Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Khám phá làng nghề thổ cẩm của đồng bào Chăm

Mỹ Nghiệp (huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận) là một làng nghề với hơn 90% dân số sống bằng nghề dệt. Đến với vùng đất thổ cẩm người Chăm ở Ninh Thuận, bạn sẽ bị cuốn hút bởi sức hấp dẫn của nơi đây.

Thuần chất thiên nhiên

 

Làng Chăm Mỹ Nghiệp, hay làng Chăm Irahani là làng nghề cổ cách thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 10km về phía Nam theo Quốc lộ 1A. Cùng với làng gốm Bàu Trúc, đây được xem là một trong những làng nghề cổ nhất Đông Nam Á. Nét độc đáo của làng nghề cổ này chính là việc người dân dệt vải theo cách thủ công truyền thống, không hề sử dụng máy móc, bảo lưu gần như nguyên vẹn các công đoạn ông bà để lại như: Chất liệu, hoa văn, bí quyết phối màu hay màu nhuộm.

 

 

Theo các cụ cao niên trong làng, nghề dệt thổ cẩm xuất hiện ở làng Mỹ Nghiệp từ rất lâu, vào thế kỷ X. Ông tổ nghề dệt là ông Sha Mú Cha Leng và bà Xa đã đến ngôi làng này. Chính ông là người đã sáng tạo nên nghề dệt thổ cẩm rồi truyền cho con cháu cho đến ngày nay.

 

Nghệ nhân Thuận Thị Trụ cho biết: “Để dệt được một tấm vải thổ cẩm phải qua nhiều công đoạn như: Tách hạt lấy bông, cuộn, ngâm dập, nhuộm, hồ, chải, đánh ống rất vất vả…”.

 

Công đoạn chọn màu đã khó, nhưng công đoạn phối màu còn khó hơn. Để tạo được những hoa văn tinh xảo, độc đáo, người thợ dệt phải có hoa tay, óc thẩm mỹ cùng sự am tường về đường nét, màu sắc, hình khối… như những họa sĩ thực thụ, có như vậy mới tạo nên sự hài hòa, cân đối cho tấm vải. Mỗi nghệ nhân lại sáng tạo theo một phong cách khác nhau, tạo nên những sản phẩm thổ cẩm Chăm vô cùng phong phú.

 

Hấp dẫn khách du lịch

 

Hiện nay làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp là một điểm đến không thể thiếu trong tất cả các tour du lịch đến Ninh Thuận. Đến thăm làng Mỹ Nghiệp, du khách sẽ thực sự bị cuốn hút bởi những tấm thổ cẩm sống động đầy màu sắc lạ, vừa chân phương, vừa mộc mạc, bởi chất liệu và cách thể hiện đường nét, hoa văn… mang đậm dấu ấn văn hóa của dân tộc Chăm.

 

Điểm độc đáo là mỗi tấm thổ cẩm đều có những nét riêng cho dù cùng được dệt bằng đôi bàn tay tài hoa của một người thợ. Song, điều khiến bạn ngạc nhiên hơn cả, đó là- nếu ở các làng nghề thổ cẩm khác, công việc chính là do các bà, các mẹ, các chị đảm nhiệm, thì ở đây hầu hết những người thợ dệt đều là thanh niên, con gái ngồi khung kéo sợi, còn con trai cắt, may thành sản phẩm.

 

Du khách được tận mắt chứng kiến những người phụ nữ Chăm cần mẫn luồn từng sợi chỉ dệt thổ cẩm, có khi mất mấy ngày mới xong một sản phẩm. Nếu muốn, bạn sẽ được chạm vào những chiếc hoa đồng có dáng tựa bầu rượu rỗng dốc ngược, được treo hai bên khung dệt, giúp người thợ đánh go tạo hoa văn khi dệt thổ cẩm.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Qua làng cổ Đường Lâm

Sẽ thiếu sót nếu ai từng theo đuổi “mùa thu phương Bắc” mà bỏ qua Làng cổ Đường Lâm – nơi cách Hà Nội chưa đầy 50km.

 

Một ngôi làng cổ kính với nhiều mái nhà ngói đỏ xưa cũ. Sẽ khá nhiều người thấy làm bất ngờ khi biết có những ngôi nhà đã hơn 300 năm tuổi. Bạn Hà Nội nói phố cổ Hội An đẹp trong từng con hẻm nhỏ dẫn về phía sông Hoài. Chúng tôi từ Quảng Nam ra Hà Nội lại thấy Đường Lâm đẹp bình yên từ cây đa đầu làng đến từng viên đá ong chạy dọc đường đi. Đến Đường Lâm từ Hà Nội, thong thả thì bằng tour xe đạp, hoặc nên chọn xe máy theo hướng đại lộ Thăng Long hoặc tuyến đường 32 đi Nhổn. Tới huyện Sơn Tây hỏi Đường Lâm thì một học sinh tiểu học cũng sẽ chỉ đường cho bạn.

