Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Vịnh Hạ Long – Món quà của tạo hoá

Nacho Morejón Guerrero sinh ra tại Huelva, Tây Ban Nha năm 1972. Năm 16 tuổi, Nacho bắt đầu chuyến du lịch đầu tiên và từ đó đến nay, anh đi du lịch khắp các nơi trên thế giới, làm đủ mọi việc ở nhiều quốc gia, nhưng chủ yếu là các công việc về truyền thông, báo chí và điện tử viễn thông.

Nacho Guerrero lập ra trang web Dokodemo Door để chia sẻ về những chuyến đi của mình bằng cả tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha. Anh đã có một bài viết khá dài đăng trên trang web này về chuyến thăm Vịnh Hạ Long với những kỉ niệm không thể quên của mình. Xin trích dịch một phần bài viết đó của anh…

 

Vịnh Hạ Long nhìn từ cửa hang Sửng Sốt. (ảnh do tác giả chụp)

 

Truyền thuyết kể lại rằng, Vịnh Hạ Long xưa kia là nơi Rồng thần hạ giới để giúp người dân chống giặc ngoại xâm. Sau đó vì yêu mến mảnh đất này, các Rồng thần đã ở lại đây, tạo nên một kì quan tuyệt đẹp đến tận ngày nay. Có thể nói, Vịnh Hạ Long là một trong những địa điểm du lịch hàng đầu ở Việt Nam nói riêng cũng như khu vực Đông Nam Á nói chung. Theo những gì tôi tìm hiểu về thành phố Hạ Long thì nơi đây có tốc độ phát triển khá nhanh, chỉ trong vòng chưa đầy 10 năm, thành phố đã có rất nhiều thay đổi. Ấn tượng đầu tiên khi vào thành phố là sự xuất hiện của rất nhiều tàu thuyền trên biển, thậm chí các tàu phải chen nhau san sát để có thể neo đậu ở cảng. Điều này đôi khi làm che khuất tầm nhìn ra biển của du khách.

 

Chúng tôi được đưa lên một con tàu gỗ kiểu cổ khá sang trọng hoàn toàn xứng đáng với số tiền mình bỏ ra. Ngay khi con tàu bắt đầu rời bến, chúng tôi được phục vụ một bữa trưa thịnh soạn để chuẩn bị cho chuyến du lịch Vịnh Hạ Long đầy thú vị trước mắt. Khi bến cảng xa dần sau lưng cũng là lúc không gian dần dần thay đổi. Mọi thứ trở nên tĩnh lặng và yên bình hơn. Tôi thấy núi đá mọc san sát khắp nơi trên Vịnh. Một bạn người Việt Nam nói với tôi rằng, Hạ Long có tất cả 1.969 đảo đá. Anh ấy còn bảo, con số này dễ nhớ vì nó  trùng với năm qua đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ nổi tiếng của Việt Nam.

 

Điểm nổi tiếng nhất về mặt địa chất ở Hạ Long chính là địa hình cax-tơ độc đáo, với những hang động rộng lớn được hình thành trong suốt hàng trăm triệu năm. Một trong số đó là hang Sửng Sốt với ba gian rộng và hàng trăm nhũ đá, măng đá đủ mọi hình dạng kích thước. Đứng ở cửa hang, bạn có thể nhìn thấy toàn cảnh Vịnh Hạ Long, một khung cảnh hùng vĩ tráng lệ mà không phải nơi nào trên thế giới cũng có được.

 

Trước khi mặt trời lặn, tàu của chúng tôi dừng lại ở đảo Titop – một hòn đảo nhỏ với bãi tắm khá đẹp. Không chỉ vậy, những khách du lịch đủ kiên nhẫn để leo lên đỉnh ngọn núi trên đảo sẽ không phải hối hận bởi cảnh tượng nhìn thấy. Xung quanh chúng tôi là mênh mông trời nước, với một màu xanh chủ đạo bao trùm, đan xen một vài cánh chim trên mặt biển. Mọi thứ vẽ nên một bức tranh thật hoàn hảo. Khi mặt trời bắt đầu khuất dần, chúng tôi dành thời gian nằm trên boong tàu ngắm mặt trời lặn, một trải nghiệm không thể nào quên.

 

Nếu được chọn một địa điểm để quay lại nếu có dịp đến Việt Nam lần nữa, tôi nghĩ mình sẽ chọn Vịnh Hạ Long. Có lẽ tôi sẽ dành thêm một vài đêm trên vịnh, tìm kiếm cảm giác bình yên tĩnh lặng, tránh xa cuộc sống ồn ào bận rộn bên ngoài.

 

Nacho Morejón Guerrero (Lạc Dung dịch)

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Những sắc hoa rực rỡ trên Cao nguyên đá

Hoa cúc, hoa rau dền, hoa vông vang… mùa này rộ nở trên cao nguyên đá, làm thức dậy những vẻ đẹp ẩn sâu của một Hà Giang chưa bao giờ xưa cũ.

Hà Giang chớm đông không chỉ mơ màng trong sắc hồng của loài hoa tam giác mạch mà còn để lại những cảm xúc bâng khuâng khó tả cùng những loài hoa muôn sắc trên khắp nẻo lối. Để rồi, người lữ thứ phương xa nếu đã trót phải lòng xứ sở của đá nở hoa đến đây chỉ muốn lạc lối về.

 

 

Đi qua những mùa hoa trên cung đường vòng vèo, quanh co của mảnh đất địa đầu Tổ Quốc, những sắc hoa ven đường làm hành trình trở nên ngắn lại, tâm hồn người lữ thứ như trở nên rộng mở, thăng hoa hơn. Những sắc hoa rực rỡ khắp núi rừng đẹp như nụ cười đôn hậu của con người nơi đây, như một thứ men tình ấm áp, dễ làm say lòng người.

