Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Phố Ràng nước biếc non xanh

Phố Ràng, thị trấn trung tâm chính trị – kinh tế – văn hóa của huyện Bảo Yên không chỉ nổi tiếng qua ký sự “Trận Phố Ràng” của nhà văn Trần Đăng mà còn hấp dẫn du khách bởi nhịp sống hài hòa với không gian xanh đầy quyến rũ.

 

Sau khi thăm 2 khu Di tích Lịch sử văn hóa cấp Quốc gia là đồn Phố Ràng và thành cổ Nghị Lang – đền Phúc Khánh, du khách hãy thả bộ để đến với hồ cá Phố Ràng. Chiêm ngưỡng toàn cảnh từ trên đồi cao sẽ thấy mặt hồ phẳng lặng như một tấm gương phản chiếu mây trời và những vạt rừng xanh thẳm.

 

Xuân sang, trong làn bụi phấn của màn mưa giăng giăng, du khách thoáng gặp những nhành ban trắng chập chờn như cánh bướm và có dịp trải nghiệm, khám phá nét độc đáo riêng có của loài hoa đặc trưng vùng Tây Bắc. Hè đến, không khí nơi đây thật dễ chịu với gió Nam dịu mát, ngan ngát hương sen. Tất cả tạo nên một khung cảnh êm đềm, thơ mộng, quyến rũ lòng người mà chỉ Phố Ràng mới có.

 

Nơi đây, còn có những mô hình kinh tế trang trại tổng hợp phát triển bền vững giữa mướt mát xanh của vùng cây ăn trái trù phú suốt bốn mùa, góp phần tạo nên vành đai thực phẩm hằng năm cung cấp cho thị trường cả chục ngàn tấn cá, lợn, rau xanh… Chừng ấy cũng đã đủ để du khách có thể “thu lượm” cho mình những vốn quý về mảnh đất và con người Bảo Yên.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Hoang sơ thác Bản Vược

Cách thành phố Lào Cai hơn 20 km, thác Bản Vược (Bát Xát) mùa này thật hùng vĩ. Hiện đang là mùa mưa, vì thế nước từ thượng nguồn đổ xuống suối rất nhiều, tạo nên dòng thác lớn. Nếu chiêm ngưỡng từ xa, sẽ ngỡ như tấm vải lụa màu trắng khổng lồ vắt ngang rừng.

 

Thác được chia làm 2 tầng, với hai lối đi khác nhau bạn có thể để đến được hai tầng thác. Nếu ngắm dòng thác trên từ bên đường sẽ bị che khuất bởi những bụi cây to, còn nếu để tiếp cận được tận chân thác thì chưa có con đường nào dẫn đến tận nơi, vì thế bạn phải đi bộ men theo sườn đồi qua những bụi cỏ dại. Chính vì đường đi khó khăn nên thác Bản Vược vẫn giữ được nét hoang sơ.

 

Đứng ở chân thác, bạn sẽ hòa mình với thiên nhiên, được ngắm dòng thác đổ xuống tung bọt trắng xóa một góc trời, tiếng nước đổ ầm ầm bên vách đá gợi lên bản tình ca của núi rừng. Rất nhiều du khách trên đường du lịch đi lên Y Tý qua đây đều dừng lại ngắm nhìn vẻ đẹp của dòng thác và đứng lại chụp ảnh lưu niệm.

 

Tuy không được nổi tiếng như thác Bạc, thác Tình yêu hay thác Cát Cát ở SaPa, nhưng thác Bản Vược (Bát Xát) vẫn có những nét riêng được nhiều bạn trẻ và các nhiếp ảnh gia đến khám phá và chụp ảnh.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Bãi đá Lò Thung

Cách thị trấn Tiên Kỳ khoảng 4km về hướng tây, bãi Lò Thung (thôn 3, Tiên Cảnh, Tiên Phước) được ví như một “vương quốc” đá huyền bí với hàng trăm hang hốc hình thù kỳ lạ trải dài gần hai cây số trên dòng sông Đá Giăng.

Đến Lò Thung du khách không khỏi ngạc nhiên trước khung cảnh phô diễn ngoạn mục của đá với đủ loại kích thước lớn nhỏ, lô nhô chen chúc nhau tạo nên những hình thù kỳ dị, khiến người xem liên tưởng đến các vật dụng quen thuộc như tấm phản, cái cối, cái chén, cái chày, cái lò…. Tâm điểm của thắng tích đá trên sông chính là cửa nước ngầm, còn gọi là “hang nước”, chảy luồn dưới bãi đá gồ ghề rồi trồi tuôn lên thành con thác trắng xóa. Bên thác nước không cao này là ngổn ngang đá tảng với nhiều hình dáng kỳ lạ nằm nghiêng ngả, xếp chồng lên nhau tạo thành nơi nghỉ ngơi lý tưởng.