 

Đường Lâm – một ngôi làng cổ kính với nhiều ngôi nhà mái đỏ xưa cũ. Những ngôi nhà này, có khi đã hơn 300 tuổi. Người Đường Lâm nói mùa đẹp nhất ở đây là mùa lúa chín tháng 9 hoặc tháng 5, vì khi đó đường làng được lót bằng rơm khô. Theo một người dân trong làng, ở đây có khoảng 100 căn nhà cổ được xây từ gỗ và đá ong có niên đại hàng trăm năm tuổi. Điều đặc biệt là tất cả ngôi nhà đều quay lưng ra đường với các bức tường đá ong, mái ngói rêu phong cổ kính. Ghé thăm một ngôi chùa, điều đầu tiên chúng tôi tò mò là những chiếc chum đậy kín đặt san sát nhau dưới những bóng cây. Các cụ bà chít khăn mỏ quạ đặc trưng miền Bắc nói ở Đường Lâm, ngoài nghề nông thuần túy còn có thêm nghề làm tương gia truyền. Muốn tương ngon phải có bí quyết và phải được ngâm ủ lâu ngày dưới bóng mát của cây. Các cụ mời du khách một ngụm chè tươi rồi bắt đầu tụ nhau trong sân chùa hóng chuyện đổi thay mỗi ngày ở làng. Cũng như quán nước chè tươi của cụ bà đối diện đình làng Mông Phụ, bà bỗng dưng nổi tiếng từ ngày du khách đến Đường Lâm ngày một đông. Bà tự tin nói: “Về đây mà không ghé quán ăn kẹo Dồi, kẹo Lạc, uống nước chè xanh của tôi là coi như chưa có biết làng cổ Đường Lâm đâu nhé”. Một điểm đáng chú ý nữa là bức tường gạch “Chú ý trẻ em” – dường như nét chữ này cứ phai đi một chút là người trong làng lại thay phiên nhau vẽ lại nguyên nét cũ. Chúng tôi có thắc mắc với cụ bà bán nước chè ở đình làng Mông Phụ tại sao nhà nào ở Đường Lâm cũng thấp hơn mặt đường. Bà nói, vì người xưa quan niệm “tụ thủy sinh tài”, khi trời mưa đến nước sẽ dẫn vào sân nhà, thế mới sinh ra tài lộc. Còn kiến trúc ở Đường Lâm là theo đường xương cá với một trục chính nên nhà trong làng này không dễ mất mát thứ gì. Người dân Đường Lâm cũng tự hào về “địa linh, nhân kiệt”, khi nơi đây là đất 2 vua – 2 vị anh hùng dân tộc là Phùng Hưng, Ngô Quyền.

 

Có một thời chưa xa, người trong làng đồng lòng ký vào đơn xin được trả lại danh hiệu làng cổ, bởi vì, theo câu chuyện của những cụ bà chúng tôi gặp trong sân chùa cuối làng, họ chỉ muốn quay trở lại những ngày xưa, Đường Lâm vẫn là Đường Lâm bình dị và êm ả. Còn phát triển du lịch, con cái họ muốn về quê cũng phải mua vé. Nhưng như một trang web giới thiệu về du lịch đã viết: “Nếu du khách đến với phố cổ Hội An để được tham quan, tìm hiểu những giá trị văn hóa đặc trưng của cuộc sống đô thị hồi thế kỷ 16 – 17 ở xứ Đàng Trong với kiến trúc đại diện cho những tầng lớp thương gia phong kiến pha trộn nền văn hóa bang giao của xứ sở Phù Tang, Pháp, Bồ Đào Nha, Trung Quốc thì khi đến với làng Việt cổ đá ong Đường Lâm, họ lại được hòa mình, được chiêm ngưỡng một “bảo tàng sống” về lối sống nông nghiệp – nông thôn Việt Nam”.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Eo Gió – Bức tranh tuyệt mỹ của thiên nhiên

Cách thành phố Quy Nhơn khoảng 20 km, Eo Gió là bức tranh tuyệt mỹ của thiên nhiên – là địa danh du lịch vẫn còn hoang sơ và chưa có nhiều người biết đến.

Trong số rất nhiều điểm đến dọc biển trên mảnh đất Quy Nhơn, Eo Gió được nhắc đến bởi vẻ đẹp nguyên sơ và hùng vĩ, nhưng không có nhiều người biết đến địa danh này và nếu không có người dẫn đường có lẽ cũng sẽ khó khăn trong việc tìm kiếm. Nằm trên địa bàn xã Nhơn Lý, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 20 km, tên gọi Eo Gió bắt nguồn từ hình dáng địa lý của khu vực này. Nếu đứng từ trên các mỏm đá xung quanh nhìn xuống du khách sẽ thấy một eo biển nhỏ được che chắn bởi hay dãy núi như một vòng tay ôm gọn bãi biển.

 


Được phát hiện từ khá lâu nhưng Eo Gió chỉ thu hút được những người ưa du lịch mạo hiểm vì cung đường đến đây khá vất vả, du khách phải băng qua đầm Thị Nại hoặc đi ghe máy từ bến Hàm Tử rồi lênh đênh trên biển mới đến được đây. Tuy nhiên, từ ngày cầu Thị Nại được xây dựng, Eo Gió với vẻ đẹp ngỡ ngàng của mình đã và đang nhanh chóng trở thành điểm tham quan mới đầy hấp dẫn của du khách..