 

Vì lẽ đó mà những vần thơ lai láng về loài hoa này được du khách để lại: “Tôi sẽ trở về trong nỗi nhớ lang thang/ Làm cánh bướm đậu vàng bông hoa cúc/ Để gởi tặng em một làn hương hiền thục/ Có nồng nàn và cả những bâng khuâng”.

 

Hà Giang tháng 11 tặng những vị khách ghé thăm vẻ đẹp nên thơ được dệt nên từ những cảnh vật bình dị, thân thương nhất.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Khám phá thành Sơn phòng Hàm Nghi

Một buổi chiều cuối thu, tôi lang thang bên thành Sơn phòng Hàm Nghi, thuộc xã Phú Gia, huyện Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh).

Sân đền Hàm Nghi rộng thênh thang, phủ nét rêu phong. Dưới tán cây cổ thụ, những đứa trẻ chơi trò kéo co, một vài cụ già ngồi mơ màng, hoài niệm. Trong cảnh yên bình ấy, tôi được nghe các cụ kể lại chuyện triều đình nhà Nguyễn xưa kia xây thành Sơn phòng Hàm Nghi, một dấu tích về nghệ thuật quân sự tài ba, thiên biến vạn hóa của cha ông ta trong phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX.

 

 

Cố đạo Vũ Đình Hiền, 74 tuổi, người đang trông coi báu vật vua Hàm Nghi trầm ngâm kể lại: “Thành Sơn phòng Hàm Nghi xưa kia là căn cứ địa phòng thủ trọng yếu nằm dọc theo đại ngàn Trường Sơn, giáp biên giới Việt-Lào. Năm Giáp Thân, niên hiệu Kiến Phúc thứ nhất, cũng là năm Hàm Nghi lên ngôi (1884), do Phòng thần trù tính, tâu xin triều đình cho đắp thêm thành Sơn phòng. Công trình do Thượng thư Tôn Thất Thuyết bí mật cho xây dựng trong 2 năm. Tòa thành được xây dựng hết sức công phu với sự đóng góp nhân lực, vật lực của gần 40 xã thuộc các huyện: Hương Khê, Hương Sơn, Đức Thọ, Hồng Lĩnh… của tỉnh Hà Tĩnh”.

 

Theo hồ sơ di tích của Bảo tàng Hà Tĩnh (lập tháng 5-2000), thành Sơn phòng Hàm Nghi được đắp theo hình chữ nhật với tổng diện tích 4.200m2, chiều rộng 200m, chiều dài 210m. Thành được đắp cao 2,2m, chân thành 9m, mặt thành 7m, cách chân thành 5m là hào. Hào bao bọc lấy thành (gọi là Kim Thủy hồ) rộng 5,5m, sâu 1,7m. Thành xây hướng Nam, bốn cạnh theo hướng Đông Nam-Tây Bắc, chính giữa bốn cạnh thành xây bốn cổng đối diện nhau, mỗi cổng rộng 8m, cổng chính rộng 8,5m. Tại bốn góc thành có bốn ụ đất đặt súng thần công. Thành ngoại là một vòng khép kín được đắp nối với nhau, tạo dáng như một hình thang. Tại bốn góc phía trong và ngoài thành, đắp bốn ụ đất nhô ra ngoài là bốn ụ súng. Hào thành là đường giao thông thủy quan trọng, nối liền các khu vực trong thành, và cũng là con đường rút lui ra sông Tiêm để vào rừng núi khi có nguy biến. Theo ông Lê Xuân Sang, thành Sơn phòng Hàm Nghi được xây dựng hết sức công phu, cho thấy một nghệ thuật bài binh bố trận tài ba của quân ta xưa kia.

 

Thành Sơn phòng Hàm Nghi được triều đình nhà Nguyễn lựa chọn làm căn cứ đại bản doanh để luyện tập quân sự. Cũng chính nơi đây, vua Hàm Nghi từ kinh thành Huế ra cùng với các tướng lĩnh, văn thân, sĩ phu yêu nước như: Phan Đình Phùng, Lê Ninh, Đinh Công Tráng, Tôn Thất Đạm… trực tiếp lãnh đạo phong trào Cần Vương, tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong quãng thời gian 3 năm (1885-1888). Năm 2001, thành Sơn phòng Hàm Nghi, đền Công Đồng và miếu Trầm Lâm (xã Phú Gia, huyện Hương Khê) được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia. Hiện nay thành Sơn phòng Hàm Nghi đã được tu bổ, tôn tạo, nhằm khôi phục, tái hiện lại toàn vẹn hình dáng sơ khai vốn có khi xưa, phục vụ nhu cầu tham quan, tìm hiểu lịch sử truyền thống của nhân dân và du khách bốn phương.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Thăm Bạch Dinh, nhớ trận địa pháo cổ

Từ thành phố mang tên Bác, chúng tôi vượt 100 cây số về hướng đông, mất 1 tiếng rưỡi, theo con lộ cao tốc láng nhựa phẳng lỳ thì đến thành phố Vũng Tàu. Chúng tôi quyết định điểm đến đầu tiên là Bạch Dinh nổi tiếng, trên đường Trần Phú.