 

 

Mùa hè, Lò Thung trở thành điểm không thể thiếu của nhiều bạn trẻ trong vùng. Từ khi con đường du lịch nối từ làng cổ Lộc Yên đến Lò Thung được mở ra đã tạo điều kiện thuận tiện cho du khách đi xe máy hoặc ô tô đến tận bờ sông Đá Giăng tham quan khám phá Lò Thung. Theo tiết lộ của ông Phùng Quang Huy – Phó Chủ tịch UBND huyện Tiên Phước, sắp tới huyện sẽ quy hoạch giải tỏa hai bên bờ sông tạo không gian thoáng đãng để du khách có nơi cắm trại sinh hoạt ở lại qua đêm. Ngoài ra, một chiếc cầu treo bắc ngang sông Đá Giăng cũng vừa được khởi công tuần trước không chỉ phục vụ dân sinh mà còn là điểm ngắm lý tưởng để du khách đứng chụp hình toàn cảnh bãi đá Lò Thung. “Chúng tôi xác định Lò Thung – sông Đá Giăng sẽ là điểm nhấn quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch Tiên Phước nên sẽ tạo điều kiện tốt nhất để doanh nghiệp và du khách đến khai thác, tham quan”- ông Huy cho biết.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Ẩm thực dừa – Sức sống của vùng đất phương Nam

Đi đến đâu, bất kỳ nơi nào trên thế giới cũng không thể lẫn lộn được các món ăn đặc trưng của từng vùng, miền, nó gần như mang tính biểu trưng của đất nước thông qua con đường ẩm thực.

 

Ẩm thực Bến Tre nổi tiếng nhất là ẩm thực dừa, với rất nhiều món ăn, thức uống được chế biến từ dừa mà không có địa phương nào sánh được.

 

 

“Thấy dừa thì nhớ Bến Tre” là bởi hệ sinh thái đặc trưng rất phù hợp cho các giống dừa sinh sôi và phát triển, từ thân dừa, trái dừa, lá dừa đến đọt dừa đều tạo ra vật chất cho con người sử dụng. Trong ẩm thực, dừa mang sức sống vô cùng mãnh liệt tạo nên văn hóa ẩm thực xứ dừa, gắn liền với đời sống con người nơi đây.

 

Từ sản vật có sẵn trong vườn dừa, người dân đã khai thác, sáng tạo rất nhiều món ăn, kiểu ăn theo phong cách của riêng mình góp phần tạo nên hương vị riêng cho từng món ăn. Dừa không giống như những loại cây trái khác cho ra trái theo mùa mà có suốt năm. Có rất nhiều giống dừa khác nhau có thể chia làm 03 nhóm: giống dừa lùn (dừa xiêm xanh, xiêm đỏ, xiêm lửa, tam quan,…); giống dừa cao (dừa ta, dừa dâu, dừa sáp,…) và sau này có giống dừa lai. Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để các món ăn được chế biến từ dừa luôn luôn có mặt bất cứ mùa nào trong năm. Theo ghi nhận từ hội thi ẩm thực xứ dừa trong khuôn khổ Lễ hội Dừa lần I – 2009 đã có gần 200 món ăn, bao gồm món chính, thức uống, bánh, chè đã được Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam trao cho Bến Tre bằng công nhận kỷ lục: “Ngày hội ẩm thực có số lượng món ăn thức uống được chế biến từ dừa nhiều nhất”. Dừa dùng để chế biến trong các món ăn đều được tận dụng hết gồm cả nước dừa, cơm dừa và đọt dừa (củ hủ dừa), trong đó cơm dừa nạo, cơm dừa cứng, cơm dừa khô.

 

Nước dừa từ lâu được biết đến như một loại nước giải khát không hóa chất gây hại, rất tốt cho sức khỏe do tính mát, vị ngọt thanh dùng trong những ngày hè thì không chê vào đâu được. Dừa dùng để uống thường là giống dừa xiêm, dừa dứa, dừa tam quan, dừa dâu, dừa lùn,… có bán rất nhiều trên thị trường có thể dùng nguyên chất hoặc có thể cho thêm chút đường và vắt chanh dùng với nước đá đều được. Để góp phần làm thêm hương vị đậm đà cho món ăn người dân còn lấy nước dừa để kho cá, kho thịt, kho tôm,… Trong các ngày giỗ, ngày tết người dân Nam Bộ có thói quen làm món thịt kho nước dừa hay còn gọi là thịt kho tàu để cúng ông bà, tổ tiên. Đối với  món này phải để lửa riu riu, không cần cho thêm nước màu vào nhưng vẫn có màu vàng ươm rất đẹp chỉ cần nấu với nước dừa tươi cùng một số gia vị là đủ. Thịt kho tàu muốn ngon phải nấu đi nấu lại nhiều lần đến khi thịt mềm rệu ra, nước có vị ngọt, hương thơm béo thì mới ngon. Ngoài ra nước dừa còn thổi hồn vào món cơm nên người ta thường gọi với các tên đơn giản là cơm dừa hay cơm hấp nước dừa; gạo dùng để nấu cơm dừa phải chọn loại gạo dẻo, thơm; dừa phải chọn loại trái ngọt nước, thường là dừa xiêm, gọt vỏ tạo thành đường tròn ở phía trên, dùng dao chặt giữ lại phần nắp để làm nắp đậy; sau khi lấy hết nước ra để nguyên trái cho gạo và nước dừa vào vừa đủ để lúc gạo chín nở đầy trong lòng trái dừa; đem vào nồi hấp khoảng 1 giờ là có thể dùng. Đối với món cơm dừa khi hấp trên nồi có hương tỏa ra rất thơm, ăn vào có vị ngọt của dừa kết đọng trong mỗi hạt cơm, dùng với tép bạc đất rang nước cốt dừa thật là tuyệt vời.