Bao bọc gữa biển trời sóng nước mênh mông. Eo Gió được đá lởm chởm dựng như thành. Từng phiến từng phiến đổ liêu xiêu vào vách núi như đám cây mềm không chịu nổi sóng gió đại dương. Xa bờ một chút, bãi đá nhấp nhô tạo hình con cá sấu khổng lồ đang vươn mình, đầu cất cao trên sóng biếc. Người dân ở đây quen gọi con sấu đá này là hòn Mòng. Từ trên cao nhìn xuống quần thể Eo Gió xinh xắn và rất gợi cảm. Núi ôm biển, biển lượn viền theo chân núi; sóng biển vỗ dạt dào, nhè nhẹ vào vách đá tạo nên những khúc nhạc du dương. Chạy dọc theo chân núi từ tây sang đông là một bãi đá trứng lớn, nhỏ đủ màu sắc, làm cho ta tưởng tượng như có ai đó đẽo gọt, mài dũa sắp đặt một cách công phu. Lẫn vào bãi đá trứng là những phiến đá lớn như mặt bàn, nhẵn thín, có phiến to nhô ra như mái nhà giúp du khách ngồi chơi hay ngả lưng nghỉ sức khi mỗi lần dạo chơi, vãn cảnh. Cách chân núi không xa là những cụm đảo nổi trên mặt nước biển nhiều hình tượng, kiểu dáng đẹp một cách tự nhiên.

 

Xa xa ngoài khơi là những đảo nhỏ: Hòn Mồng, Hòn Cỏ, Hòn Cân… nổi trên mặt nước biển, mang dáng dấp kỳ lạ, khiến người ta liên tưởng là các chú trâu khổng lồ đang dầm mình ngụp lặn trên mặt sông trong những buổi trưa hè. Dưới chân Eo Gió có bãi “đá đẻ”. Những hòn đá to nhỏ nhiều kích cỡ nằm la liệt dưới chân sóng. Viên nào cũng tròn vo, nhẵn lì như mài. Người ta bảo bãi đá này “đẻ” thật. Vì năm nay nhặt đi, năm sau lại có nhiều như cũ. Ở đây còn có giếng Tiên. Nước từ vách đá chảy ra, trong vắt, không bao giờ cạn và ngọt lịm. Khi đến Eo Gió, nhiều người đã đến đây chơi và tắm nước giếng Tiên. Còn nước biển, nhờ bãi đá mà nước xanh màu ngọc bích. Tắm biển giữa thiên nhiên cũng là cái thú của sự ngao du giữa sơn thủy hữu tình.

 

Không chỉ được ngắm cảnh thiên nhiên, đắm mình trong nước biển mát lạnh, đến với Eo Gió, du khách còn được thưởng thức nhiều đặc sản của vùng biển Nhơn Lý như: món tôm hùm tươi sống được cho ngay vào nồi hấp, mực tươi rói hết hấp hành rồi nướng trui. Cá tà ma thứ cá có cái tên âm ti rùng rợn sống quanh gành đá biển lại đưa ta tới cõi tiên bồng vì cái vị ngọt đậm đà xen lẫn beo béo dù chẳng qua tẩm ướp bột ngọt hay bột nêm. Rồi cá mú, cá róc, cá dìa nướng…Cũng chỉ đơn giản là hấp và nướng nhưng ăn tới đâu, vị ngọt thơm thấm vào tới đấy.

 

Bởi là một điểm du lịch mới nên Eo Gió vẫn còn giữ được cho mình vẻ đẹp tự nhiên đầy hoang sơ. Đến đây vào buổi sáng sớm, du khách có thể chọn cho mình một phiến đá phẳng, thả mình trên đá và ngắm nhìn cảnh bình minh tuyệt đẹp vào sáng sớm. Trong ánh ban mai, tiếng sóng biển xô bờ hòa cùng tiếng gió tạo nên một bản hòa âm tuyệt vời đem lại sự thư thái, bình an trong lòng mỗi du khách.


Nếu đã nhàm chán với những thành phố du lịch ồn ào, náo nhiệt. Nếu mệt mỏi và cần tìm một nơi yên tĩnh để hòa mình vào thiên nhiên đất trời, để tìm lại chút thư thái, yên bình, Eo Gió là điểm đến thích hợp nhất để du khách lựa chọn.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đặc sản cơm Pồi ở buôn làng Chứt

Cũng như các dân tộc khác trong vùng, lương thực chủ yếu của đồng bào Chứt là ngô, sắn, lúa nương và các loại củ quả (chất có bột) được khai thác trong rừng và món cơm Pồi được xem như sự tổng hòa tất cả những tinh túy của các loại thực phẩm đó.

Một cách cụ thể, món cơm này là sự kết hợp của rất nhiều loại nguyên liệu được nuôi trồng ngay trong vườn nhà hay trên nương rẫy – từ ngô hạt, lúa nếp nương đến sắn củ…

 

 

Để nấu cơm Pồi, người ta phải chọn lựa nguyên liệu kỹ càng. Ngô hạt ngâm nước trong khoảng nửa ngày, vớt ra để ráo, rồi cho vào cối giã mịn; lúa nếp nương giã loại bỏ vỏ trấu rồi giã gạo mịn thành bột; sắn củ bóc vỏ, thái mỏng, ép giập, vắt kiệt nước. Khi các nguyên liệu đã chuẩn bị xong, đồng bào trộn đều nguyên liệu với một ít nước lã, muối rồi cho vào ống tre, lấy lá chuối rừng nút chặt phần miệng để giữ nhiệt cho cơm mau chín.

