày 17/6/2025. Vừa qua, UBND xã Thạnh Bình đã tổ chức Lễ đón nhận bằng xếp hạng di tích danh lam thắng cảnh. Sự kiện đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững của địa phương.

Tại Lễ đón nhận bằng xếp hạng, đại diện UBND xã Thạnh Bình cho biết, đây là sự ghi nhận trong việc gìn giữ các giá trị lịch sử, văn hóa, địa chất của lãnh đạo địa phương qua các thời kỳ. Thời gian tới, xã sẽ quyết tâm phát triển hài hòa giữa bảo tồn và phát huy các giá trị cốt lõi của quê hương để Hang Dơi mãi là niềm tự hào cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Bài và ảnh: Anh Quân

Nguồn: Dulichvn

Tuổi trẻ Tuy Phước Bắc (Gia Lai) tích cực quảng bá du lịch

“Tự hào Tuy Phước Bắc – Mỗi tuần một vẻ đẹp” là chương trình đang được Ðoàn xã Tuy Phước Bắc (tỉnh Gia Lai) triển khai, nhằm quảng bá truyền thống văn hóa – lịch sử gắn với phát triển du lịch địa phương. 


Theo chị Phan Thị Yến – Bí thư Đoàn xã Tuy Phước Bắc, trên địa bàn xã có nhiều di tích cấp quốc gia, danh lam thắng cảnh, các nghề làm bánh truyền thống trở thành “thương hiệu ẩm thực” của địa phương. Từ đầu tháng 8/2025, Ban Chấp hành Đoàn xã lên ý tưởng xây dựng các video clip quảng bá tiềm năng, thế mạnh của địa phương.

Chị Phan Thị Yến – Bí thư Đoàn xã Tuy Phước Bắc tham gia hoạt động quay video clip, giới thiệu về nghề làm bánh tráng truyền thống ở địa phương. Ảnh: M.N

“Lợi thế của đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) là nhanh nhạy về công nghệ thông tin, có kỹ năng dẫn chương trình và sự sáng tạo. Vì vậy, Đoàn xã đã phát huy tối đa điểm mạnh này trong thực hiện các video clip quảng bá hình ảnh Tuy Phước Bắc, nhằm giới thiệu điểm đến, thu hút du khách trong và ngoài tỉnh”- chị Yến chia sẻ.

Không phải là những người chuyên nghiệp trong việc quay dựng video clip, nhưng bằng tinh thần nhiệt huyết, các bạn trẻ đã tìm cách khắc phục khó khăn, tập trung đầu tư vào nội dung và sáng tạo trong cách thể hiện.

Người dẫn chương trình, người kể chuyện, người quay và người dựng video clip. Chính nhờ sự phối hợp nhịp nhàng đó, các danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử được tái hiện sinh động qua góc nhìn trẻ trung, gần gũi.

Trong quá trình thực hiện video clip, Đoàn xã đã trao đổi, phỏng vấn những người am hiểu lịch sử, những người gắn bó lâu năm với di tích để có thêm thông tin bổ ích, chính thống.

Chị Nguyễn Thị Ngọc Hiếu – Phó Bí thư Đoàn xã Tuy Phước Bắc – bày tỏ: “Khi trực tiếp tham gia tìm hiểu, quay hình, dựng video clip, chúng tôi cũng nhận biết thêm nhiều kiến thức thú vị, càng thêm tự hào quê hương mình và có thêm động lực để truyền tải những giá trị ấy đến với mọi người”.

Mỗi video clip do Đoàn xã thực hiện có độ dài từ 4 đến 8 phút. Để có sản phẩm hoàn chỉnh, ê kíp thực hiện mất 1-2 ngày quay, sau đó thêm 1 ngày dựng và thu lời bình. Tất cả sản phẩm được đăng tải đều đặn vào ngày Chủ nhật hằng tuần trên trang Facebook Đoàn Tuy Phước Bắc.

“Vì đây là những video clip quảng bá văn hóa – du lịch nên cảnh quay phải đẹp, thông tin phải chính xác thì mới được người xem đón nhận” – chị Yến nhấn mạnh.

Trong quá trình thực hiện video clip, ĐVTN được trải nghiệm công đoạn tráng bánh. Ảnh: M.N

Video clip đầu tiên được đăng tải vào ngày 10/8 là về chùa Bà – Cảng thị Nước Mặn, dài 7 phút 12 giây, không chỉ tái hiện không gian, giới thiệu lịch sử hình thành của ngôi chùa mà còn đưa vào lời kể sống động của người dân địa phương, về lễ hội Đô thị Nước Mặn được tổ chức tại đây. Video clip này hiện nhận được trên 11.000 lượt xem cùng hàng trăm lượt thích, bình luận và chia sẻ của mọi người.

Video clip mới nhất được Đoàn xã đăng tải vào ngày 14/9 với nội dung giới thiệu nghề làm bánh tráng truyền thống ở thôn Giang Bắc. Đoàn xã đã đến tận xưởng của bà Trương Thị Nở để ghi lại toàn bộ quy trình làm bánh. Đặc biệt, dưới sự hướng dẫn của bà Nở, các bạn trẻ còn trực tiếp trải nghiệm công đoạn tráng bánh.

Bà Nở phấn khởi cho biết: “Thấy các bạn trẻ nhiệt huyết quảng bá văn hóa, ẩm thực quê hương, tôi rất vui và hết lòng hỗ trợ. Hy vọng nhiều người sẽ hiểu thêm về ẩm thực đặc sắc của vùng đất Tuy Phước Bắc”.

Hiện tại, Đoàn xã đã đăng tải 5 video clip quảng bá về quê hương Tuy Phước Bắc. Sau khi đăng tải, Đoàn xã động viên ĐVTN tích cực chia sẻ để tăng tương tác, lan tỏa mạnh mẽ. Nhiều bình luận tích cực từ cộng đồng mạng đã trở thành động lực cho Đoàn xã tiếp tục thực hiện chương trình ý nghĩa này.

ĐVTN xã Tuy Phước Bắc thực hiện quay video clip giới thiệu về tháp Bánh Ít. Ảnh: M.N

Trong video clip về tháp Bánh Ít, một tài khoản Facebook bình luận với nội dung: “Quay video tháp Bánh Ít của quê hương mình rồi, quảng bá du lịch sáng tạo. Cần thêm phụ đề Anh ngữ, làm video clip sản xuất sản phẩm bằng tre, nứa”. Ngay sau đó, Đoàn xã đã tiếp thu và bổ sung phụ đề Anh ngữ cho mỗi video clip, mở rộng hơn đối tượng tiếp cận.

Chị Phan Thị Yến cho biết: “Thời gian tới, chúng tôi cố gắng thực hiện thêm những video clip chất lượng, ý nghĩa hơn nữa bằng chính tình yêu dành cho mảnh đất mình sinh sống. May mắn là chúng tôi nhận được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Đảng ủy, UBND xã, sự hỗ trợ từ ban quản lý di tích, người dân và có sự đồng hành của ĐVTN”.

Minh Nhật

Nguồn: Dulichvn

Đà Nẵng: Đưa nghề dệt chiếu cói Kim Bồng thành sản phẩm du lịch

Về làng Kim Bồng (phường Hội An), du khách được trải nghiệm nghề làm chiếu cói truyền thống hơn 100 năm bên dòng sông Thu Bồn.