 

Nước cốt là phần cơm dừa có màu trắng, thông thường dày khoảng 10 – 15mm, có vị béo, bùi là nguyên liệu chủ chốt trong các món ăn từ dừa của Bến Tre. Sự đa dạng đã được biến tấu nên nhiều kiểu nấu độc đáo như các món lươn um dừa, thịt bò xào dừa, tép rang dừa… Hay kết hợp cùng các loại ốc đều rất ngon. Ngoài ra, nước cốt dừa còn góp mặt vào hầu hết các món chè, món bánh kết hợp với các nguyên liệu như khoai lang, đậu đen, đậu đỏ,… Đối với món chè có thể ăn nóng hay lạnh tùy sở thích của mỗi người. Ngày nay, nhắc đến Bến Tre có một số loại bánh đã trở thành cái tên mang “thương hiệu” cho cả vùng đất làm ra nó và không ai còn nhớ thời gian nó có tự bao giờ, chỉ biết với tên gọi như: bánh dừa Giồng Luông; bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc, hay cái chất beo béo, ngọt thơm của kẹo dừa mà không nơi nào có được.

 

Đọt dừa hay củ hủ dừa được xem như mạch sống của cây dừa. Củ hủ dừa rất ngon, phải là cây dừa trồng lâu năm mới có vị giòn ngọt hơn cây dừa ít tuổi. Củ hủ dừa ngọt, mát dịu, là loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, rất tốt cho sức khỏe, tốt cho hệ tiêu hóa và có nhiều khoáng chất. Ngày nay củ hủ dừa rất thông dụng trong việc chế biến các món như gỏi, xào, canh, làm nhân bánh xèo hoặc có thể ăn sống đều được. Tuy nhiên, bánh xèo củ hủ dừa là sự biến tấu mà người dân nơi đây đã sáng tạo, đã trở thành món ăn đặc trưng được rất nhiều người phương xa biết đến. Nếu ai có dịp đến xứ dừa Bến Tre thì đừng quên thưởng thức những món ăn đặc sản từ củ hủ dừa này.

 

Như vậy, cây dừa Bến Tre đã thổi hồn vào ẩm thực Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung. Chính sự vận dụng một cách sáng tạo cùng đôi bàn tay khéo léo, người dân nơi đây đã làm phong phú thêm các món ăn, đặc biệt là cách chế biến kết hợp với nguồn tài nguyên có sẵn từ sông, rạch, biển,… Không cầu kỳ, phức tạp chính là yếu tố làm cho ẩm thực dừa trở nên có sức sống mãnh liệt và đi vào lòng du khách gần xa khi đến với Bến Tre.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Khám phá 8 di sản thế giới tại Việt Nam

(TITC) – Tính đến năm 2014, Việt Nam đã được UNESCO công nhận 18 di sản thế giới, trong đó có 2 di sản thiên nhiên (vịnh Hạ Long, vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng), 5 di sản văn hóa (khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội, thành nhà Hồ, quần thể di tích cố đô Huế, đô thị cổ Hội An, khu đền tháp Mỹ Sơn), 1 di sản hỗn hợp (quần thể danh thắng Tràng An) và các di sản văn hóa phi vật thể, di sản tư liệu. 

Các di sản này không chỉ là minh chứng cho một đất nước Việt Nam tươi đẹp, đa dạng về phong cảnh thiên nhiên; phong phú về bản sắc văn hóa dân tộc; có bề dày lịch sử mà còn là những điểm đến thu hút nhiều du khách trong nước và quốc tế đến tham quan mỗi năm.

 

Vịnh Hạ Long

 

 

Nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn, vịnh Hạ Long có tổng diện tích 1553km2 với 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. Vùng di sản được thế giới công nhận có diện tích 434km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam) và đảo Cống Tây (phía đông).