Khẩu thần công có từ thời nhà Nguyễn

 

Đường lên Bạch Dinh có 2 lối: Một đường lát đá chống trơn uốn lượn chạy dưới cây giá tỵ, dành cho ô tô lên tới tiền sảnh. Chúng tôi chọn con đường đi bộ, leo qua 146 bậc tam cấp, mát, thơ mộng, kín đáo nằm giữa hai hàng sứ cao niên. Bạch Dinh nằm ở phía nam núi Lớn, có hướng nhìn ra Bãi Trước, sơn màu trắng bên ngoài nên được gọi là Bạch Dinh. Tiếng Pháp là Vila Blanche. Nhưng Bạch Dinh còn có một tên nữa gắn liền với một câu chuyện lịch sử. Đây là nơi thực dân Pháp bắt nhà vua yêu nước Thành Thái (Bửu Lân,  1889 – 1954) giam lỏng suốt hơn 10 năm trời, từ năm 1906 đến 1917, trước khi đầy biệt xứ, cùng với người con trai là nhà vua Duy Tân tại đảo Resunion. Do đó người dân địa phương quen gọi là dinh Ông Tượng để bày tỏ lòng kính trọng nhớ về ông vua yêu nước.

Bạch Dinh được xây dựng theo kiến trúc châu Âu, họa tiết Hy Lạp tinh tế. Đề án do đích thân Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer phê chuẩn, chính ông ta đặt theo tên cô con gái là Blanche Richel Doumer, để tặng cho người vợ của mình. Phải mất 4 năm (1898- 1902), Bạch Dinh mới hoàn thành. 

Bạch Dinh tọa lạc trên một khuôn viên rộng 6ha, gồm một khối nhà 3 tầng cao 19m, dài 28m, rộng 15m, mái lợp ngói đỏ tươi. Nhìn từ ngoài vào ta thấy phía dưới là mảng viền trang trí tinh tế, mỹ thuật. Sứ men màu là nguyên liệu chính tạo hình ảnh. Đôi chim công màu xanh ngọc, điểm xuyết những chấm bạc lấp lánh đang xòe cánh múa làm cho ngôi nhà mang dáng dấp thanh thoát. Những gương mặt phụ nữ châu Âu xinh đẹp như các nữ thần trong thần thoại Hy Lạp. Đôi cá chép uốn lượn như muốn hóa rồng. Hoa cúc, hoa hướng dương viền từng mảng quanh ngôi nhà lấp lánh dưới ánh ban mai, vàng rực rỡ trong nắng làm nền cho màu trắng Bạch Dinh thêm lộng lẫy. Nội thất trang trí tỷ mỷ, kỹ lưỡng. Tầng hầm dùng cho việc nấu nướng. Tầng trệt được dùng làm phòng khánh tiết bày nhiều hiện vật cổ như song bình bách điểu chầu phụng. Bộ tràng kỷ Hoàng gia ghi niên đại Khải Định năm 1921. Cặp ngà voi châu Phi dài 170cm. Bộ tam đa ngũ thái Phúc- Lộc- Thọ. Bao quanh 3 mặt chính tòa nhà là 8 bức tượng bán thân mang phong cách Hy Lạp cổ, gắn trên một đường thẳng tạo nên vẻ sang trọng, tráng lệ của tòa nhà. Tầng 3 của Bạch Dinh là nơi trưng bày nhiều hiện vật giá trị như đồ gốm thời Khang Hy vớt được từ xác tàu cổ đắm tại vùng Hòn Cau – Côn Đảo. Súng thần công, cùng hiện vật giá trị khác được tìm thấy qua những đợt khai quật khảo cổ ở Bà Rịa – Vũng Tàu.


Vùng bờ biển Vũng Tàu có 5 ngọn núi: núi Lớn, núi Long Sơn, núi Nhỏ, núi Long Hải, núi Dinh tạo thành một vòng cung ôm ấp trời xanh, biển biếc. Các nhà Hàng hải Bồ Đào Nha, trên đường đi tìm đất mới giao thương buôn bán từ thế kỷ thứ XVI, đã nhận ra đây là vùng đất thuận tiện giao thương buôn bán, giàu tài nguyên và có vị trí quan trọng về quân sự. Tại vị trí đất nhô ra biển thuộc địa phận núi Lớn, năm 1788, Hoàng đế Minh Mạng đã cho xây dựng kiên cố cụm pháo đài Phước Thắng để kiểm soát cửa biển Cần Giờ. Ba khẩu súng thần công trong ngày lịch sử 10-2-1859 đã lập chiến công hiển hách, bắn chìm nhiều tàu chiến của giặc Pháp. Sau khi chiếm được quyền cai trị Đông Dương, chính quyền thực dân Pháp đã san bằng pháo đài, huy động 800 tù khổ sai, ép buộc họ khai phá, kiến tạo nên Bạch Dinh làm nơi ăn chơi, nghỉ mát cho Toàn quyền Đông Dương.

Trước sân Bạch Dinh vẫn còn nguyên đó 2 khẩu đại bác và 10 khẩu thần công có xuất xứ từ Pháp và Italia thế kỷ thứ X, hiên ngang chĩa nòng ra biển như một thông điệp không lời tới du khách, nơi đây từng là trận địa pháo, cha ông ta đã chiến thắng thực dân xâm lược.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Chư Đăng Ya rực rỡ mùa hoa dã quỳ

Giữa tháng 11, các cung đường, núi đồi ở Tây Nguyên đang rực rỡ màu vàng của hoa dã quỳ, báo hiệu mùa khô đã bắt đầu.

 

Đây là thời điểm lý tưởng cho những ai yêu thiên nhiên, thích khám phá, ưa tìm kiếm những nét đẹp hoang sơ, tinh khiết và quyến rũ của vùng đất đại ngàn.