 

Khâu chọn ống tre cũng đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng của cơm Pồi. Để cho ống tre khỏi nứt, đồng bào Chứt dùng dao tước bỏ phần vỏ cứng bên ngoài của ống tre. Những ống tre đặt trên lửa than độ một giờ đồng hồ. Đến lúc có mùi thơm toả ra là cơm Pồi đã chín. Cách nấu này giống với cách nấu cơm lam của đồng bào một số dân tộc vùng cao phía Bắc như Thái, Dao, Mường… có khác chăng chính là ở thành phần nguyên liệu.

 

Ngoài cách nấu cơm Pồi theo dạng thức nướng than còn có một số cách nấu khác. Đó là phương thức luộc ống, bỏ các ống tre có đựng cơm Pồi vào nồi, dựng miệng ống có bịt lá chuối lên trên, đổ nước vào đun cho đến khi nào toả ra mùi thơm là cơm chín. Hoặc phương thức cách thủy tiện dụng theo lối đồ xôi bằng chõ của người Kinh đó là nguyên liệu được cho vào chiếc chõ bằng gỗ, giữa chõ đặt một tấm phên nứa, lót lá chuối rừng trước khi đổ nguyên liệu vào đồ lên.

 

“Có nhiều cách làm cơm Pồi nhưng ngày nay, người Chứt ta ưng nhất vẫn là phương thức nướng than, bởi nó đem lại cho món cơm hương vị đặc biệt nhất, vừa có vị thơm của lớp lụa tre rừng vừa có độ dẻo của gạo nếp, độ bùi của các nguyên liệu khác…” – già làng A Hui Tăng (79 tuổi ở xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa) chia sẻ.

 

Già Tăng còn kể rằng, ngày trước người Chứt thường ăn cơm Pồi với canh rau rừng, nấu với các loại cá, ốc hoặc thịt thú rừng chặt thành miếng vừa phải đem nướng hay ướp muối, cho vào ống tre vùi trong lửa than. Bây giờ thì thói quen ăn uống của bà con đã có nhiều thay đổi nên cơm Pồi cũng được ăn cùng với nhiều loại thức ăn phong phú, đa dạng hơn và người ta cũng “ngại hơn” khi cầu kỳ trong cách lựa chọn nguyên liệu để làm cơm Pồi.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Vườn quốc gia Ba Vì: Rực rỡ mùa hoa Dã Quỳ vàng

Những ngày này, Vườn quốc gia Ba Vì đang được thiên nhiên phủ lên mình một màu vàng rực của hoa Dã Quỳ.

 

Lung linh dưới những tán rừng già, chìm đắm trong những luồng ánh nắng vàng cuối đông và những làn mây trắng lung linh huyền ảo là một màu vàng rực của hoa Dã Quỳ.

 

Hoa Dã Quỳ đã bắt đầu nở vàng ngập tràn trên những con đường từ cổng vườn lên tới đền Thượng, nơi thờ thần Tản Viên ở độ cao 1269 m. 

 

Thật khó để tưởng tượng rằng, chỉ cách Trung tâm thủ đô Hà Nội 50 km lại có những cánh rừng được phủ một màu vàng bạt ngàn từ hoa Dã Quỳ. Với những người yêu thiên nhiên, đây là cơ hội hiếm để được đắm mình trong những cánh rừng hoa Dã Quỳ rực rỡ, nở vàng dưới những làn mây trắng và những tia nắng vàng yếu ớt cuối đông.

 

Theo các cán bộ khoa học Vườn quốc gia Ba Vì, hoa Dã Quỳ được đưa vào trồng thử nghiệm từ những năm 1930 nhưng không được trát triển mạnh. Những năm gần đây, môi trường tự nhiên cho hoa Dã Quỹ được quan tâm nên hoa bắt đầu nở vàng trên những cánh rừng già.

 

Thời gian đẹp nhất để những cánh rừng hoa Dã Quỳ khoe sắc đang diễn ra và sẽ kết thúc vào cuối tháng 12.2014. Đây cũng là cơ hội lớn cho những ai muốn ghi lại cho mình những khoảnh khắc ấn tượng với thiên nhiên.

 

Phó giám đốc Vườn quốc gia Ba Vì Đỗ Hữu Thế chia sẻ, Vườn quốc gia Ba Vì rất muốn quảng bá những hình ảnh đẹp nhất mà thiên nhiên ban tặng tới tất cả những ai yêu thiên nhiên, nhưng điều sợ nhất là một số ít bạn trẻ thiếu ý thức sẽ tàn phá Vườn, tàn phá những cánh rừng hoa Dã Quỳ, tàn phá những khoảnh khắc diệu kỳ mà thiên nhiên đã ban tặng riêng cho Vườn quốc gia Ba Vì. Hay lên Ba Vì để đón nhận cái không khí se lạnh đầu đông và thả mình vào những cánh rừng hoa Dã Quỳ bạt ngàn đang khoe sắc. Nhưng xin hãy bảo vệ thiên nhiên và môi trường nơi đây!

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Về miền gió hát Bạc Liêu

Về Bạc Liêu, du khách không quên ghé thăm nhà công tử Bạc Liêu nức tiếng ăn chơi một thời, nghe đờn ca tài tử Nam bộ – di sản văn hóa phi vật thể thế giới ngay chính tại nghĩa trang công viên nghệ nhân Cao Văn Lầu, nhưng chưa đến miền gió hát với Cánh đồng điện gió, quảng trường  “Nhạc gió” coi như chưa đến Bạc Liêu.