 

Vịnh Hạ Long chứa đựng những dấu tích quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử trái đất, là cái nôi cư trú của người Việt cổ, đồng thời là tác phẩm nghệ thuật tạo hình vĩ đại của thiên nhiên với sự hiện diện của hàng nghìn đảo đá muôn hình vạn trạng cùng nhiều hang động kỳ thú tạo thành một quần thể vừa sinh động vừa huyền bí. Bên cạnh đó, vịnh Hạ Long còn là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình cùng hàng nghìn loài động thực vật phong phú, đa dạng. Nơi đây còn gắn liền với những giá trị văn hóa – lịch sử hào hùng của dân tộc. Đến Hạ Long, du khách cũng sẽ bị cuốn hút bởi vẻ đẹp bình dị và những giá trị văn hóa phi vật thể toát ra từ cuộc sống của những ngư dân tại các làng chài.

 

Không chỉ là Di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận 2 lần (năm 1994 và 2000), vịnh Hạ Long còn được bình chọn là một trong 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới mới và luôn nằm trong danh sách những vịnh đẹp nhất trên thế giới cho đến nay.

 

Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

 

 

Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng thuộc địa phận các huyện Quảng Ninh, Bố Trạch, Tuyên Hóa và Minh Hóa (tỉnh Quảng Bình) với diện tích khoảng 200.000ha. Phong Nha – Kẻ Bàng được ví như một bảo tàng địa chất khổng lồ có giá trị và mang ý nghĩa toàn cầu. Các giai đoạn kiến tạo quan trọng và các pha chuyển động đứt gãy, phối tảng, uốn nếp của vỏ trái đất từ 400 triệu năm trước đã tạo ra các dãy núi trùng điệp và các bồn trầm tích bị sụt lún. Bên cạnh đó, Phong Nha – Kẻ Bàng còn được thiên nhiên ban tặng một hệ thống hang động hùng vĩ trong lòng núi đá vôi. Tại đây, vào tháng 4 năm 2009, đoàn thám hiểm thuộc Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh đã phát hiện và công bố hang Sơn Đoòng là hang động lớn nhất thế giới (cao 200m, rộng 150m, dài ít nhất 8,5km). Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng còn có hệ thống động thực vật đa dạng, trong số đó có nhiều loài quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới.

 

Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội

 

 

Khu di tích trung tâm Hoàng Thành Thăng Long – Hà Nội có tổng diện tích 18,395ha, bao gồm: khu khảo cổ học 18 Hoàng Diệu và các di tích còn lại trong khu di tích Thành cổ Hà Nội như Cột cờ Hà Nội, Đoan Môn, điện Kính Thiên, nhà D67, Hậu Lâu, Bắc Môn, tường bao và 8 cổng hành cung thời Nguyễn.

 

Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử Kinh thành Thăng Long – Hà Nội. Đây là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam. Song hành cùng lịch sử dân tộc trong suốt 10 thế kỷ qua, Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội đã trải qua khá nhiều thay đổi, nhưng trung tâm của Hoàng thành, đặc biệt là Tử Cấm Thành thì gần như không thay đổi. Tại đây, các nhà khảo cổ học đã khai quật được một số lượng lớn đồ gốm sứ là những vật dụng dùng hàng ngày trong hoàng cung qua nhiều thời kỳ. Ngoài ra, nhiều tiền đồng, đồ gốm sứ của Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Á… được tìm thấy ở đây là bằng chứng cho thấy Thăng Long đã từng là trung tâm giao lưu văn hoá với các nước trong khu vực và tiếp nhận những giá trị tinh hoa của nhân loại.

 

Thành nhà Hồ

 

 

Thành nhà Hồ là tòa thành bằng đá độc đáo nằm giữa vùng đồng bằng lưu vực sông Mã và sông Bưởi, thuộc địa phận các xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Long, Vĩnh Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang, Vĩnh Thành và thị trấn Vĩnh Lộc (huyện Vĩnh Lộc), tỉnh Thanh Hóa. Đây là kinh thành của nước Việt Nam từ năm 1398 đến 1407 do Hồ Quý Ly – lúc bấy giờ là tể tướng dưới triều đại nhà Trần – cho xây dựng vào năm 1397.

 

Thành Nhà Hồ là công trình kỳ vĩ bởi kỹ thuật và nghệ thuật xây dựng đá lớn độc đáo có một không hai ở Việt Nam, khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong thời kỳ cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15. Đây là một trong số ít các di tích kinh thành chưa chịu nhiều tác động của quá trình đô thị hóa, cảnh quan và quy mô kiến trúc còn được bảo tồn trên mặt đất và cả trong lòng đất.

 

Quần thể di tích cố đô Huế

 

 

Nằm dọc hai bên bờ sông Hương và một số vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế, quần thể di tích cố đô Huế là di sản đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận (tháng 12 năm 1993).