 

Phố núi Pleiku (Gia Lai) và các vùng phụ cận là nơi tập hợp nhiều ngọn núi lửa, mỗi ngọn núi lửa mang trên mình những sắc thái rất riêng, tạo thành những cảnh quan đặc sắc. Chư Đăng Ya, ngọn núi lửa nằm cách trung tâm phố núi chừng 30km theo hướng Đông Bắc, thuộc làng Plơi Iagri, xã Chư Đăng Ya, huyện Chư Păh là một trong số những cảnh quan đặc sắc đó, nhưng còn ít người biết tới.

 

Chư Đăng Ya, theo tiếng của đồng bào J’rai nghĩa là củ gừng dại, một ngọn núi lửa đã ngưng hoạt động hàng triệu năm, với miệng núi hình phễu đặc trưng. Núi lửa Chư Đăng Ya ẩn mình giữa bốn bề núi non trùng điệp, âm thầm, lặng lẽ nhưng tràn đầy sức sống và đầy mê hoặc.

 

Dấu tích của nham thạch qua hàng triệu năm để lại cho Chư Đăng Ya là một vùng đất đỏ bazan màu mỡ, trù phú. Nơi đây, thời Pháp thuộc từng là đồn điền cà phê bạt ngàn với chất lượng tuyệt hảo, nhưng hiện nay, là nơi người dân trong vùng canh tác các loại cây trồng ngắn ngày như ngô, khoai, dong riềng, bí đỏ.

 

Những cây trồng ở đây, cả 4 mùa trong năm xanh tốt mà không cần tưới nước. Do đó, Chư Đăng Ya ẩn chứa trong mình những vẻ đẹp rất đỗi đời thường của những vạt ngô, luống khoai hay từng đám dong riềng, đi kèm với đó, cũng là điểm nhấn cho ngọn núi là sự hòa quyện của những loài hoa, cỏ dại và mỗi mùa, ngọn núi sẽ có những nét đẹp riêng.

 

Khi đến với Chư Đăng Ya du khách sẽ được trải nghiệm cảm giác yên ả, thanh bình của khung cảnh thiên nhiên hoang sơ đậm chất Tây Nguyên. Thời điểm này, men theo những ngả đường lên Chư Đăng Ya, hoa cúc quỳ đang nở vàng rực, tạo thành màu chủ đạo và là điểm nhấn ấn tượng cho cả ngọn núi lửa những tháng đầu mùa khô.

 

Trong chuyến leo núi Chư Đăng Ya gần đây, người bạn đi cùng chúng tôi phải thốt lên rằng “Đây đúng là thiên đường của hoa dã quỳ Tây Nguyên”. Quả không sai khi coi Chư Đăng Ya là thiên đường của dã quỳ, bởi ít có nơi nào hoa dã quỳ mọc nhiều, mọc xanh tốt và đồng loạt nở hoa đẹp ở như ở Chư Đăng Ya. Cũng ít có nơi nào lý tưởng để chiêm ngưỡng, khám phá vẻ đẹp hoang dại, thuần khiết với đủ sắc thái của sự hòa quyện như nơi đây.

 

Đến với Chư Đăng Ya, khám phá ngọn núi còn hoang sơ này, du khách sẽ thỏa sức chiêm ngưỡng và sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật, bởi mỗi đoạn đường là một khung cảnh mới, một tầm nhìn mới, điều thú vị mới. Ở trên đỉnh núi, du khách sẽ trải nghiệm một cảm giác khoan khoái, yên ả, hiền hòa, nơi chỉ có cỏ, cây, hoa, lá, dưới chân là một vùng bình nguyên xanh thẳm và xa thẳm.

 

Chư Đăng Ya thực sự là nơi lý tưởng cho những ai yêu thiên nhiên, thích khám phá, ưa tìm kiếm những vẻ đẹp hoang sơ, thuần khiết và quyến rũ của vùng đất Tây Nguyên đại ngàn. Có thể nói, đây là nơi lột tả một cách chân thực nhất hồn của bài hát “Bình nguyên xa vắng” của Nhạc sĩ Trần Tiến: “Gió núi hoang vu về, nước suối mênh mang tràn, hoa quỳ trong nắng vàng. Lãng đãng sương giăng hôn, mái tóc hương đêm buồn, quê nhà tôi thương nhớ. Thấp thoáng trong sương mờ, váy cuốn hoa văn đỏ, em về bên núi chờ, nhớ ánh trăng bên thềm, chếnh choáng men say tình…”./.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đền Bách Thần (Tuyên Quang) – Điểm đến hấp dẫn

Đến huyện Chiêm Hoá, bên cạnh những danh lam thắng cảnh, khu di tích lịch sử như Thác Bản Ba, khu di tích lịch sử Kim Bình, du khách còn được biết đến các ngôi đền, ngôi chùa lớn như Chùa Bảo Ninh Sùng Phúc, đền Bách Thần, mỗi danh lam thắng cảnh của mảnh đất Chiêm Hoá đều mang đậm bản sắc riêng của đất và người.

Theo những người cao niên ở huyện Chiêm Hóa, đền Bách Thần rất linh thiêng đối với cuộc sống của dân bản địa. Đây là đền thờ trăm vị thần, là các anh hùng dân tộc, người có công với địa phương… Đền Bách Thần còn thờ Tam Quang là mặt trời, mặt trăng, các vì sao, đem đến sự sống cho con người.

 

 

Đền Bách Thần được xây dựng trên sườn núi Bách Thần, thị trấn Vĩnh Lộc do nhân dân và du khách thập phương đóng góp, công đức xây dựng đền. Đền Bách Thần như một nét chấm phá giữa đại ngàn. Tọa lạc ở lưng chừng núi với khí hậu mát mẻ, mùa hè, khách thập phương đứng tại đền có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh thị trấn Vĩnh Lộc với dòng sông Gâm xanh trong.