Du khách tìm hiểu nghề dệt chiếu cói truyền thống Kim Bồng. Ảnh: Xuân Sơn

Làng Kim Bồng – “ốc đảo tài hoa” thuộc phường Hội An (thành phố Đà Nẵng), nổi danh với những nghề thủ công truyền thống như nghề mộc, nghề đan thúng, nghề dệt chiếu cói…

Tại đây có một không gian trải nghiệm ven sông Thu Bồn để du khách ghé tham quan, theo chân người dân địa phương ra cánh đồng cói lác, tìm hiểu nghề làm chiếu cói truyền thống và đặc biệt là hóa thân thành người thợ làm chiếu với những công đoạn tỉ mỉ. Du khách cũng được thưởng thức ly cà phê thơm, đĩa khoai nóng hổi tại vùng ốc đảo thơ mộng.

Hoạt động trải nghiệm này do Cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Cói Kim Bồng (Kiboco) tổ chức nhằm khôi phục nghề dệt chiếu cói có lịch sử hình thành hơn 100 năm, cải tiến sản phẩm và góp phần phát triển du lịch làng nghề tại địa phương.

Chị Charlotte White, du khách từ Hà Lan tập chẻ cói để làm chiếu. Ảnh: Xuân Sơn

Có mặt tại Kim Bồng từ sớm sau buổi điểm tâm ở phố Hội, bà Trudi Finn, du khách Australia, dành trọn buổi sáng chủ nhật cho hoạt động trải nghiệm làm chiếu cói truyền thống.

Dưới sự hướng dẫn của người dân địa phương, bà Finn làm quen với việc chẻ cói, phơi cói, chọn màu sắc nhuộm yêu thích và dệt nên tấm chiếu của mình.

“Tôi đến Việt Nam nhiều lần trong suốt 23 năm qua, nhưng đây là lần đầu tiên được theo dõi quy trình làm một tấm chiếu cói truyền thống. Từng công đoạn đều đòi hỏi sự khéo léo, kiên nhẫn và tỉ mỉ, điều mà tôi chưa từng hình dung tới. Đây là một trải nghiệm đầy thú vị”, bà Finn chia sẻ.

Chị Phạm Thị Công (giữa) hướng dẫn du khách các công đoạn làm chiếu cói truyền thống. Ảnh: Xuân Sơn

Chị Phạm Thị Công, chủ cơ sở Kiboco cho hay: “Các làng nghề truyền thống hiện nay thường có dịch vụ trải nghiệm cho du khách, tuy nhiên thời gian du khách ghé qua thường rất ngắn, chỉ khoảng 15 – 20 phút. Trong khi đó, người dân địa phương lại mong muốn được chia sẻ nhiều hơn những giá trị của nghề truyền thống với du khách”.

Từ nhìn nhận đó, chị Công tổ chức mô hình du lịch cộng đồng với workshop làm chiếu cói kéo dài 4-5 tiếng đồng hồ. Ngôi nhà nhỏ ven sông Thu Bồn được cải tạo thành không gian trình diễn dệt chiếu và sản xuất sản phẩm thủ công từ cói.

Sản phẩm tại cơ sở cũng được đa dạng hóa, từ chiếu cói nhiều kích cỡ đến túi xách, quạt, lồng đèn, tấm lót…

Chị Công lớn lên trên vùng đất Kim Bồng, trồng cói, dệt chiếu từ nhỏ và chứng kiến những thăng trầm của nghề dệt chiếu cói truyền thống. Mấy năm trước, chị rời công việc hướng dẫn viên du lịch, trở về ngôi làng ven sông với mong muốn phục hồi những giá trị của chiếu cói truyền thống đang trên đà mai một.

Sau nhiều khó khăn, điểm trải nghiệm tại Kiboco được nhiều du khách biết đến. Cơ sở được công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, sản phẩm OCOP 3 sao, tạo việc làm cho người dân trong làng.

Nghề dệt chiếu cói truyền thống được giới thiệu đến du khách tại hoạt động Chợ quê Kim Bồng. Ảnh: Quốc Tuấn

Cuối năm 2024, nghề dệt chiếu cói Kim Bồng được UBND tỉnh Quảng Nam (cũ) công nhận là nghề thủ công truyền thống của địa phương. Thời gian gần đây, nghề này được quảng bá rộng rãi trong các sự kiện văn hóa, du lịch của địa phương.

Theo chị Công, làng Kim Bồng với nhiều nghề truyền thống, nằm gần phố cổ Hội An và làng du lịch cộng đồng Triêm Tây (phường Điện Bàn) là cơ hội cho phát triển du lịch trải nghiệm, đa dạng hóa sản phẩm, khai thác tốt giá trị truyền thống để nâng cao giá trị thương mại.

Trong niềm tự hào với những giá trị của làng, người dân địa phương kỳ vọng những nghề truyền thống, trong đó có nghề dệt chiếu cói sẽ phát triển hơn trong thời gian tới.

Xuân Sơn

 

Nguồn: Dulichvn

Lưu giữ nét đẹp của phụ nữ Chăm trong chiếc khăn truyền thống

Trên những nẻo đường biên giới An Giang, không khó để bắt gặp hình ảnh những thiếu nữ Chăm với chiếc khăn mat’ra e ấp trùm lên mái tóc, nhẹ nhàng buông xuống đôi vai thon. Giữa cái nắng gió miền sông nước, chiếc khăn không chỉ che chở, mà còn như mang theo bao tầng ý nghĩa văn hóa, tín ngưỡng và vẻ đẹp tinh khiết của người phụ nữ Chăm theo đạo Hồi.


Khăn mat’ra chính là linh hồn của đồng bào Chăm. Ảnh: Thủy Lê

Chiếc khăn của niềm tin và vẻ đẹp

Từ bao đời, chiếc khăn mat’ra đã hiện diện trong đời sống của cộng đồng Chăm Islam ở An Giang, như một phần không thể thiếu của trang phục nữ giới. Người Chăm quan niệm, phụ nữ khoác lên mình khăn mat’ra là thể hiện sự trong sáng, thuần khiết, vừa là sự tuân thủ giáo luật Hồi giáo, vừa là lời khẳng định về bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc.

Ở những làng Chăm bên dòng sông Hậu, sớm mai khi tiếng kinh Qur’an vang vọng từ thánh đường, những bước chân phụ nữ rảo đi chợ, hay chiều về dắt díu con nhỏ, hình ảnh chiếc khăn mat’ra hiện diện như một nét chấm phá mềm mại giữa không gian thôn xóm. Khăn trùm kín đầu và cổ, chỉ để lộ gương mặt phúc hậu, ánh mắt trong veo.

Khăn mat’ra không đơn thuần là vật dụng trang phục. Nó gắn liền với đời sống tinh thần, với sự trang nghiêm trong tín ngưỡng. Người phụ nữ khoác khăn để biểu lộ sự tôn kính trước đấng Allah, để giữ phẩm hạnh, khiêm nhường và sự e ấp trong ứng xử. Mỗi chiếc khăn, vì thế, mang trong nó niềm tự hào về cội nguồn, về đạo lý sống của cả cộng đồng.

Cũng giống như nón lá của người Việt, hay váy xòe thổ cẩm của người Thái, khăn mat’ra đã trở thành biểu tượng văn hóa, khiến bất kỳ ai khi nhắc đến người Chăm ở miền Tây đều nhớ ngay đến sắc khăn trùm đầu dịu dàng ấy. Nó không chỉ tạo nên vẻ đẹp kín đáo, mà còn thể hiện đức hạnh, sự nết na, bền bỉ của phụ nữ Chăm trong nhịp sống đời thường.

Từng đường kim dệt nên bản sắc

Những nghệ nhân dệt khăn, phần lớn là phụ nữ Chăm khéo tay, vẫn kiên trì gìn giữ nghề truyền thống. Trên khung cửi cũ kỹ, đôi tay thoăn thoắt đưa thoi, từng sợi vải nối tiếp nhau thành dải dài, mượt mà. Có những chiếc khăn trơn một màu (trắng, đen, hoặc xanh lam) để dùng trong sinh hoạt hàng ngày. Lại có những chiếc khăn được thêu hoa văn tinh tế, điểm xuyết đường viền ánh kim, dành cho dịp lễ cưới hỏi, hay những buổi cầu nguyện trọng thể tại thánh đường.