 

Nổi bật trong quần thể di tích cố đô Huế là ba tòa thành: Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành được bố trí đăng đối xuyên suốt trên một trục nam – bắc. Hệ thống thành quách, cung điện ở đây có sự kết hợp hài hòa giữa tinh hoa kiến trúc phương Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú với núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh… Xa xa về phía tây của Kinh thành, nằm hai bên bờ sông Hương, lăng tẩm của các vua Nguyễn mang một phong thái hoàn toàn riêng biệt. Ngày nay, cố đô Huế vẫn còn lưu giữ những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam.

 

Đô thị cổ Hội An

 

 

Hội An là một thị xã cổ của người Việt, nằm ở vùng hạ lưu ngã ba sông Thu Bồn thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam. Là một kiểu cảng thị truyền thống Đông Nam Á duy nhất ở Việt Nam, hiếm có trên thế giới, Hội An giữ được gần như nguyên vẹn hơn một nghìn di tích kiến trúc như phố xá, nhà cửa, hội quán, đình, chùa, miếu, nhà thờ tộc, giếng cổ, mộ cổ… Các kiến trúc vừa có sắc thái nghệ thuật truyền thống của Việt Nam, vừa thể hiện sự giao lưu hội nhập văn hoá với các nước phương Đông và phương Tây. Trải qua nhiều thế kỷ, nhiều món ăn truyền thống, phong tục tập quán, nghi lễ, sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng vẫn được lưu giữ, bảo tồn cùng với bao thế hệ người dân phố cổ. Hội An còn có một môi trường thiên nhiên trong lành, êm ả với những ngôi làng nhỏ ngoại ô xinh xắn, nơi phát triển nhiều nghề thủ công truyền thống như mộc, làm đồ đồng, gốm…

 

Khu đền tháp Mỹ Sơn

 

 

Nằm trong một thung lũng có đường kính khoảng 2km thuộc địa bàn xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Mỹ Sơn là thánh địa Ấn Độ giáo của Vương quốc Chămpa do Vua Bhadravarman cho xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ thứ 4 để thờ thần Siva. Các triều vua sau đó đều cho tu sửa các đền tháp cũ và xây dựng đền tháp mới để thờ các vị thần. Khu đền tháp Mỹ Sơn được phát hiện vào năm 1885. Trong số 225 di tích Chăm được phát hiện tại Việt Nam, riêng Mỹ Sơn có khoảng 70 đền tháp, 32 bi ký tồn tại ở dạng này hay dạng khác. Mặc dù có sự tiếp nhận sâu sắc văn hóa Ấn Độ, nhưng trong quá trình phát triển, tính bản địa ngày càng đậm nét và tính dân tộc ngày càng khẳng định đã tạo cho loại hình nghệ thuật điêu khắc Chăm ở Mỹ Sơn vẻ độc đáo, sức hẫp dẫn kỳ lạ, thể hiện sức sống mãnh liệt của con người với nội tâm lúc bay bổng sảng khoái, lúc trầm tĩnh ưu tư, lúc trăn trở day dứt…

 

Quần thể danh thắng Tràng An

 

 

Đây là di sản thế giới hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận. Với diện tích 6.172ha nằm ở khu vực ranh giới giữa huyện Hoa Lư với các huyện Gia Viễn, Nho Quan, thị xã Tam Điệp và thành phố Ninh Bình, quần thể danh thắng Tràng An bao gồm các khu vực liền kề nhau là di tích cố đô Hoa Lư, quần thể hang động Tràng An, khu danh thắng Tam Cốc-Bích Động và rừng nguyên sinh đặc dụng Hoa Lư. Đến Tràng An, du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi hiện ra trước mắt là bức tranh thiên nhiên sơn thủy hữu tình với hệ thống núi đá vôi và hang động tự nhiên đa dạng. Được ví như “Hạ Long trên cạn”, quần thể danh thắng Tràng An hấp dẫn bởi hệ thống động xuyên thủy nối liền các thung ngập nước như một trận đồ bát quái vừa kỳ ảo vừa biến hóa khôn lường. Bên cạnh đó, quần thể danh thắng Tràng An còn có nhiều điểm du lịch văn hóa hấp dẫn khác như: cố đô Hoa Lư, khu núi chùa Bái Đính, các đình, đền, chùa…

 

Phạm Phương (TH)

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Vàng lúa chín nương, trắng hồng tam giác mạch

Khó có nơi nào mang lại cho du khách nhiều cảm xúc như vùng núi cao Đông – Tây bắc mỗi độ thu về. Kỳ vĩ mà lãng mạn, bức tranh của đất và trời thu Đông – Tây bắc dần chuyển màu từ vàng rực của mùa lúa chín nương sang trắng hồng man mác của mùa hoa tam giác mạch.

 

Đó cũng chính là lý do chùm tour Đông -Tây bắc của Saigontourist đang thu hút đông du khách Việt Nam và Việt kiều.