 

Đền Bách Thần gắn liền với Lễ hội Lồng tông của nhân dân các dân tộc huyện Chiêm Hóa. Hàng năm, ngày 8 tháng Giêng âm lịch, huyện Chiêm Hóa tổ chức Lễ hội Lồng tông (lễ hội xuống đồng). Đây cũng là ngày đại lễ của đền. Người dân mang những sản phẩm nông nghiệp (lúa, đậu, đỗ…) mà họ thu hoạch được trong năm, bọc trong những quả còn với tua rua ngũ sắc mang dâng cúng tại Đền cùng với các lễ vật khác, báo ơn các vị thánh thần đã ban cho vụ mùa bội thu. Đã từ lâu, đền Bách Thần có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của bà con nhân dân các dân tộc nơi đây.

 

Với sự linh thiêng, phong cảnh hữu tình, đền Bách Thần huyện Chiêm Hóa sẽ là điểm đến của du khách thập phương trong những tour du lịch tâm linh. Trong tương lai, nơi đây sẽ hình thành tour du lịch với các điểm du lịch ở huyện Chiêm Hóa: Khu di tích lịch sử Kim Bình, thác Bản Ba xã Trung Hà, đền Đầm Hồng xã Ngọc Hội… và là điểm dừng chân lý tưởng trong cuộc hành trình khám phá những danh thắng của huyện Chiêm Hóa./.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Trải nghiệm một ngày ở Đà Nẵng

Được đánh giá là nơi đáng sống nhất Việt Nam, Đà Nẵng không thắng cảnh vẫn đầy sức hấp dẫn. Bạn có thể đến nhiều lần mà không chán, có khi chỉ loanh quanh trong phố, dạo biển, uống cà phê vỉa hè, thưởng thức những món quà vặt trong hẻm nhỏ.

Bên cạnh những thắng cảnh nổi tiếng, điều khiến du khách quay lại Đà Nẵng nhiều lần chính là nhịp sống thân thiện nơi đây. Đến Đà Nẵng, có 3 điều bạn nên trải nghiệm là dạo biển, uống cà phê vỉa hè và thưởng thức những món quà vặt trong hẻm nhỏ.

 

 

Những khu làng chài thân thiện

 

Có một nơi chỉ đến một lần rồi thôi. Nhưng với Đà Nẵng, chúng ta biết rằng khi đã đến mình sẽ còn phải quay trở lại rất nhiều lần.

 

Đà Nẵng sở hữu một trong những bãi biển đẹp nhất hành tinh – Mỹ Khê. Và chắc chắn, Đà Nẵng còn sở hữu những bãi biển dễ thương nhất trong những nơi tôi từng ghé qua, với những ngư dân dễ mến. Bạn có thể đến đó, dạo quanh những bãi cát trắng mịn, khám phá cuộc sống bình dị nơi làng chài. Những chiếc thuyền thúng trên đó ghi tên chủ thuyền hoặc số điện thoại của chủ nhân, đó chỉ là cách phân biệt những chiếc thuyền với nhau, còn lại ở đây chẳng lo mất cắp.

 

Đều đặn sáng hoặc chiều, tùy theo thời tiết và con nước, những người đàn ông trên bãi biển Sơn Trà kéo lưới ngay gần bờ. Một người đàn ông tên Tuấn 30 tuổi giảng giải cho tôi cụ thể phải thu lưới như thế nào, cách thức những ngư dân chèo những chiếc thuyền thúng ra sao.

 

Những ngày mát trời, bạn có thể phóng xe máy trên đường bao biển, con đường dẫn tới chùa Linh Ứng đẹp như trong tranh với một bên là nhà, một bên là biển xanh sóng xô trắng xóa, trước mặt là núi xanh, mây trắng bồng bềnh. Lên đến sát chân chùa Linh Ứng, dừng xe lại, phóng tầm mắt, thấy choáng ngợp trước một Bãi Bụt thênh thang, lộng gió.

 

Một sáng thức dậy, chạy một vòng quanh đường bao biển, thích thú nhìn người ta cho chim bồ câu ăn rồi khám phá cuộc sống của những ngư dân Đà Nẵng, hít căng lồng ngực mùi gió biển mặn mòi… có lẽ là một lịch trình thú vị để hiểu hơn về thành phố đáng sống nhất Việt Nam này.

 

 

Những quán cà phê vỉa hè dễ thương

 

Đến Đà Nẵng, có hai điều bạn cũng chớ nên bỏ qua: tìm đồ ăn vặt trong hẻm và uống cà phê cóc. Đà Nẵng có những ly cà phê có giá vài trăm ngàn đồng, trong những quán cà phê ca nhạc có mời ca sĩ về hát trong đêm. Đà Nẵng cũng có những ly cà phê giá cả trăm ngàn đồng trên những quán cà phê cao ốc có hồ bơi nhân tạo cao nhất Việt Nam, phóng tầm mắt ra bãi biển thơ mộng. Nhưng Đà Nẵng cũng có những quán cà phê cóc xinh xắn trên phố, người phục vụ cực kỳ dễ thương còn cà phê thì cực rẻ.

 

Những ly cà phê trong những quán cà phê trên phố với những chiếc ghế gỗ nho nhỏ, thâm thấp đặc trưng chỉ có giá 6.000 đồng đến 7.000 đồng. Trong một trưa Đà Nẵng mưa tầm tã, chúng ta dừng ở một quán nước ven biển Phạm Văn Đồng, uống 2 ly cà phê sữa đậm đà, nhìn mưa rơi xiên ngang những rặng dừa trước mặt, lúc thanh toán mới ngớ người ra là chỉ có 4.000 đồng một ly.