Bà Zây Mah ở ấp Phũm Soài, xã Châu Phong, Nghệ nhân Ưu tú dệt thổ cẩm Châu Giang cho biết, khăn mat’ra là một trong nhiều kiểu khăn truyền thống được phụ nữ Chăm sử dụng. Ngoài tác dụng che mặt tạo nét duyên thì khăn mat’ra còn thể hiện nhân phẩm, tiết hạnh của người phụ nữ Chăm. Để có một chiếc khăn mat’ra, người con gái Chăm phải rất kỳ công. Trước tiên, họ cắt một tấm lụa dài và bỏ thời gian ngồi thêu họa tiết. Nếu phải kết cườm thì còn tỉ mẩn hơn nữa. Bởi vậy, mỗi sản phẩm làm ra đều chứa đựng sự khéo léo và nét đẹp đến từ tâm hồn người thêu. Tuy nhiên, mỗi cách làm lại mang ý nghĩa riêng. Những cô gái trẻ sử dụng khăn thêu họa tiết, hoa văn là chủ yếu. Với những chiếc khăn kết cườm chỉ sử dụng cho cô dâu, hay phụ nữ vừa lấy chồng đi ra mắt họ hàng.

Các nghệ nhân người Chăm vẫn duy trì nghề dệt thủ công. Ảnh: Thủy Lê

Ngày nay, để đáp ứng thị hiếu và sự đa dạng, khăn mat’ra cũng được may từ nhiều chất liệu mới: voan nhẹ, cotton thoáng, thậm chí satin bóng. Nhưng dù hiện đại đến đâu, hồn cốt vẫn giữ nguyên: chiếc khăn luôn tôn lên sự kín đáo, dịu dàng. Ở các phiên chợ Chăm, người ta vẫn thấy hàng dài khăn mat’ra được bày bán, rực rỡ màu sắc, trở thành nét đẹp vừa truyền thống, vừa đậm tính thời trang của phụ nữ nơi đây. Ông Mohamad, người đang duy trì, quảng bá các sản phẩm thổ cẩm Chăm tại ấp Phũm Soài cho biết, ngoài việc vẫn tiếp tục quảng bá các sản phẩm thổ cẩm Chăm đến du khách, ông còn có ý định sẽ tái hiện lễ cưới truyền thống người Chăm để phục vụ du khách tốt hơn, khi đó chiếc khăn mat’ra có cơ hội lấp lánh trong mắt du khách gần xa.

Nét đẹp sống cùng thời gian

Giữa nhịp sống hiện đại, khi làn sóng toàn cầu hóa đưa nhiều xu hướng thời trang đến từng thôn xóm, việc gìn giữ khăn mat’ra trở thành nỗi trăn trở của cộng đồng Chăm An Giang. Thế nhưng, chính trong sự giao thoa ấy, chiếc khăn lại càng khẳng định sức sống bền bỉ của mình.

Ở những buổi lễ hội Ramadan, lễ Roya Haji hay lễ cưới Chăm, hình ảnh hàng trăm thiếu nữ trong bộ váy dài Baju kurung cùng khăn mat’ra đồng màu, bước đi uyển chuyển, đã tạo nên bức tranh rực rỡ mà trang nghiêm. Khăn không chỉ hiện diện trong đời sống tín ngưỡng, mà còn trở thành “thương hiệu văn hóa” để đồng bào Chăm tự hào giới thiệu với bạn bè gần xa. Các tổ chức văn hóa, du lịch của An Giang cũng đã chú trọng quảng bá hình ảnh phụ nữ Chăm với chiếc khăn mat’ra trong nhiều chương trình nghệ thuật, hội chợ, triển lãm. Du khách đến An Giang thường dừng lại lâu hơn để ngắm nhìn nụ cười e lệ sau tấm khăn, để mua một chiếc làm kỷ niệm, mang về như chút hồn của miền biên viễn.

Điều đáng mừng là thế hệ trẻ người Chăm, dù tiếp xúc nhiều với đời sống hiện đại, vẫn không quên nguồn cội. Nhiều cô gái tuổi mười tám, đôi mươi chọn cách phối hợp khăn mat’ra với áo dài cách tân, với váy dạ hội, vừa tôn vẻ duyên dáng, vừa khẳng định bản sắc. Trên mạng xã hội, những bức ảnh thiếu nữ Chăm trong chiếc khăn truyền thống cũng lan tỏa, được nhiều bạn trẻ thích thú, coi đó là niềm kiêu hãnh. Khăn mat’ra đã vượt khỏi ranh giới của một món trang phục, để trở thành biểu tượng kết nối truyền thống với hiện đại. Nó giúp phụ nữ Chăm giữ gìn phẩm giá, nét đẹp dịu dàng trong từng cử chỉ, lời nói; đồng thời khẳng định sự tự tin, năng động của người phụ nữ nơi biên cương hôm nay.

Thủy Lê

Nguồn: Dulichvn

Tuổi trẻ Tuy Phước Bắc tích cực quảng bá du lịch

“Tự hào Tuy Phước Bắc-Mỗi tuần một vẻ đẹp” là chương trình đang được Ðoàn xã Tuy Phước Bắc (tỉnh Gia Lai) triển khai, nhằm quảng bá truyền thống văn hóa-lịch sử gắn với phát triển du lịch địa phương. 


Theo chị Phan Thị Yến-Bí thư Đoàn xã Tuy Phước Bắc, trên địa bàn xã có nhiều di tích cấp quốc gia, danh lam thắng cảnh, các nghề làm bánh truyền thống trở thành “thương hiệu ẩm thực” của địa phương. Từ đầu tháng 8-2025, Ban Chấp hành Đoàn xã lên ý tưởng xây dựng các video clip quảng bá tiềm năng, thế mạnh của địa phương.

Chị Phan Thị Yến-Bí thư Đoàn xã Tuy Phước Bắc tham gia hoạt động quay video clip, giới thiệu về nghề làm bánh tráng truyền thống ở địa phương. Ảnh: M.N

“Lợi thế của đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) là nhanh nhạy về công nghệ thông tin, có kỹ năng dẫn chương trình và sự sáng tạo. Vì vậy, Đoàn xã đã phát huy tối đa điểm mạnh này trong thực hiện các video clip quảng bá hình ảnh Tuy Phước Bắc, nhằm giới thiệu điểm đến, thu hút du khách trong và ngoài tỉnh”- chị Yến chia sẻ.

Không phải là những người chuyên nghiệp trong việc quay dựng video clip, nhưng bằng tinh thần nhiệt huyết, các bạn trẻ đã tìm cách khắc phục khó khăn, tập trung đầu tư vào nội dung và sáng tạo trong cách thể hiện.

Người dẫn chương trình, người kể chuyện, người quay và người dựng video clip. Chính nhờ sự phối hợp nhịp nhàng đó, các danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử được tái hiện sinh động qua góc nhìn trẻ trung, gần gũi.

Trong quá trình thực hiện video clip, Đoàn xã đã trao đổi, phỏng vấn những người am hiểu lịch sử, những người gắn bó lâu năm với di tích để có thêm thông tin bổ ích, chính thống.

Chị Nguyễn Thị Ngọc Hiếu-Phó Bí thư Đoàn xã Tuy Phước Bắc-bày tỏ: “Khi trực tiếp tham gia tìm hiểu, quay hình, dựng video clip, chúng tôi cũng nhận biết thêm nhiều kiến thức thú vị, càng thêm tự hào quê hương mình và có thêm động lực để truyền tải những giá trị ấy đến với mọi người”.