 

Cánh đồng điện gió được xây dựng trên vùng ngập nước ven biển rộng 500ha, với công suất thiết kế 99MW, mỗi năm cung cấp 310 triệu KWh điện. Những tua bin gió với cánh quạt khổng lồ, xếp hàng thẳng tắp, quay vòng theo chiều gió biển, chạy dọc theo đê Biển Đông hàng cây số, kéo dài từ phường Nhà Mát, qua xã Hiệp Thành và Vĩnh Trạch Đông – thành phố Bạc Liêu đến ranh giới xã Lai Hòa, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Ngắm nhìn dàn điện gió đứng sừng sững trên mặt biển mênh mông dưới bầu trời lộng gió, du khách như cảm nhận được lúc gió vui, gió buồn, hay… tức giận, những lúc gió thăng hoa, lãng mạn, dịu dàng hay bỗng dưng nổi cuồng phong. Nơi đây là “thiên đường gió”, du khách có thể thả hồn theo chiều gió trong những căn chòi đón gió đa dạng, bắt mắt. Những ngọn gió khi mỏng manh, nhẹ nhàng, thoảng qua vội vàng, hư ảo như nàng thiếu nữ… ngủ quên trên biển. Nhưng cũng có khi cuồng nhiệt, nghịch ngợm như đứa trẻ lên ba. 

Đến Quảng trường “Nhạc gió”, thưởng thức những âm thanh thiên nhiên kỳ lạ phát ra từ cây đàn gió lớn nhất Việt Nam. Đây là một tượng đài kiến trúc đặc biệt, kết hợp giữa nghệ thuật và khoa học, cấu trúc bởi nhiều ống sáo bằng thép không rỉ, chiều dài 10m, đường kính 1m. Cây đàn kỳ diệu này hút nguồn gió biển khổng lồ vào để trả lại cho đời những giai điệu, âm thanh kỳ bí chỉ có gió mới có: Gió múa, gió hát, gió vẽ. Các ước nguyện về tình yêu, về hòa bình, về cuộc sống an lành… sẽ được gửi lên bầu trời qua những ngọn đèn gió. Du khách cũng có thể đi dạo trên đại lộ “Cuốn theo chiều gió” lớn nhất thành phố Bạc Liêu, được trang trí bằng các sản phẩm lưu niệm như: Chuông gió, hoa gió, những bức tranh gió, cối xay gió, đàn gió… để mua về làm quà tặng người thân.

Khách ăn nghỉ tại khu du lịch “Lời tỏ tình của gió”, cảm nhận được những nụ hôn lãng mạn của gió, say cùng gió, ăn ngủ cùng gió, hò hét với gió để xóa tan mọi nỗi ưu phiền. Du khách được đọ sức với gió, vượt qua chính mình để chiến thắng gió. Du khách chớ quên ghé vào thăm “Bảo tàng và mê cung gió”, đây là quần thể công trình kiến trúc được xây dựng bằng công nghệ hiện đại, giúp quý khách tìm hiểu, khám phá tính chất đặc điểm, giá trị nhiều loại gió, cũng như lịch sử khai thác nguồn gió Bạc Liêu. Sau một ngày thỏa thích chơi cùng gió, du khách đến với “Thiền”, lắng nghe hơi thở của gió, cảm nhận đầy đủ sự tĩnh lặng và siêu thoát cùng với gió.

Chiều hoàng hôn, ngồi nhâm nhi ly rượu ngâm “thuồng luồng biển” với mực nướng một nắng thơm phức, du khách mải mê ngắm cảnh những đoàn ghe thuyền chở đầy ắp cá, tôm, mực… chạy về cửa biển Nhà Mát. Những đầm, vuông tôm chạy dài ngút mắt, ẩn hiện ven bờ dưới những rặng nhãn, xoài, chôm chôm, mít tố nữ… trĩu quả là những mái Chùa Xiêm. Đất phương Nam nơi nào cũng đẹp như tranh.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Sắc màu huyền ảo trên cầu treo dây võng lớn nhất Việt Nam

Hàng đêm, trên cây cầu treo dây võng dài nhất Việt Nam, du khách và người dân được chiêu đãi bữa tiệc ánh sáng với sắc màu lung linh, đầy mê hoặc.

Là một trong những cây cầu nối đôi bờ sông Hàn nổi tiếng ở thành phố Đà Nẵng, cầu Thuận Phước được khởi công xây dựng từ năm 2003 và chính thức thông xe vào ngày 19/07/2009. Cầu được đầu tư số vốn lên đến 1.000 tỷ đồng, với chiều dài hơn 1.800m và hiện là cầu treo dây võng dài nhất Việt Nam.

 

 

Cùng với cầu Rồng thép, cầu quay sông Hàn, cầu Trần Thị Lý, cầu Thuận Phước là một trong top 4 cây cầu tuyệt tác có kiến trúc đẹp mắt bậc nhất Việt Nam.

 

Thiết kế mềm mại, trải dài nên cầu Thuận Phước còn được người dân địa phương ưu ái gọi tên là “dải lụa nối đôi bờ sông Hàn”. Từ cây cầu này, chúng ta có thể nhìn toàn cảnh thành phố Đà Nẵng với sự hội tụ của sông núi, biển xanh. Vẻ đẹp trời cho cùng với không gian thơ mộng, khu vực quanh cầu Thuận Phước được nhiều cặp đôi lựa chọn để chụp ảnh cưới.