 

Những món quà vặt ăn là ghiền

 

Nếu nói riêng về đồ ăn vặt, Đà Nẵng đủ sức thu hút những cô nàng mê du lịch và khám phá những món ăn. Ngoài mì Quảng, bún mắm, bánh tráng thịt heo, thiên đường các đồ ăn vặt của Đà Nẵng nằm lắt léo trong những con hẻm nhỏ, và thường bán nhiều vào tầm xế chiều trở đi. Riêng chợ Cồn đã là một địa chỉ ẩm thực khó có thể bỏ qua trên hành trình đi tìm một Đà Nẵng của riêng mỗi người.

 

Mít trộn, bánh tráng trộn, nộm bò khô, bánh bèo, bánh da heo, bánh tằm, chè chuối nướng, chè bắp, chè xoa xoa, bánh chuối chiên… những món ngon mê người với giá cực rẻ, ăn ngon ngây ngất./

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Về thăm xứ lụa Tân Châu

Nhắc đến nghề dệt lụa, có lẽ người ta nghĩ ngay tới lụa Vạn Phúc (hay còn gọi là lụa Hà Đông), nhưng ít ai biết được rằng, ở vùng đất phương Nam cũng có làng ươm tơ dệt lụa thành danh, nổi tiếng lâu đời với sản phẩm lụa Tân Châu.

 

Mỹ danh “lụa Tân Châu” như cô gái nết na, đài các, là niềm tự hào của vùng đất An Giang, đã đi vào văn chương, lên sàn diễn.


“Trai nào thanh bằng trai sông Của
Gái nào thảo bằng gái Tân Châu
Tháng ngày dệt lụa trồng dâu
Thờ cha, nuôi mẹ quản đâu nhọc nhằn”


Những vần thơ khắc khoải gợi cho chúng ta nhớ về một thời gian dài hơn trăm năm vang danh, được ví như thời hoàng kim của thiên đường tơ lụa Tân Châu. Cũng chính nơi đây đã sáng tạo nên lãnh Mỹ A nổi tiếng. Vì thế mà trước kia, chị em phụ nữ nào có được bộ đồ may bằng lãnh Mỹ A thì thật là sang trọng, ngay cả vải “xá xị Xiêm” – một loại lụa Thái Lan nức tiếng cũng không thể sánh được. Không những thế, có những thời điểm lụa Tân Châu còn xuất hiện ở Ấn Độ, Singapore, Philipinnes…và rất được giới thượng lưu, hoàng tộc ưa chuộng.


Dân gian còn lưu truyền câu ca “Bên nàng mặc lãnh Mỹ A/Đưa đò sang chợ, tưởng xa hóa gần”. Có cô gái mặc lãnh Mỹ A ngồi gần khiến anh lái đò cảm thấy dòng sông như ngắn lại. Điều đó ngụ ý rằng “người đẹp vì lụa”, mà đặc biệt là lụa Tân Châu lại càng tôn lên nét duyên dáng của người phụ nữ.


Ở vùng đất An Giang, người ta trồng dâu từ những bãi đất cát pha ven sông vào sâu trong đồng ruộng. Cả một triền đất trải dài là một màu xanh bất tận, nối tiếp từ làng này qua làng khác. Có những năm, ruộng dâu trồng đến hơn 10.000 hecta, trải dài từ Tân Châu, Chợ Mới đến tận biên giới Campuchia mới đủ cung cấp cho tằm ăn. Điều đặc biệt là khi hái dâu để nuôi tằm, người dân không hái từng lá mà chặt sát gốc, sau đó gom thành từng bó lớn rồi chở về.


Từ khi bắt đầu nuôi tới lúc “tằm ăn lên” là cả một giai đoạn chăm sóc tỉ mỉ, kỳ công của người dân bởi gần như lúc nào họ cũng phải túc trực bên nong và bộ ván xắt dâu. Cho tới khi tằm chín mọng, kết lại thành những kén vàng ươm, người ta mới đưa lên “bủa” giăng tơ. Có thể nói, làng dệt lúc này bỗng trở nên đẹp và lung linh hơn cả. Dưới ánh nắng mặt trời, nhà nhà vàng óng những bủa tơ…

 

Sau khi ươm tơ, người ta tháo tơ thô từ các bó để se lại thành sợi to rồi dệt lại thành những tấm lụa. Thời kỳ đầu của nghề ươm tơ, dệt lụa ở Tân Châu, người ta dệt lụa theo khung dệt cổ. Khổ vải dệt ra chỉ rộng khoảng bốn tấc, khi may quần áo phải nối vải nên không đẹp. Dần dần, làng nghề tạo ra khung dệt khổ 8 tấc, rồi 9 tấc, đồng thời nghiên cứu làm cho lụa đẹp hơn, bền hơn với nhiều hoa văn tinh xảo như: cẩm tự, hoa dâu, hoa cúc, mặt võng, mặt đệm…


Lụa được dệt xong sẽ nhuộm màu bằng trái mặc nưa. Đây là kỹ thuật phát kiến độc đáo nhất của người làng nghề xưa làm cho lụa Tân Châu đen tuyền, óng ả. Nhưng cho đến bây giờ, không ai biết chính xác người nào đã tìm ra cách nhuộm này. Chỉ biết rằng hồi đó, mỗi năm người làng nghề phải qua Campuchia mua hàng trăm tấn trái mặc nưa mới đủ dùng. Sau này, người Việt trồng thử thấy được nên trồng nhiều đến ngày nay.