Mỗi video clip do Đoàn xã thực hiện có độ dài từ 4 đến 8 phút. Để có sản phẩm hoàn chỉnh, ê kíp thực hiện mất 1-2 ngày quay, sau đó thêm 1 ngày dựng và thu lời bình. Tất cả sản phẩm được đăng tải đều đặn vào ngày chủ nhật hằng tuần trên trang Facebook Đoàn Tuy Phước Bắc.

“Vì đây là những video clip quảng bá văn hóa – du lịch nên cảnh quay phải đẹp, thông tin phải chính xác thì mới được người xem đón nhận”-chị Yến nhấn mạnh.

Trong quá trình thực hiện video clip, ĐVTN được trải nghiệm công đoạn tráng bánh. Ảnh: M.N

Video clip đầu tiên được đăng tải vào ngày 10/8 là về chùa Bà-Cảng thị Nước Mặn, dài 7 phút 12 giây, không chỉ tái hiện không gian, giới thiệu lịch sử hình thành của ngôi chùa mà còn đưa vào lời kể sống động của người dân địa phương, về lễ hội Đô thị Nước Mặn được tổ chức tại đây. Video clip này hiện nhận được trên 11.000 lượt xem cùng hàng trăm lượt thích, bình luận và chia sẻ của mọi người.

Video clip mới nhất được Đoàn xã đăng tải vào ngày 14/9 với nội dung giới thiệu nghề làm bánh tráng truyền thống ở thôn Giang Bắc. Đoàn xã đã đến tận xưởng của bà Trương Thị Nở để ghi lại toàn bộ quy trình làm bánh. Đặc biệt, dưới sự hướng dẫn của bà Nở, các bạn trẻ còn trực tiếp trải nghiệm công đoạn tráng bánh.

Bà Nở phấn khởi cho biết: “Thấy các bạn trẻ nhiệt huyết quảng bá văn hóa, ẩm thực quê hương, tôi rất vui và hết lòng hỗ trợ. Hy vọng nhiều người sẽ hiểu thêm về ẩm thực đặc sắc của vùng đất Tuy Phước Bắc”.

Hiện tại, Đoàn xã đã đăng tải 5 video clip quảng bá về quê hương Tuy Phước Bắc. Sau khi đăng tải, Đoàn xã động viên ĐVTN tích cực chia sẻ để tăng tương tác, lan tỏa mạnh mẽ. Nhiều bình luận tích cực từ cộng đồng mạng đã trở thành động lực cho Đoàn xã tiếp tục thực hiện chương trình ý nghĩa này.

ĐVTN xã Tuy Phước Bắc thực hiện quay video clip giới thiệu về tháp Bánh Ít. Ảnh: M.N

Trong video clip về tháp Bánh Ít, một tài khoản Facebook bình luận với nội dung: “Quay video tháp Bánh Ít của quê hương mình rồi, quảng bá du lịch sáng tạo. Cần thêm phụ đề Anh ngữ, làm video clip sản xuất sản phẩm bằng tre, nứa”. Ngay sau đó, Đoàn xã đã tiếp thu và bổ sung phụ đề Anh ngữ cho mỗi video clip, mở rộng hơn đối tượng tiếp cận.

Chị Phan Thị Yến cho biết: “Thời gian tới, chúng tôi cố gắng thực hiện thêm những video clip chất lượng, ý nghĩa hơn nữa bằng chính tình yêu dành cho mảnh đất mình sinh sống. May mắn là chúng tôi nhận được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Đảng ủy, UBND xã, sự hỗ trợ từ ban quản lý di tích, người dân và có sự đồng hành của ĐVTN”.

Minh Nhật

Nguồn: Dulichvn

Khe Xay, vẻ đẹp tiềm ẩn nơi miền sơn cước

Khoác lên mình vẻ đẹp hoang sơ do thiên nhiên ban tặng, thác Khe Xay tọa lạc tại địa phận thôn Thuận 5, xã Lìa là địa chỉ hấp dẫn mà nhiều du khách muốn khám phá mỗi lần ghé thăm miền sơn cước phía Nam của tỉnh. Đến đây, khách sẽ được mãn nhãn với thác nước xinh đẹp; tìm hiểu thêm nhiều nét văn hóa đặc sắc của người Bru-Vân Kiều…


Điểm đến lý tưởng

Những ai yêu thích thiên nhiên, văn hóa đồng bào Vân Kiều, Pa Kô thì Khe Xay là điểm đến lý tưởng. Từ phường Đông Hà ngược lên xã Lìa, du khách có khoảng gần 90 phút đi trên Quốc lộ 9, qua Di tích lịch sử quốc gia căn cứ Làng Vây, ngang ngã ba chợ Tân Long (xã Lao Bảo) thì rẽ trái.

Từ đây đến trung tâm thôn Thuận 5 khoảng 6km, rồi khách tiếp tục di chuyển bằng xe máy hoặc đi bộ tầm 1km men theo con đường nhỏ quanh những triền đồi sắn tốt tươi, ngắm nhìn những ngôi nhà sàn nép mình bên sườn núi, thấy được không khí lao động sản xuất vui tươi của đồng bào nơi đây…

Du khách check-in tại thác Khe Xay – Ảnh: K.S

Không khó tìm Khe Xay, bởi từ xa thác đã vọng lại âm thanh nước chảy trên cao xuống, tung bọt trắng xóa như ngân vang bài ca của núi rừng mời gọi du khách. Con thác rất thoáng đãng, yên bình, có địa hình đẹp. Độ cao của thác khoảng 300m, chia làm 3 tầng, tầng giữa và tầng dưới đều chứa hồ nước trong xanh, mát lạnh.

Con thác đẹp như tranh vẽ. Khi đứng ở tầng thác trên cùng có thể nhìn bao quát được cả một khoảng rừng nguyên sinh và con suối dài chảy từ thác ra. Du khách sẽ thấy thích thú vì được hòa mình với núi rừng hùng vĩ, thoảng mùi hương nhẹ nhàng từ hoa dại ven thác, tiếng chim hót líu lo, thỉnh thoảng bắt gặp những chú khỉ vắt vẻo, nhảy nhót trên cành cây cao.

“Không chỉ có khỉ và nhiều loại chim quý hiếm sinh sống ở Khe Xay, người dân chúng tôi thường thấy có cả đàn nai từ núi cao xuống thác uống nước, nghỉ ngơi. Được tuyên truyền, vận động, người dân cam kết không chặt phá rừng, săn bắt, xua đuổi thú rừng mà luôn chung tay bảo vệ chúng”, ông Hồ Ta Cô, ở thôn Thuận 5 cho biết.

Sau khi tham quan, đắm mình trong dòng nước mát trong xanh, hiền hòa du khách có thể nghỉ qua đêm tại xã để tìm hiểu bản sắc văn hóa ở địa phương. Người Vân Kiều, Pa Kô nơi đây rất hiếu khách, sẵn sàng giới thiệu những nét đẹp truyền thống của dân tộc mình.

“Đánh thức” tiềm năng du lịch

Hiện nay trên địa bàn xã Lìa có các yếu tố thuận lợi để phát triển du lịch cộng đồng, được thiên nhiên ưu ái về mặt khí hậu, thổ nhưỡng cũng như thắng cảnh đẹp; bản sắc văn hóa các dân tộc Vân Kiều, Pa Kô đa dạng và đặc sắc như các lễ hội cồng chiêng, cúng lúa mới, tục đi sim của người Vân Kiều; nhạc cụ truyền thống, dân ca…

Nhận thấy thác Khe Xay có nhiều tiềm năng phát triển du lịch, thời gian qua, chính quyền xã Lìa đã định hướng cơ quan chuyên môn nghiên cứu xây dựng kế hoạch phát triển thác làm điểm du lịch cộng đồng; cùng với người dân tập trung khai thác, chuẩn bị điều kiện để phục vụ khách du lịch như: Dựng cầu tre và các lán trại nhỏ để khách đi vào thác thuận lợi, check- in, nghỉ ngơi; đẩy mạnh tuyên truyền nhằm thu hút khách du lịch…

Nhờ vậy, vào mùa hè và dịp lễ, số lượng người đến vui chơi, trải nghiệm tại thác đông hơn, bình quân mỗi ngày Khe Xay đón trung bình khoảng 500 khách. Đây là tín hiệu vui, giúp xã tiếp tục quảng bá để thu hút du khách và phát triển du lịch ở địa phương.