 

Mùa lúa chín ở Đông – Tây bắc thường rơi vào khoảng giữa tháng 9 đến giữa tháng 10, còn từ cuối tháng 10 đến nửa đầu tháng 11 hàng năm là mùa của hoa tam giác mạch khoe sắc thắm. Vẻ đẹp quyến rũ của vùng địa đầu Tổ quốc làm trỗi dậy cảm xúc thăng hoa đối với những người đã quen với cuộc sống đời thường nơi phố thị và đánh thức nỗi nhớ trong lòng những ai thích chinh phục bao điều kỳ thú của thiên nhiên.

 

Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ

 

 

Du lịch Đông – Tây bắc mùa thu cũng đồng nghĩa với chuyến chinh phục những đỉnh cao hùng vĩ của nơi này. Theo cung Nghĩa Lộ – Mù Cang Chải (Yên Bái) – Sapa (Lào Cai), du khách sẽ đi qua đèo Khau Phạ – “tứ đại đèo” của vùng cao Tây bắc; đèo Ô Quy Hồ uốn lượn quanh dãy Hoàng Liên Sơn hiểm trở và hùng vĩ vào bậc nhất ở miền núi phía Bắc với chiều dài lên tới gần 50km và cao gần 2.000m, trên đỉnh quanh năm mây phủ; hay ngắm “nóc nhà Đông Dương” – đỉnh Fansipan hùng vĩ tại sân Mây…

 

Còn nếu theo cung Quản Bạ – Yên Minh – Đồng Văn – Lũng Cú – Mèo Vạc (Hà Giang), du khách sẽ bước tới cổng trời Quản Bạ, nơi được ví von là có thể “cúi mặt chạm đất, với tay chạm trời”, quanh năm sương mù bao phủ; ngỡ ngàng khi chiêm ngưỡng núi đôi Cô Tiên mang nét mềm mại và tròn trịa theo dạng bát úp – tuyệt phẩm của thiên nhiên đã tạo nguồn cảm hứng cho bao truyền thuyết vô cùng lãng mạn. Chinh phục đèo Mã Pí Lèng hùng vĩ, để rồi kinh ngạc khi đặt chân trên những “vườn đá”, “rừng đá” tai mèo mang hình thù kỳ lạ cùng những dãy núi trùng điệp, hùng vĩ ở Công viên địa chất toàn cầu – Cao nguyên đá Đồng Văn; hay tự hào khi lên tới cột cờ Lũng Cú – nơi đánh dấu điểm địa đầu cực Bắc của Tổ quốc…

 

Vẻ đẹp quyến rũ miền sơn cước

 

Nhưng điều khiến du khách chờ đợi nhất trong chuyến du ngoạn thu Đông – Tây bắc chính là vẻ đẹp đến mê hồn của những thửa ruộng bậc thang, mà nơi đẹp nhất là những thửa ruộng ở ba xã La Pán Tẩn, Chế Cu Nha và Zế Xu Phình (đều thuộc Mù Cang Chải) – đã được xếp hạng là danh thắng quốc gia. Những thửa ruộng bậc thang tầng tầng, lớp lớp trải rộng khắp các quả đồi trông như những nấc thang khổng lồ bắc lên trời. Và thấp thoáng đây đó trên nền bức tranh khổng lồ vàng rực màu lúa chín nương ấy là những tấm lưng của bà con người dân tộc Mông, Dao… Họ cần mẫn làm việc cho một mùa bội thu, và cũng làm nên một kiệt tác về sắc màu tự nhiên đẹp lạ của vùng cao.

 

Từ tháng 10 trở đi, khi những thửa ruộng bậc thang vừa mới thu hoạch xong là đến mùa hoa tam giác mạch. Đây là loại hoa đặc trưng của vùng núi phía Bắc, tuy nhiên chỉ ở Hà Giang, hoa tam giác mạch mới được trông nhiều và đẹp nhất. Nảy lên từ mày lúa, mày ngô, những cánh hoa chụm lại thành hình chóp nón, có ba mặt tam giác giữ ở giữa hạt mạch quý… Trong vòng một tháng, hoa nở màu trắng, sau chuyển sang phớt hồng, ánh tím, rồi cuối cùng là đỏ sậm. Hoa mọc bạt ngàn trên cánh đồng, khi mọc chênh vênh thành những nương hoa, khi lại ẩn mình lấp ló trong kẽ đá, và hoa làm duyên đâu đó trước mỗi hiên nhà người dân vùng cao. Hoa dân dã nhưng lại có nét quý phái với gam màu trắng – hồng như hiện thân của tình yêu, hạnh phúc, thu hút bao cặp đôi đến để chụp ảnh cưới. Hoa mỏng manh là thế nhưng lại có sức mê hoặc bao tay máy săn ảnh từ chuyên nghiệp đến nghiệp dư.