Cây mặc nưa là loại cây gỗ có màu đen, lá mỏng, chùm quả tròn trĩnh gần giống như quả nhãn. Quả mặc nưa sau khi thu hái được phân loại lớn nhỏ khác nhau. Thông thường người ta sẽ chọn quả to và xanh, loại bỏ những quả chín vì không còn nhựa nữa. Sau đó đem giã nát bằng cối đá hoặc nghiền bằng máy và hoà vào nước tạo thành dung dịch có màu vàng sánh rất đẹp, khi tiếp xúc với không khí và nhiệt độ, màu này sẽ chuyển sang màu đen. Trung bình, để nhuộm một cây lụa 10m phải cần 50kg trái mặc nưa. Vì thế, có thể nói, nguyên liệu dùng để nhuộm lụa Tân Châu hoàn toàn là nguyên liệu tự nhiên, không hề có phẩm màu hay hóa chất.

 

Công đoạn nhuộm lụa được xem là quan trọng và kỳ công bởi lụa không chỉ nhúng một lần mà thậm chí phải nhúng hàng trăm lần để từng sợi tơ được thấm sâu, thấm đều, sau đó mang ra phơi. Khi phơi phải xem trời nắng tốt để phơi được 4 nắng. Quá trình vừa nhúng, vừa phơi, lụa phơi hàng hàng, trải dài trên mặt đất trông rất đẹp và vui mắt. Thời gian nhuộm và phơi mất khoảng 40 – 45 ngày. Thành quả làm ra là những thước lụa tuyệt đẹp, lóng lánh một màu đen đặc biệt.


Nét nổi tiếng và độc đáo riêng của lụa Tân Châu chính là sự mềm mại, dai, bền và hút ẩm cao. Các trang phục may từ lụa Tân Châu đều mang đến cho người mặc cảm giác thoải mái, thoáng mát vào mùa hè, ấm áp về mùa đông. Vì vậy, thật xứng danh khi được mọi người gọi lụa Tân Châu là “Nữ hoàng” của các loại tơ.


Do phải mất nhiều thời gian và công sức để làm ra những thước lụa Tân Châu nên giá cả của một thước lụa cũng khá đắt. Chính vì vậy, vào khoảng những năm 60, sản phẩm này dường như không thích hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước, hơn nữa, do màu sắc còn đơn điệu nên cũng rất “kén” thị trường nước ngoài, từ đó nghề làm lụa truyền thống cũng dần bị mai một.

 

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, với xu thế thời trang hướng đến những sản phẩm có chất lượng cao mang dấu ấn dân tộc nên lụa Tân Châu đã bước đầu được khôi phục và tìm được chỗ đứng xứng đáng cho mình. Bên cạnh màu đen truyền thống do nguyên liệu nhuộm tự nhiên của quả mặc nưa, những người sản xuất lụa Tân Châu còn tìm kiếm những kỹ thuật nhuộm nhiều màu khác nhau nhằm phục vụ nhu cầu ngày một đa dạng của du khách. So với thập niên 50, 60 thì sản lượng lụa làm ra còn kém xa, nhưng chất lượng tơ lụa thì đã ngang tầm với những quốc gia có ngành tơ lụa phát triển. Đây chính là cơ hội quý báu để một làng nghề vốn nổi tiếng đã lặng im từ lâu có thể khôi phục lại như thời vàng son trước kia. Để làng lụa Tân Châu hôm nay lại tiếp tục một cuộc hành trình mới của những sáng tạo nghệ thuật, của những giá trị truyền đời và một sinh khí lao động mới với đầy những tiếng cười vui lại vang lên trên những nương dâu ngút ngàn dường như vô tận, với tiếng khung cửi ngày đêm lại vang lên như bản hòa tấu được cất lên từ những đôi tay tài hoa của người thợ dệt.


Lụa Tân Châu là một sản phẩm thuần Việt, đậm đà tính dân tộc và là niềm tự hào của người Việt. Nghề dệt truyền thống Tân Châu đang sống lại, đó là hạnh phúc lớn đối với những người dân An Giang. Nhưng phải giữ cho được những tấm lụa như thế, đừng để mai mốt lãnh Mỹ A chỉ còn trong ký ức.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đảo Ngọc Xanh – Khu du lịch trọng điểm của vùng đất Tổ

Mặc dù mới đi vào hoạt động được hơn một năm nhưng Đảo Ngọc Xanh (thuộc thị trấn Thanh Thủy – Phú Thọ) đã đón hàng trăm ngàn lượt khách đến tham quan, vui chơi giải trí và trở thành một trong những khu du lịch sinh thái trọng điểm của vùng đất Tổ.

Khu du lịch Đảo Ngọc Xanh được hình thành từ vùng bãi nổi, nhiều đời nay người dân chỉ sử dụng để trồng ngô, đậu, lạc và chăn thả trâu bò, hiệu quả kinh tế thấp. Nhưng bù lại bãi nổi này lại nằm trong vùng có trữ lượng khoáng nóng tốt nhất cả nước. Từ lâu người dân 2 xã Thuần Mỹ – Ba Vì, La Phù – Phú Thọ đều khai thác nhưng ở mức nhỏ lẻ.

 


 Để tận dụng được triệt để nguồn tài nguyên quý và quy hoạch vùng bãi nổi thành khu du lịch trọng điểm đem lại hiệu quả kinh tế cao của vùng, tỉnh Phú Thọ đã giao cho Công ty CP Ao Vua thực hiện dự án đưa vùng bãi nổi trở thành khu du lịch trọng điểm, góp phần thúc đẩy kinh tế du lịch tỉnh Phú Thọ phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, khai thác tối đa tiềm năng du lịch miền đất Tổ. Tháng 4/2013, Công ty CP Ao Vua đã đưa khu du lịch Đảo Ngọc Xanh vào hoạt động giai đoạn 1, trở thành một địa chỉ nghỉ dưỡng hấp dẫn của du khách trên địa bàn thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận.