Trong định hướng phát triển du lịch cộng đồng giai đoạn 2025-2030 ở địa phương nói chung, thác Khe Xay nói riêng, xã Lìa tập trung đổi mới, tuyên truyền phát triển du lịch cộng đồng. Xây dựng sản phẩm du lịch cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương, trong đó tập trung phát triển sản phẩm du lịch văn hóa-lịch sử, sản phẩm du lịch cộng đồng-làng nghề. Khảo sát xây dựng mô hình và sản phẩm du lịch đặc thù, gắn với những tiềm năng, lợi thế tự nhiên, cũng như nét đặc sắc, riêng có về văn hóa, con người của xã.

Trước mắt, xã tập trung xây dựng và phát triển du lịch cộng đồng tại thác Khe Xay, giúp bà con tăng thêm thu nhập, tạo việc làm cho nhiều hộ dân đang sinh sống trên địa bàn và thúc đẩy phát triển kinh tế của xã. Du lịch hình thành, xã sẽ xây dựng chợ phiên hằng tuần, đây cũng là dịp để bà con trong vùng cũng như các bản lân cận nước bạn Lào qua giao lưu buôn bán hàng hóa.

“Để du lịch ở Lìa phát triển thuận lợi, xã đề nghị cấp trên xem xét, phê duyệt quy hoạch các điểm du lịch trên địa bàn xã. Hướng dẫn rà soát, đánh giá các khu vực có tiềm năng phát triển du lịch để đưa vào quy hoạch, đồng thời hỗ trợ đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch; tăng cường chỉ đạo việc tu bổ, tôn tạo các di tích nhằm phục vụ phát triển du lịch; hỗ trợ tổ chức các chương trình phục dựng lễ hội nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc, đồng thời gắn kết nhiệm vụ phát triển du lịch”, Chủ tịch UBND xã Lìa Trần Đình Dũng mong muốn.

Kô Kăn Sương

Nguồn: Dulichvn

Độc đáo nghệ thuật hát ngâm Ariya của người Chăm

Ariya thường được người Chăm trình bày dưới hình thức xướng ngâm, hát kể gắn với giai điệu, lời ca mang đậm tính chất nghệ thuật nên gọi là nghệ thuật hát ngâm Ariya. Nghệ thuật hát ngâm Ariya tồn tại và duy trì trong các không gian lễ hội, các buổi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của cộng đồng người Chăm.


Ngân nga điệu hát ngâm Ariya

Ariya là những bài thơ, vần thơ hay câu thơ có độ ngắn dài khác nhau. Có những bài chỉ vài chục câu lục bát, nhưng có những bài dài tới hàng trăm câu. Theo các nhà nghiên cứu về văn hoá Chăm, các bài Ariya của người Chăm có từ lâu đời, không chỉ được truyền lại qua hình thức truyền miệng như các loại hình văn học hay nghệ thuật dân gian khác, mà còn được người xưa ghi chép vào các thư tịch cổ bằng chữ Chăm (Akhar Thrah).

Ông Thông Đinh Phụng, người am hiểu về nghệ thuật hát ngâm Ariya của người Chăm ở thôn Lâm Thuận, xã Hàm Thuận Bắc, tỉnh Lâm Đồng cho biết, chủ đề và nội dung của các bài Ariya rất đa dạng trong đời sống, từ các sự kiện lịch sử, tình yêu, phong tục tập quán, lịch pháp… đến các bài gia huấn ca có giá trị răn dạy và giáo dục đạo đức cho con người.

“Ariya của người Chăm như một chân lý, để dạy đạo vợ chồng, mẹ cha con cái, đời đạo… Nói về Ariya có rất nhiều thể loại, vì vậy mà chúng ta nên gìn giữ để cho con cháu thế hệ mai sau. Nói chung chữ Chăm cũng như Ariya ngày càng bị lãng quên, do đó, bản thân tôi mong muốn bà con Chăm mình làm sao cùng nhau giữ lại, học lại Ariya” – ông Phụng nói.

Một trong những tác phẩm Ariya nổi tiếng của người Chăm là Bini – Cam (còn có tên Anai mai Meng Makah). Tác phẩm với trên 100 câu thơ lục bát, kể chuyện tình buồn giữa chàng trai Bàni và cô gái Bàlamôn, bị chia cắt bởi khác biệt tôn giáo. Câu chuyện kết thúc trong bi kịch khi chàng trai nhảy vào lửa chết cùng người mình yêu. Tác phẩm này là nguồn cảm hứng cho các nhà biên đạo múa, nhạc sĩ… sáng tác nhiều tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Ngoài ra, còn có một số thể loại Ariya mang nội hàm về gia huấn ca răn dạy cho người phụ nữ Chăm về thể hiện nhân cách đặc trưng theo chế độ mẫu hệ như: Ariya Amuk thruh palei, Ariya Pataow adat…

Những người am hiểu Ariya có thể hát ở mọi lúc mọi nơi, mỗi khi nhàn rỗi hay vào dịp lễ hội. Các giai điệu hát ngâm, thang âm, điệu thức, cường độ to nhỏ từng câu hát ngâm có thể tùy hứng theo tâm hồn, cảm xúc của người hát, nhất là những buổi hát về đêm, dưới ánh trăng bên bờ sông, nơi đầu làng Chăm hay bên đền tháp cổ.

Biểu diễn nghệ thuật dân gian Chăm tại đền tháp Po Sah Inư

Nghệ thuật hát ngâm Ariya có nhiều giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và nghệ thuật. Tuy nhiên, theo thời gian, cũng như nhiều loại hình di sản văn hóa truyền thống khác, nghệ thuật hát ngâm Ariya đang đứng trước các thách thức và nguy cơ mai một. 

Vang mãi điệu hát ngâm Ariya

Trước thực trạng trên, những năm gần đây, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch của 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận (cũ) nay là tỉnh Khánh Hoà và Lâm Đồng bước đầu đã tổ chức các cuộc điều tra, thống kê và sưu tầm các bài hát Ariya theo hình thức ghi âm, ghi hình; tổ chức các lớp truyền dạy nghệ thuật hát ngâm Ariya trong cộng đồng người Chăm…

Ông Lâm Tấn Bình, Nghệ nhân Ưu tú ở làng Chăm Bình Tiến, xã Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng cho biết, để lưu giữ và bảo tồn âm nhạc dân gian Chăm, trong thời gian qua, Bảo tàng tỉnh Bình Thuận trước đây đã mở 2 lớp truyền dạy dậy âm nhạc dân gian Chăm mà cụ thể là hát ngâm Ariya của người Chăm tại xã Phan Hiệp và xã Phan Hòa, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận nay là xã Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng.

Nghệ nhân Ưu tú Lâm Tấn Bình luôn đau đáu với nghệ thuật hát ngâm Ariya

“Việc làm trên nhằm gìn giữ lại bản sắc văn hoá Chăm, trong đó có hát ngâm Ariya Chăm. Ariya của người Chăm rất phong phú về nội dung và đa dạng về giọng điệu hát ngâm mang tính văn học nghệ thuật dân gian rất cao, trong đó có đề cập tình đoàn kết giữa hai đạo Bàlamôn và Bàni. Vì vậy mà phải bảo tồn, gìn giữ và phát huy vốn cổ văn hoá Chăm trong đó có hát ngâm Ariya” – ông Bình cho biết thêm.