 

Tìm hiểu đời sống người dân vùng cao

 

Sau khi mãn nhãn với vẻ đẹp của những nương lúa chín vàng hay đồng hoa tam giác mạch, đây là lúc du khách thỏa cơ hội khám phá đời sống văn hóa độc đáo của đồng bào các dân tộc vùng cao: xem biểu diễn múa hát dân gian của các dân tộc thiểu số, ngắm toàn cảnh Sapa trong sương thơ mộng và “nóc nhà Đông Dương” – đỉnh Fansipan hùng vĩ; Cát Cát – bản làng lâu đời của người Mông, nơi còn lưu giữ nhiều phong tục độc đáo cũng như nhiều nghề thủ công truyển thống.

 

Thú vị không kém là chuyến khám phá khu nhà họ Vương – là dinh cơ kiêm pháo đài, được xây dựng kiên cố bằng đá xanh và gỗ samu vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; dừng chân nơi Phố Cáo, thăm những nếp nhà truyền thống người Mông vẫn còn khá nguyên vẹn; làng dệt vải lanh Lùng Tám nổi tiếng của dân tộc Mông Trắng. Nối tiếp là chợ huyện Mèo Vạc quyến rũ bởi bức tranh đa sắc, sống động về văn hóa và trang phục các dân tộc vùng cao. Trong phiên chợ, những mẹ những chị mặc đồ mới đủ màu, vai gùi thêm con gà hay mớ cải; các anh dập dìu trên lưng ngựa, thế nào cũng có can rượu ngô trong túi nải. Và hãy một lần thử các món đặc sản thắng cố, mèn mén, cháo Ấu Tẩu… có thể hơi lạ lẫm nhưng vô cùng đậm đà nếu đã quen vị.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Biểu tượng văn hóa trong ẩm thực của người Thái đen Mường Lò

Trong văn hóa ẩm thực của người Thái đen Mường Lò có rất nhiều món ăn mang tính biểu tượng văn hóa. Chúng không chỉ đẹp về hình thức, màu sắc, ngon bổ về thành phần dinh dưỡng, cầu kỳ trong cách chế biến với rất nhiều gia vị và phụ gia phong phú, mà chúng còn truyền tải những ý nghĩa nhân văn, những biểu tượng mang tính văn hóa cho cả cộng đồng dân tộc. Tiêu biểu là các món: pảnh xíp xí, khẩu cắm nhọm và pa bẳng – pa háp.

 

 

Pảnh xíp xí (bánh xíp xí)

 

Là loại bánh gắn liền với tết Xíp xí (14/7 Âm lịch) của người Thái đen ở Mường Lò. Người Thái đen không nhiều các loại bánh như các dân tộc khác nhưng mỗi loại bánh lại gắn liền với những lễ hội,  mỗi cái tết như một biểu tượng về văn hóa. Nói đến tết Xíp xí, người dân nghĩ ngay tới bánh Xíp xí. Bánh này được gói theo kiểu đặc biệt, 2 chiếc bánh gói thành một cặp cùng với cách chế biến độc đáo. Để làm bánh Xíp xí  cần có các nguyên liệu:  bột gạo nếp, đỗ xanh, lạc, thịt gà, muối và lá chuối để gói.

 

Pảnh xíp xí trong ngày tết 14/7 của người Thái đen biểu đạt một ý nghĩa vô cùng quan trọng và sâu sắc đó là biểu tượng cho sự phồn thực của các cư dân sản xuất nông nghiệp với mong muốn các thần thánh phù hộ cho sự sinh sôi nảy nở, vạn vật phát triển tươi tốt, mùa màng thuận lợi. Tết Xíp xí là tết cầu mùa, cầu cho cây lúa với các nghi thức quan trọng như tổ chức lễ cúng ruộng tại bờ ruộng; tổ chức cúng vía trâu vì con trâu là “đầu cơ nghiệp” của những người sản xuất nông nghiệp. Và người dân làm pảnh xíp xí có hình dạng của bộ phận sinh dục của con trâu, dùng cúng tổ tiên trong ngày tết (đây là tín ngưỡng phồn thực của người Thái đen) với mong muốn làm pảnh Xíp xí càng to, con trâu càng khỏe, sản xuất nông nghiệp càng tốt, vạn vật ngày càng sinh sôi, phát triển. Chính vì thế, pảnh Xíp xí mang ý nghĩa văn hóa và biểu trưng sâu sắc trong văn hóa ẩm thực của người Thái đen Mường Lò.

 

Khẩu cắm  nhọm (xôi ngũ sắc)

 

Vào các dịp tết Nguyên đán, rằm tháng Giêng, tết Xíp xí 14/7, lễ cơm mới, trong lễ cúng tế tổ tiên của người Thái đen Mường Lò bao giờ cũng có khẩu cắm nhọm  mầu xanh, đỏ, tím, vàng, trắng,  5 màu sắc này thể hiện cho tất cả các mầu của các đồ vật trên thế gian mà con người muốn dâng tặng để cảm tạ tổ tiên, thần linh. Điều này mang ý nghĩa mọi thứ của trời đất mà con người có được đều muốn dâng cúng tổ tiên.