 

Với nguồn nước khoáng nóng dồi dào, Đảo Ngọc Xanh có đầy đủ các dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng: như khu vui chơi giải trí cảm giác mạnh, khu vui chơi giải trí ngoài trời, công viên nước, vườn tượng thú, thảo nguyên hoang dã, khu tắm nước khoáng nóng, khu khách sạn tương đương 3 sao với 120 phòng, trung tâm hội nghị, nhà hàng ẩm thực, khu spa, karaoke club, sân tập golf mini, sân tennis…đã trở thành khu du lịch hấp dẫn bậc nhất của tỉnh Phú Thọ.

 

Dự án Đảo Ngọc Xanh được xây dựng đã mang tới cơ hội việc làm cho hàng ngàn lao động tại địa phương. Mức tiêu thụ nông sản, đặc sản tại địa phương như: gà đồi, cá sông, lợn… tăng mạnh. Điều đáng nói, khu du lịch đi vào hoạt động đã góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của chính quyền, nhân dân địa phương về du lịch cộng đồng, du lịch có trách nhiệm, phát triển lực lượng lao động có kĩ năng tại địa phương. Nhờ vậy, đời sống của nhân dân thay đổi rõ nét. Hiện thu nhập bình quân đầu người của thị trấn đã đạt tới 27 triệu đồng/người/năm – một con số đáng mơ ước của nhiều thị trấn miền núi khó khăn.

Ông Hoàng Dân Mạc, Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ khẳng định: Khu du lịch Đảo Ngọc Xanh là dự án trọng điểm của tỉnh, là điểm xuất phát để ngành du lịch Phú Thọ tạo đà phát triển dịch vụ du lịch trong hành trình về miền đất Tổ. Trong thời gian tới, khi cầu Đồng Quang bắc qua sông Đà dài 745m cũng do Công ty CP Ao Vua làm chủ đầu tư nối liền huyện Thanh Thủy tỉnh Phú Thọ với Ba Vì – Hà Nội sẽ góp phần xây dựng vùng du lịch xanh Hà Nội và các tỉnh phụ cận. /.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Viếng thăm ngôi chùa lâu đời nhất Thăng Long – Hà Nội

Chùa Trấn Quốc khai sáng từ thời tiền Lý Nam Đế, thế kỷ thứ 6 (541-548). Lúc đầu gọi là chùa Khai Quốc, xây dựng tại bến sông Hồng địa phận làng Yên Hoa (Phường Yên Phụ).

 

Năm 1440 đổi hiệu là chùa An Quốc. Năm 1616, niên hiệu Hoàng Định đời vua Kính Tôn, nhà Hậu Lê chuyển chùa vào bãi Cá Vàng (trước gọi tắt là bãi Rùa) thì gọi là Trấn Quốc (có chỗ nói: “tiếng Trấn Quốc đối với chùa này đã nêu lên từ thời Lý Trần, sau khi quân ta đánh thắng giặc xâm lược phương Bắc).

 

Năm 1639, chùa Trịnh sửa lại ngôi Tam quan, và xây hành lang hai bên tả, hữu. Trải qua nhiều lần trùng tu, trùng tạo cùng nhiều lần trước đây kiết hạ an cư, thành lập Tổ đình mà thành được cơ ngũ tố hảo như ngày nay. Những vị cao tăng và danh nhân thời trước, như đức Văn Phong pháp sư, Khuông Việt Thái sư, Ngô Chân Lưu, Thảo Đường, Thông Biện, Viên Học, Tịnh Không, Trần Tú Uyên và nhiều bậc Đại đức, Hòa thượng khác đều thụ giáo và tu trì ở chùa này.

 

Năm 580, vị Phạm Tăng Tỳ Ni Đa Lưu Chi từ Ấn Độ qua đây rồi đến tu trì ở chùa Pháp Vân.

 

Chùa này lại là nơi chốn tổ của phái Thiền Tào Động do vị Tịnh Trí Giác Khoan thiền sư đời Hậu Lê truyền đến, hiện nay có những tòa tháp để lại. Thời Lý (Bát Diệp), bà Thái Hậu Ỷ Lan thường mở tiệc Trai tăng và hỏi chư tăng về đạo Phật. Năm 1842, vua Thiệu Trị nhà Nguyễn đổi hiệu là chùa Trấn Bắc, nhưng nhân dân khắp nơi vẫn gọi là chùa Trấn Quốc.

 

Năm 1959, tổng thống Ấn Độ Pra – Sat sang thăm Việt Nam, thân hành mang tặng cây bồ đề lấy ở cây mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi thành đạo cách đây hơn 25 thế kỷ trồng kỷ niệm tại vườn chùa.

 

Ngày 29/11/2003, chùa tổ chức khánh thành Bảo tháp Lục độ đài sen cao 15m, có 11 tầng, tôn trí 66 pho tượng đức Phật A Di Đà bằng đá quý. Trên đỉnh tháp có một tháp sen Cửu phẩm Liên hoa tạc bằng đá.

 

Trụ trì chùa hiện nay là Hòa thượng Thích Thanh Nhã – Phó Trưởng ban Thường trực Ban Nghi lễ T.Ư GHPGVN.

 

Chùa đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1962.

 

Chùa là ngôi cổ tự đầu tiên ở Hà Nội, là ngôi danh lam bậc nhất Việt Nam. Hàng năm, chùa đón tiếp hàng vạn tăng ni, phật tử, du khách trong nước và nước ngoài đến chiêm bái.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

TIN MỚI NHẤT