Với những giá trị mang lại, nghệ thuật hát ngâm Ariya của người Chăm đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định 2216 vào ngày 27/6/2025.

Đây là cơ sở để sắp tới các địa phương có đông đồng bào Chăm nghiên cứu, đặt ra đề án tổng thể bảo tồn và tiếp tục phát huy các giá trị của loại hình hát ngâm Ariya của dân tộc Chăm.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Quốc Anh, nguyên Giám đốc Sở VH-TT và DL tỉnh Ninh Thuận (cũ) cho biết, với vai trò kế thừa, tiếp nối di sản, các địa phương có đông đồng bào Chăm sẽ tiếp tục bảo tồn và phát huy hơn nữa loại hình di sản đặc sắc này.

“Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch là đơn vị chỉ đạo thôi, còn thực hiện bây giờ chính là các xã. Những cái này phải đưa vào trong chương trình hành động cụ thể của UBND tỉnh mới thì mình tổ chức thực hiện được, phải có chiến lược, sách lược, mới có kế hoạch, chương trình thực hiện để có hiệu quả” – Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Quốc Anh nói.

Các đại biểu dự khai mạc lớp truyền lớp dạy nghệ thuật hát ngâm Ariya ở tỉnh Bình Thuận cũ

Trong thời gian tới, địa phương, các cơ quan chuyên môn và cộng đồng người Chăm ở tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Lâm Đồng cần tiếp tục quan tâm hỗ trợ, động viên các nghệ nhân thực hành hát ngâm Ariya; tăng cường số hóa các bài hát Ariya; nhân rộng và mở thêm nhiều lớp truyền dạy loại hình di sản này cho cộng đồng, nhất là giới trẻ. Đồng thời, tổ chức đưa Ariya vào trình diễn, thi thố trong các địa điểm, mô hình du lịch, sự kiện văn hóa; quảng bá nghệ thuật hát ngâm Ariya trên các trang mạng xã hội. Có như thế, giai điệu hát ngâm Ariya mới được lưu truyền và tiếp tục vang vọng đến các làng Chăm.

Jasi

 

Nguồn: Dulichvn

Về miền ẩm thực Sơn Trà

Giữa lòng Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà hiện lên như bức tranh thủy mặc, núi rừng xanh thẳm ôm trọn những làng chài, sóng nước thì thầm kể chuyện về các thế hệ ngư dân gắn bó với biển cả. Nơi đây nuôi dưỡng một nền ẩm thực giàu bản sắc, với nguồn giá trị dồi dào đang chờ được khai phá.


Món mỳ Quảng cá biển Sơn Trà mời gọi du khách trải nghiệm tại một Lễ hội ẩm thực. Ảnh: Trần Văn Thắng

Quà của làng biển

Văn hóa ẩm thực, không chỉ là những món ăn được chế biến tinh tế, mà còn là câu chuyện chứa đựng tâm hồn vùng đất, là lớp lang giá trị bản địa, là thăm thẳm miền ký ức của cộng đồng dân cư, được lưu giữ và trao truyền theo dòng chảy thời gian. Như cái cách mà sóng gió và dặm dài mưu sinh nơi làng biển Sơn Trà, in dấu lên từng đặc sản của vùng đất này.

Từ những con cá cơm tươi được ủ cùng muối biển để tạo nên vị đậm đà, mặn mòi, đến các món nướng trên than gỗ thuyền cũ, gợi nhớ về chuyến ra khơi đầy gian nan.

Những thức quà giản dị ấy vừa là nguồn sống, vừa là công cụ chuyên chở, định hình bản sắc địa phương trong sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Hệ sinh thái rừng, biển quyện hòa mang lại nguồn nguyên liệu hữu cơ phong phú, cùng với các lễ hội gắn kết cộng đồng, càng làm sâu sắc thêm câu chuyện ẩm thực Sơn Trà.

Sử thi làng chài được nhen nhóm từ những bữa cơm gia đình đơn sơ mà thanh thuần, ngọt lành, giàu dưỡng chất. Trong những ngày mưa rả rích, tiết trời se lạnh, không gì có thể ấm lòng hơn một nồi cá hố um dưa bốc khói nghi ngút, món cháo cá thu nấu với gừng tươi hay lẩu ghẹ ăn kèm rau rừng.

Ngày hè thì nhâm nhi gỏi cá trích tươi, với lát cá thái móng, trộn rau sống, dừa nạo và nước mắm chua ngọt, tạo nên hương vị hải sản tươi sống mát lành. Từng món ăn dân dã nhưng mang đậm hương vị truyền thống, nét văn hóa ẩm thực đặc trưng bao đời của người dân làng biển Mân Thái.

Mỗi buổi bình minh trên bãi biển Thọ Quang, những chiếc thuyền thúng cập bờ, mang theo mẻ lưới lấp lánh, đầy ắp cá tôm. Ngay gần đó, chợ hải sản Mân Thái thu hút hàng trăm tấn “quà biển” tươi rói từ các làng chài đổ về, nơi du khách có thể tự tay chọn tôm, cua, mực còn nhấp nháy và nhờ người dân bản địa chế biến tại chỗ, thưởng thức trọn vẹn hương vị của biển cả.

Anh Trần Văn Thắng, CEO Bếp tổng miền Trung, chuyên về ẩm thực vùng miền nhìn nhận: “Giá trị bản địa của ẩm thực Sơn Trà nằm ở sự mộc mạc mà sâu sắc, nguồn nguyên liệu tươi ngon, lịch sử và văn hóa tích tụ lớp lang câu chuyện, tâm hồn miền biển là chất men làm say lòng người. Nhiều yếu tố hấp dẫn để bồi đắp một nơi chốn thu hút và giữ chân khách du lịch”.

Thắp sáng biển đêm

Là một người con của Sơn Trà, với nhiều năm kinh nghiệm trong ngành ẩm thực và du lịch, anh Thắng hiểu rõ “báu vật” quê hương nằm ở nguồn hải sản tươi ngon và giá trị bản địa độc đáo ẩn sau mỗi món ăn.

Với khát vọng bảo tồn và lan tỏa di sản làng biển, anh khởi xướng thành lập Câu lạc bộ Du lịch Ẩm thực bản địa Sơn Trà vào năm 2025. Đây là mô hình cộng đồng tiên phong, quy tụ những thành viên tự nguyện yêu ẩm thực, du lịch, gắn bó với bản sắc quê nhà, cùng chung mục tiêu đưa Sơn Trà thành điểm đến ẩm thực hấp dẫn, góp phần phát triển kinh tế địa phương mà vẫn giữ được hồn cốt văn hóa.

CLB tập trung xây dựng các sản phẩm du lịch ẩm thực chất lượng cao, mang đến nhiều trải nghiệm chân thực và sâu sắc, với điểm nhấn là hành trình “Thắp sáng biển đêm”. Khách đến Đà Nẵng, sau ngày dài thăm thú cảnh quan, sẽ chưa vội đi ngủ mà tiếp tục với chuyến phiêu lưu đầy thú vị cùng biển đêm Sơn Trà. Ngắm biển, theo ngư dân đánh bắt hải sản, thưởng thức mì tôm mực hay lẩu cá lưới bên lửa trại…

Anh Thắng cùng các thành viên cũng lên kế hoạch xây dựng khu ẩm thực đường phố – street food, học hỏi từ mô hình thành công của Thái Lan, nơi cung cấp các dịch vụ chế biến hải sản tại chỗ, hoạt động âm nhạc, nghệ thuật làng biển, trò chơi dân gian, các lớp học nấu ăn, hình thành nên một “tụ điểm” văn hóa ẩm thực hấp dẫn, tạo ra nhiều giá trị cho cả người dân địa phương và du khách.