 

Khi đêm về, cây cầu chiêu đãi du khách và người dân bằng bữa tiệc ánh sáng huyền ảo. Những tia sáng lung linh biến đổi liên tục và nối đuôi nhau khiến hình ảnh cầu Thuận Phước trở nên lộng lẫy, uy nghi.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Ghềnh Bàng, góc lạ hoang sơ

Đối với những người yêu du lịch khám phá, Đà Nẵng tưởng như không còn gì lạ lẫm bởi mọi danh thắng, điểm đến đều đã ngập tràn dịch vụ và du khách. Nhưng, vẫn có một góc khác, lạ và hoang sơ ngay trong lòng  thành phố trung tâm du lịch của miền Trung.

Nhắc đến Ghềnh Bàng, không nhiều du khách biết đến, bởi địa danh này chưa nằm trong danh mục tour của các công ty du lịch, các đoàn khách đến Đà Nẵng. Chỉ có những dân du lịch bụi, đi bằng xe máy với từng nhóm nhỏ thỉnh thoảng đến Ghềnh Bàng cắm trại, đốt lửa, câu cá và lặn biển.

 

Những rặng san hô đủ màu sắc ở Ghềnh Bàng


Chỉ cách trung tâm thành phố Đà Nẵng chừng 20 cây số, nằm trong khu vực khuất nẻo của bán đảo Sơn Trà với đường vòng vèo, uốn lượn khó đi,  Ghềnh Bàng hợp với không khí của những chuyến phượt bằng xe máy. Khi đó, các phượt thủ có thể  trải nghiệm tay lái trên cung đường ôm bờ biển lộng gió, sóng tràn. Khi xe máy hết đường, các loại phương tiện đều phải gửi lại để phượt thủ bắt đầu một hành trình đi bộ chừng 2 cây số, qua một bãi đá với những góc cạnh lởm chởm, hà bám sắc lẹm luôn sẵn sàng cứa đứt gót chân người sơ ý.

Ở phía sau những rặng đá lớn gồ ghề, một bãi dài với biển xanh, cát trắng nắng vàng và những hàng dừa ngả bóng. Ghềnh Bàng hoang sơ mộc mạc với sự xuất hiện hiếm hoi của vài lều quán tạm bợ, vài chiếc bạt để dựng  trại, rồi có thêm cần và mồi câu, vài mươi chiếc kính lặn của người dân địa phương phục vụ khách khám phá những rặng san hô lấp ló ngay mép nước.

 

Có lẽ chính bởi sự ngăn cách của rặng đá hay những tối giản về dịch vụ mà nơi đây vẫn giữ được vẻ hoang sơ dù cách biệt không xa  trung tâm du lịch hút khách vào bậc nhất nhì cả nước như Đà Nẵng. Và có lẽ cũng bởi vậy mà Ghềnh Bàng trở nên hấp dẫn đối với người yêu hoang sơ, mộc mạc. Những rặng san hô ở đây không sâu, chỉ cần biết bơi, hiểu luồng nước và một chiếc kính lặn đơn giản là có thể lặn khám phá những đàn cá nhỏ lấp lánh dưới làn nước nông quanh bãi san hô đủ sắc màu. Thong thả với chiếc cần câu và mồi bột kiếm cho mình những khoảng lặn, thư giãn cùng và một bữa tối bên bãi biển bằng chính thành quả của những phút giây tĩnh lặng ấy. 

Cá ở Ghềnh Bàng rất nhiều loại và dễ câu. Thỉnh thoảng, có cả những con cá to tới mức lôi luôn cả cần của những “ngư dân nghiệp dư” ra biển.

Ghềnh Bàng (huyện Sơn Trà, Đà Nẵng) bởi thế là một địa chỉ mới hoang sơ, hấp dẫn mà chắc chắn không thể bỏ qua khi đến khám phá thành phố duyên hải miền Trung tuyệt đẹp này.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Mùa thu hương cốm

Mùa thu – hương cốm – Hà Nội những ngày xưa. Ngày ấy có những người phụ nữ với đôi quang đòng đưa gánh mùa thu theo hương cốm xanh non vào phố.

Chẳng phải rao đâu, tất cả đã là quen mùa, quen lệ. Nhìn gánh hàng đi qua là biết. Đòng đưa vì gánh hàng cốm nhẹ nhàng. Xếp trên mặt sàng là lá sen , lá ráy óng mượt, trước quang gánh có buộc một ít lạt rơm nếp dùng để gói cốm. Có người còn đội một thúng cốm trên đầu. Ai mua hạ xuống rất nhẹ như nâng niu khẽ khàng. À, đã có cốm rồi đây. Cốm ơi…Lời gọi cốm cũng từ từ thong thả.

 

 

Cốm là gạo mà. Quý như gạo lại thanh khiết, non tơ bởi còn giữ vị thơm của lúa thoảng trong làn gió đồng quê mát rượi. Mua lạng cốm gói trong hai lớp lá – lá ráy giữ cho cốm không khô, giữ cho màu xanh nếp non không phai màu nhạt vị, lá sen bao bọc cho lớp lá trong không rách, cho thoảng chút hương sen. Mua lạng cốm, nhón bốc bằng tay – chẳng ai lại đi ăn cốm bằng thìa – xoa xoa hạt cốm trong lòng tay rồi thả ít một vào miệng mà nhẩm nha cái dẻo mà không dính, cái ngọt mà ngậy, cái thơm mà thơm thanh tao. Ăn cốm giữa lòng phố mà thấm tháp chất hương đồng gió nội lâu rồi đang dần nhạt phai

 

Cốm có ở nhiều vùng quê trên đất Việt này. Cùng từ lúa nếp mà một nơi hạt cốm được làm ra một khác.