Các hoạt động này sẽ được tiếp sức bởi công nghệ hiện đại, trước mắt là Fanpage và AI Chatbot Du lịch Ẩm thực bản địa, dự kiến ra mắt vào cuối năm 2025. Chatbot sẽ gợi ý món ăn theo mùa, cung cấp thông tin về lịch trình đánh bắt, tour “thức cùng ngư dân”, địa điểm mua bán hải sản và nhiều trải nghiệm hấp dẫn khác trên biển Sơn Trà.

Mục tiêu cốt lõi là hỗ trợ người dân phường Sơn Trà phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, thấy được giá trị từ chính hoạt động ngư nghiệp và câu chuyện văn hóa bản địa mà họ là người chủ trì, dẫn dắt, trở thành linh hồn của chúng. Từ đó ngư dân được tiếp thêm năng lượng, thêm niềm tin để hết lòng gìn giữ làng nghề, gắn bó và tìm thấy nguồn vui từ nghề biển, lan tỏa năng lượng tích cực đến du khách, tạo nên một hệ sinh thái du lịch làng biển vừa giàu bản sắc, vừa hiện đại, tươi mới.

Anh Thắng chia sẻ: “Chúng tôi mong muốn phát triển hoạt động ẩm thực theo hướng sâu sắc, chuyển tải giá trị văn hóa độc đáo của vùng đất đến du khách, nhằm xây dựng du lịch bền vững, hỗ trợ cộng đồng bảo tồn nghề truyền thống. Sự đồng thuận, đồng hành của lãnh đạo phường Sơn Trà cũng như các Hiệp hội du lịch, ẩm thực, nhà hàng trong nước và khu vực càng củng cố hành trình này của chúng tôi, với sứ mệnh đưa câu chuyện làng biển vươn xa”.

Yên Hạ

 

Nguồn: Dulichvn

Từ bánh truyền thống đến sản phẩm OCOP

Từ món bánh tét truyền thống gắn bó với người dân Nam bộ, gia đình ông Trần Hữu Nghị, ngụ xã Long Kiến đã nâng tầm thành sản phẩm OCOP được nhiều người ưa chuộng. Giữ nguyên quy trình thủ công, lò bánh của ông không chỉ tạo ra hương vị quen thuộc mà còn tạo việc làm ổn định cho nhiều lao động nữ ở địa phương.


Ghé thăm hộ sản xuất, kinh doanh Hữu Nghị ở ấp An Tịnh, xã Long Kiến lúc nào cũng thấy không khí nhộn nhịp. Việc làm bánh khởi động từ buổi trưa, mỗi người một việc và kết thúc khi bánh được hấp xong lúc khuya. Bánh mới sẽ được phân phối đến các chợ lân cận vào sáng hôm sau. Gia đình ông Nghị chỉ làm bánh theo đơn đặt hàng, bán lẻ số lượng ít nên bánh làm ra trong ngày đều tiêu thụ hết. Ông Nghị kể: “Trước đây, vợ chồng tôi buôn đồ rẫy, rong ruổi khắp nơi, thấy bà con khá chuộng bánh tét. Thay vì lấy mối bán lại, vợ tôi gói để lấy công làm lời. Khách ăn bánh đều khen ngon, mua ngày càng nhiều. Sau một thời gian, chúng tôi quyết định ở nhà phát triển nghề này, đến nay ngót nghét hơn 10 năm, rất mừng vì bà con vẫn ủng hộ”.

Thời gian đầu, mỗi ngày gia đình ông Nghị bán khoảng 100 đòn bánh tét, đến nay, nâng lên hơn 300 đòn. Riêng dịp lễ, Tết Nguyên đán, sản lượng có thể tăng gấp đôi, gấp ba. Chịu thương, chịu khó, bà Nguyễn Thị Bạc – vợ ông Nghị luôn tỉ mỉ trong từng công đoạn gói bánh. Mỗi đòn bánh tét không chỉ là sản phẩm của đôi tay khéo léo mà còn là kết quả của việc lắng nghe góp ý từ khách hàng, điều chỉnh nguyên liệu cho vừa miệng, hợp lòng số đông.

Ông Trần Hữu Nghị tại lò sản xuất bánh tét truyền thống. Ảnh: Mỹ Hạnh

Bánh tét được bà Bạc gói có 5 loại nhân cơ bản, trong đó bánh tét nhân thịt là sản phẩm được công nhận đạt chuẩn OCOP 3 sao từ năm 2024. Đây là loại bánh bán giá cao nhất với 70.000 đồng/đòn, các loại còn lại dao động từ 30.000 – 35.000 đồng/đòn. Vỏ bánh có hai màu trắng theo truyền thống và xanh được nhuộm từ lá dứa. Trong đó, nếp là nguyên liệu quan trọng nhất, được ông Nghị đặt mua từ vùng chuyên canh nếp Phú Tân, có đặc tính dẻo thơm và không lẫn tạp. Các nguyên liệu như lá chuối, đậu xanh, dừa, thịt, trứng được thu mua từ các điểm bán uy tín trong và ngoài địa phương, đảm bảo nguồn cung quanh năm.

Ngày thường, khách hàng chuộng bánh tét nhân chuối và nhân mỡ. Những dịp trang trọng hay lễ, tết thì ưu tiên bánh tét nhân thịt. Ông Nghị chia sẻ: “Từ khi bánh tét nhân thịt được công nhận đạt chuẩn OCOP, tôi có thêm nhiều khách hàng, họ liên hệ từ xa đặt hàng, thấy mừng lắm. Tôi còn được địa phương tạo điều kiện tham gia các gian hàng hội chợ trong và ngoài tỉnh 4 lần. Trong các sự kiện, trung bình mỗi ngày tôi bán tại gian hàng hơn 100 đòn bánh. Hiện, số lượng tiêu thụ bánh hằng ngày khá ổn. Riêng dịp lễ, tết có thể bán từ 700 đến hơn 1.000 đòn bánh”.

Nhiều người gợi ý ông Nghị làm thêm bánh tét sáng tạo với nhân nhiều màu, họa tiết, chữ cái… nhưng ông đều từ chối. Là người trực tiếp điều hành sản xuất, bà Bạc lý giải: “Nếu làm cầu kỳ sẽ đội chi phí và giá bán lên cao, không phù hợp với nhu cầu của khách hàng ở nông thôn. Địa phương từng đề xuất hỗ trợ máy để thực hiện một số công đoạn, tôi xin phép không nhận, vì tại đây chúng tôi giữ trọn quy trình thủ công từ đầu đến cuối. Đòn bánh ngon đến tay khách hàng không chỉ nhờ định lượng nguyên liệu chính xác mà còn nhờ vào tay nghề, cảm nhận mới biết thế nào là đạt và ngon”.

Lò sản xuất bánh tét Hữu Nghị đang tạo việc làm cho hơn 20 lao động nữ, với mức thù lao 20.000 đồng/giờ. Đa số nhân công trong độ tuổi từ 40 – 60, đều là những phụ nữ thạo nghề trong xã. Các loại bánh tét chủ yếu được tiêu thụ ở địa phương, phục vụ các chợ, đám tiệc, lễ cúng… Xa nhất là các đơn hàng gửi đến TP. Hồ Chí Minh và nước bạn Campuchia. Với những đơn hàng gửi xa, bánh được hút chân không, bảo quản được 7 ngày; còn bánh hấp bán lẻ hằng ngày được khuyến khích sử dụng tốt nhất trong vòng 3 ngày.

Mỹ Hạnh

Nguồn: Dulichvn

Điện Hòn Chén – dấu ấn tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na giữa lòng xứ Huế

Nằm bên dòng Hương Giang thơ mộng, Điện Hòn Chén (Huệ Nam Điện) từ lâu đã trở thành điểm đến tâm linh đặc biệt của người dân Cố đô. Đây không chỉ là nơi thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na – vị nữ thần che chở muôn dân – mà còn là biểu tượng văn hóa, phản ánh sự giao thoa tín ngưỡng Chăm – Việt.


Điện Hòn Chén, nơi thờ phụng Thánh Mẫu Thiên Y A Na.

Trên dòng sông Hương thơ mộng, giữa núi Ngọc Trản xanh biếc soi bóng xuống mặt nước, Điện Hòn Chén từ lâu đã trở thành một điểm đến tâm linh đặc biệt trong đời sống tín ngưỡng của người dân xứ Huế. Đây là nơi thờ phụng Thánh Mẫu Thiên Y A Na Diễn Phi Chúa Ngọc – vị nữ thần được tôn xưng là Mẹ xứ sở, vừa mang dấu ấn tín ngưỡng Chăm Pa, vừa được Việt hóa và hòa nhập vào tín ngưỡng Mẫu Tam Phủ – Tứ Phủ của người Việt. Với vị trí đắc địa, cảnh quan hữu tình cùng chiều sâu văn hóa tâm linh, Điện Hòn Chén không chỉ là di tích lịch sử mà còn là nơi linh thiêng gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của bao thế hệ người dân Cố đô.

Dấu tích lịch sử và sự linh ứng của Thánh Mẫu

Theo truyền thuyết, Thánh Mẫu Thiên Y A Na vốn là vị thần của người Chăm, được người Việt tiếp nhận từ thế kỷ XVI và tôn thờ như một vị thần Mẫu đầy quyền năng. Tại Huế, bà được gọi là Thiên Y A Na Diễn Phi Chúa Ngọc, vị Thánh Mẫu che chở cho muôn dân, ban phúc lành, đem lại mùa màng bội thu và hạnh phúc gia đình.

Điện Hòn Chén được vua Minh Mạng cho trùng tu và ban sắc phong vào năm 1832, đến thời vua Đồng Khánh, nơi đây tiếp tục được quan tâm mở rộng và trở thành trung tâm tín ngưỡng lớn của vùng Thuận Hóa – Phú Xuân. Người dân tin rằng Thánh Mẫu rất linh ứng: ai thành tâm cầu khấn sẽ được bà che chở, phù hộ. Chính vì vậy, từ hàng trăm năm nay, nơi đây luôn đông đảo tín đồ và du khách tìm về chiêm bái.

Điện có kiến trúc độc đáo, nằm giữa thiên nhiên sông núi hài hòa. Các hạng mục chính gồm Điện Thượng, nơi thờ Thánh Mẫu, cùng nhiều điện thờ khác như Điện Ông Hoàng Bảy, Điện Ông Hoàng Mười, thờ các chư vị Thánh, Tiên, Phật trong hệ thống tín ngưỡng Đạo Mẫu. Tất cả tạo nên một quần thể hài hòa, linh thiêng nhưng cũng rất gần gũi với đời sống tâm linh người dân.

Nhắc đến Điện Hòn Chén, không thể không nhắc tới Lễ hội Điện Hòn Chén diễn ra hàng năm vào tháng 3 và tháng 7 âm lịch. Đây là lễ hội tín ngưỡng lớn nhất ở Huế, đồng thời cũng là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Điểm nhấn độc đáo của lễ hội chính là nghi thức rước Mẫu trên sông Hương. Hàng chục chiếc thuyền được trang hoàng rực rỡ với cờ phướn, đèn lồng, cúng phẩm, tiếng nhạc lễ rộn ràng. Con sông vốn yên bình nay bừng lên không khí linh thiêng và huyền ảo. Hàng ngàn tín đồ mặc lễ phục truyền thống, vừa đi thuyền vừa dâng hương, tạo nên một bức tranh văn hóa sống động, vừa trang nghiêm vừa tràn đầy màu sắc.

Ngoài phần lễ trang trọng như Lễ cáo yết, Lễ chánh tế, Lễ hoàn tạ…, phần hội cũng vô cùng sôi động với các sinh hoạt văn nghệ dân gian, hầu đồng, hát chầu văn, tạo nên một không gian kết nối giữa tín ngưỡng và nghệ thuật truyền thống. Chính sự kết hợp hài hòa này đã giúp lễ hội vừa giữ được tính thiêng liêng, vừa trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn với du khách trong và ngoài nước.

Giá trị tâm linh và bản sắc văn hóa

Điện Hòn Chén không chỉ là nơi hành lễ, mà còn là biểu tượng của sự giao thoa văn hóa giữa người Chăm và người Việt, giữa tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng cung đình. Việc thờ phụng Thánh Mẫu Thiên Y A Na là minh chứng cho sự dung hợp tôn giáo, tín ngưỡng, phản ánh tinh thần khoan hòa, tiếp biến văn hóa của người Việt ở vùng đất Thuận Hóa.

Với người dân Huế, Mẫu Thiên Y là hiện thân của tình mẫu tử thiêng liêng, của đức hạnh, lòng nhân từ và sự bảo hộ. Người dân đến với Điện Hòn Chén không chỉ để cầu tài, cầu lộc mà còn để tìm sự thanh thản trong tâm hồn, gột rửa những muộn phiền, hướng tới điều thiện lành. Lễ hội và các hoạt động tại điện vì thế góp phần duy trì nếp sống tâm linh, tạo nên sự gắn kết cộng đồng, khẳng định niềm tin vào giá trị nhân văn lâu bền.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của Điện Hòn Chén, Sở Văn hóa và Thể thao TP Huế cùng các cơ quan chức năng đã và đang triển khai nhiều biện pháp bảo tồn. Công tác tổ chức lễ hội được chú trọng đảm bảo an toàn, tiết kiệm, đúng quy định, vừa tôn trọng yếu tố tín ngưỡng vừa đáp ứng nhu cầu tham quan của du khách. Đồng thời, nhiều hoạt động quảng bá, nghiên cứu khoa học cũng được triển khai nhằm lan tỏa giá trị di sản này.

Điện Hòn Chén ngày nay không chỉ là trung tâm tín ngưỡng mà còn là điểm đến du lịch văn hóa – tâm linh hấp dẫn. Du khách đến Huế, ngoài việc chiêm ngưỡng lăng tẩm, cung đình, còn tìm đến điện để trải nghiệm đời sống tâm linh đặc trưng, hòa mình vào lễ hội độc đáo trên sông Hương. Qua đó, hình ảnh Huế không chỉ gắn liền với thành phố di sản mà còn là thành phố tâm linh, thân thiện, mến khách.

Hơn một thế kỷ tồn tại, Điện Hòn Chén vẫn giữ nguyên sức hút đặc biệt đối với cộng đồng. Đây không chỉ là chốn thờ tự, nơi linh khí hội tụ, mà còn là điện linh thiêng của Thiên Y Thánh Mẫu, một biểu tượng văn hóa – tâm linh đặc sắc của xứ Huế. Trong dòng chảy hiện đại hóa, điện vẫn vẹn nguyên giá trị thiêng liêng, trở thành điểm tựa tinh thần cho người dân, đồng thời mở ra hành trình khám phá sâu sắc cho du khách bốn phương.

Điện Hòn Chén vì thế không chỉ là di tích mà còn là nơi gửi gắm niềm tin, tình yêu và sự tri ân đối với cội nguồn, khẳng định sức sống mãnh liệt của tín ngưỡng Mẫu trong đời sống văn hóa Việt Nam.

Hầu Tỷ

 

Nguồn: Dulichvn

TIN MỚI NHẤT