 

Ở Hà Nội, quang Hà Nội có cốm Vòng, cốm Lủ, cốm Mễ Trì, xa hơn chút có cốm Thanh Hương – Thái Bình. Những hạt cốm ngon, mẩy trông xanh mát là những hạt cốm được làm từ những hạt nếp còn đang hình thành, còn đang ngậm sữa. Nhánh lúa cắt về khi hạt thóc mới mây mẩy – rồi ranh, rồi tãi, rồi giã…  mới cho được những hạt cốm xanh mướt, mang vị ngòn ngọt của đất, của gió, của nắng, của sương…Hạt cốm đầu mùa, hay đầu nia, hay cốm non mỏng, mền, cầm vào mát nhẹ giữa lòng tay. Đừng bốc nắm to, ăn chút một, rắc chút ít lên đầu miếng chuối tiêu trứng quốc dẻo lắm, thơm lắm. Đấy là cách số một không gì sánh được. Cốm giữa mùa làm chả cốm, nấu xôi cốm, làm bánh cốm. Cốm cuối nia dày mình, ngả màu, ăm mộc dính hơn, ít thơm hương nếp. Cốm già hơn nên xào đường xánh ngon, nấu chè nở hạt. Có khi hạt cốm mộc giã bẹt, mua về đảo lên chảo rang phồng, ăn cũng thật thích.

 

Còn có cốm hộc Phan Thiết, có cốm nếp Phong Hậu đóng khuôn làm từ gạo nếp, đường cát. Có cốm dẹp Ba So – Trà Vinh, Sóc Trang, vốn là của người Khơ me, làm bằng  loại nếp vừa đỏ đuôi, chưa chín rộ, hạt còn mềm. Rồi còn nhiều loại cốm của người Tày, người Mường, người Thái, người Khơ Mú…cùng bằng lúa nếp với những cách làm khác nhau.

 

Hạt cốm từ lúa nếp được dùng chế biến nhiều món ăn ngon đặc biệt. Nào chè cốm, xôi cốm, chả cốm, bánh cốm…Mua thắp hương, mua khi cưới hỏi, mua khi cỗ bàn…vùa quý hóa, vừa dân tộc. Mua ăn chơi, mua làm quà Hà Nội, quà đặc sản vùng miền…đến cho bạn bè, mang đi nước ngoài làm quà tặng. Đơn giản thôi. Rẻ tiền thôi. Mà đặc biệt đấy!

 

Nhưng nói đến mùa thu – hương cốm trong nỗi nhớ, trong khẩu vị ngon nhất, nổi tiếng nhất là cốm làng Vòng.  Một mùa thu xửa xưa, khi bông lúa bắt đầu nảy ra hạt thóc thì trời đổ mưa to, gió lớn, đê vỡ, nhà cửa ngập, cây cối ngập và đồng lúa ngập mênh mông. Lũ lụt kéo theo cái đói. Người làng Vòng đi mò những bông lúa còn non, cắt, đem về rang khô, ăn dần, chống đói. Cái ngon khi đói, lâu dần thành cái ngon khi mùa và  người làng Vòng thường hay làm để ăn chơi mỗi khi mùa thu đến, người làng Vòng làm thành cốm làng Vòng nổi tiếng khắp nơi. Truyền thuyết không có thời gian, không cụ thể nhưng có căn cứ thực tế. Truyền thuyết cốm làng Vòng đưa chất tinh túy của lúa nếp đến cho mọi người. Cốm làng Vòng món ăn nhà quê – bình dân mà tao nhã, sang trọng, đậm hồn dân tộc Việt Nam.

 

Bây giờ, đường xá dày bụi, đầy xe, cốm về phố cũng đi bằng xe – đạp xe. Bây giờ mua cốm chỉ để ăn khi mùa thu đến thôi, không còn được nhìn, được ngóng, được cảm nhận từ xa hương cốm theo gió thu đưa về. Nét đẹp bình dân, dáng vẻ thư thái của những gánh cốm vào mùa đem đến thanh thản, dịu êm của làng quê đâu còn nữa. Trong chốn thị thành hôm nay, mùa thu – hương cốm cũng tất bật, vội vàng.  

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Chợ nổi Ngã Năm – nét đặc sắc vùng sông nước Sóc Trăng

Nói đến Sóc Trăng người ta thường nghĩ ngay đến Chùa Dơi, Lễ hội Ok Om Bok hay vườn cò Tân Long…nhưng còn một địa điểm vô cùng đặc sắc khác ở Sóc Trăng không nên bỏ qua đó là chợ nổi Ngã Năm.

Là một tỉnh thuộc vùng sông nước đồng bằng Sông Cửu Long, cũng giống như một vài tỉnh khác nét đặc trưng chung tại vùng đất này là những khu chợ nổi. Tuy nhiên khác với miệt vườn ở vùng trên, miệt vườn tại Sóc Trăng, Bạc Liêu xưa kia vốn là vùng trũng phèn mặn, nên khi muốn khai phá phải đào kênh. Tên gọi Ngã Năm xuất hiện khi người Pháp đào kênh quản lộ Phụng Hiệp. Kênh này cùng kênh Xáng cắt nganh kênh Xẻo Chính tạo thành năm nhánh sông, từ Ngã năm xuôi về các tỉnh Bạc Liêu, Hậu Giang, Kiên Giang.


Ngay khi mới hình thành Ngã Năm, người dân nơi đây cũng đã nhanh chóng tụ họp giao thương buôn bán tại khu vực này và chợ nổi Ngã Năm xuất hiện kể từ đó. Gọi là “Chợ nổi” bởi các hoạt động buôn bán, trao đổi đều diễn ra trên mặt sông thay vì mặt đất như ở các vùng, miền khác. Người bán, kẻ mua đều dùng xuồng, ghe để di chuyển và thực hiện các giao dịch trên sông. Đến với chợ Ngã Năm vào đúng thời điểm họp chợ, du khách sẽ thấy toàn cảnh khu chợ như một bức tranh tả thực sống động, nhiều màu sắc. Màu sắc từ các loại rau củ, hoa quả; màu của những chiếc áo bà bà phất phơ trong gió; những chiếc ghe lớn, nhỏ, xuồng năm lá, ba lá xuôi ngược nhộn nhịp; âm thanh náo động cả một vùng sông nước.

 

Miền Tây Nam bộ với đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, cộng thêm đất đai khá phì nhiêu do lượng phù sa màu mỡ từ sông Mekong bồi đắp hàng năm, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các loại cây nông sản phát triển. Các loại cây trái, rau củ, quả ở đây rất đa dạng và phong phú cả về trữ lượng và chất lượng, nên nông dân thường không dùng hết sau khi thu hoạch, hơn nữa mặt hàng này có thời gian bảo quản ngắn, từ đó xuất phát nhu cầu trao đổi, buôn bán giữa các tiểu nông. Họ thường chở các loại hoa màu thu hoạch được, tụ họp lại trên một đoạn sông để trao đổi, mua bán. Lâu dần, thói quen tự phát này đã trở thành cái nghề thứ 2 của họ trong những lúc nhà rỗi, có người đã chuyển hẳn sang nghề thương lái và tiếp tục truyền cho con cháu.


Nếu như ở những khu chợ khác, thường họp chợ vào khi trời sáng và nhộn nhịp từ sáng đến trưa thì chợ nổi Ngã Năm đặc biệt hơn bởi chợ họp vào khoảng thời gian trời đất còn đang mờ ảo, lúc 3-4 giờ sáng. Đến khi mặt trời lên cao, 7-8 giờ sáng chợ cũng đã gần tàn. Lúc này chỉ còn những ghe xuồng chất hàng chở đi các vùng lân cận còn hoạt động.

 

Một đặc điểm nữa cũng rất thú vị tại chợ nổi Ngã Năm đó là những cây bẹo quảng cáo. Ở mỗi ghe đều có cây bẹo treo lủng lẳng phía trước ghe. Trên cây bẹo treo thứ gì là ghe đó bán món hàng đấy. Điều này giúp du khách và người mua hàng dễ dàng tìm thấy món hàng mình cần giữa một vùng sông nước bao la. Với người dân tại đây, những cây bẹo quảng cáo này có thể không cần thiết nhưng với những du khách mới đến lần đầu còn nhiều bỡ ngỡ trước cảnh mua bán trên sông nước thì việc này giúp ích không nhỏ trong việc xác định phương hướng và tìm thứ mình cần.


Là khu chợ chính phục vụ nhu cầu thực phẩm thiết yếu của người dân, bên cạnh đó từ nhiều năm nay còn là một địa điểm thăm quan hấp dẫn đối với khách du lịch, chợ Ngã Năm vì vậy buôn bán đủ mọi mặt hàng. Từ rau củ quả, thực phẩm gạo, muối, thịt cá cho đến quần áo, vải vóc và cả những hàng cà phê, ăn sáng cũng đều có hết. Trước kia, những người buôn bán ở đây còn lạ lẫm với khách du lịch thì nay những tiểu thương ở khu chợ này đã quen với những vị khách hàng ngày đến thăm quan chợ. Vì thế mà đến với chợ nổi Ngã Năm ngày hôm nay, du khách có thể bắt gặp những nụ cười rất thân thiện của người bán hàng. Trong chiếc áo bà ba, cái nón đội nghiêng nghiêng, những nụ cười không lẫn vào đâu được của người dân miền Tây, khách du lịch được phục vụ những món ăn đặc trưng của vùng sông nước, được ném thử những thứ quả tươi ngon mới hái…sự thanh bình, yên ả hiện diện trong chính những ồn ào của khu chợ.


Dù đến nay, hoạt động buôn bán ngày càng nhộn nhịp hơn, khách thăm quan du lịch cũng tìm đến đây đông hơn song chợ nổi Ngã Năm vẫn giữ được vẻ mộc mạc trong cả cách buôn bán, cho đến lời mời gọi của người bán hàng. Sự hấp dẫn của điểm du lịch này có lẽ đến từ chính những điều bình dị đó, cũng vì thế mà nếu có dịp đến với Sóc Trăng, chợ nổi Ngã Năm là một địa điểm mà du khách cần trải nghiệm. 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

TIN MỚI NHẤT