 

Từ thiên nhiên, con người đã biết chiết xuất ra các thứ màu cho xôi cơm vừa thơm ngon, vừa đẹp mắt mà hoàn toàn không hại tới sức khỏe. 5 thành phần trong xôi ngũ sắc – một đặc sản nổi tiếng của vùng “gạo trắng, nước trong” Mường Lò được làm từ: khẩu nửng (xôi trắng), khẩu cắm khiêu (xôi màu xanh), khẩu cắm lanh (xôi màu đỏ), khẩu cắm lăm (xôi màu tím) và khẩu cắm lương (xôi màu vàng).

 

Việc duy trì và cúng tế xôi ngũ sắc cho tổ tiên vào các dịp tết còn biểu hiện các giá trị đạo đức, giáo dục truyền thống cho con cháu sau này của người Thái đen phải luôn nhớ công ơn tổ tiên, nhớ ơn những người đi trước đã gây dựng cuộc sống. Bởi vậy, vào các dịp lễ, tết quan trọng trong năm, con cháu phải nhớ công ơn của tổ tiên mà dâng cúng mọi thứ cho tổ tiên được thể hiện qua năm mầu của cơm xôi được dâng cúng.

 

Pa bẳng – pa háp (cá muối đựng ống trong lễ cưới và cá sấy) 

 

Pa bẳng – pa háp không thể thiếu được trong lễ cưới người Thái Đen, pa bẳng – pa háp tạo thành một cặp “bẳng – háp” để dâng cúng tổ tiên của nhà gái trong lễ cưới, thể hiện lòng hiếu thảo của chú rể đối với tổ tiên và gia đình bên nhà gái. Đây là lời cảm ơn của chàng rể, trước hết là đối với “ông bà vãi” (ông bà ngoại), bố, mẹ vợ, rồi tới anh, em, cô, dì, chú bác bên gia đình nhà gái đã có công sinh thành ra cô dâu, nuôi nấng dạy bảo khôn lớn cho tới ngày đi lấy chồng.

 

Đồng bào cho rằng không có ông bà vãi, không có bố mẹ sinh thành ra cô dâu thì chàng rể đó sẽ không lấy được cô gái đó về làm vợ. Vì vậy, chú rể phải có lễ vật để cám ơn công sinh thành dưỡng dục của ông bà vãi, bố mẹ vợ, sau đó cảm ơn tới cô dì, chú bác của cô dâu, là những người luôn luôn dạy bảo, chăm sóc cho cô dâu từ nhỏ đến khi trưởng thành… Chính vì vậy, lễ vật “bẳng – háp” chế biến rất cẩn thận, cầu kỳ và đẹp mắt, đó là món quà cho mỗi người, mỗi gia đình anh em của cô dâu sau khi kết thúc lễ cưới. Bởi thế, món lễ quý hiếm này chỉ được trao đầu tiên cho người kính trọng nhất trong mâm cưới đó, trước hết phải là ông bà vãi và người cao tuổi nhất, sau đó mới tới những người khác trong gia đình.

 

Ngoài ra, cá ống pa bẳng và cá giỏ pa háp còn mang đậm yếu tố văn hóa phồn thực của cư dân nông nghiệp. Trong lễ cưới, đồng bào dâng cúng tổ tiên cá pa bẳng và pa háp thể hiện cho những mong muốn về sự sinh sôi, nảy nở, sự phát triển của tự nhiên và con người, đồng bào luôn luôn mong muốn cho tất cả đều được phát triển, đều được sinh sôi… Chú rể làm cá pa bẳng, pa háp  dâng cúng tổ tiên còn cầu xin cho được đông con nhiều cháu, cầu xin tổ tiên phù hộ cho được duy trì và phát triển giống nòi.

 

Hai món cá chế biến theo hai cách khác nhau. Pa bẳng đựng trong ống nứa, pa háp đựng trong giỏ tre nhưng không thể thiếu một trong hai thứ được và càng không bao giờ pa bẳng – pa háp đi riêng lẻ. Cho tới ngày nay, Mường Lò có nhiều sự thay đổi và phát triển, một số phong tục truyền thống đã mai một nhưng tục lấy cá pa bẳng và pa háp làm lễ vật trong lễ cưới vẫn được gìn giữ và bảo tồn trong đời sống văn hóa của người dân. Nó biểu trưng cho lòng biết ơn, biểu trưng cho các giá trị nhân văn cao cả.

 

Pa pỉnh tộp – cá mổ lưng gấp nướng

 

Pa pỉnh tộp là món ăn đặc trưng của người Thái đen. Nói đến ẩm thực Thái đen là nói đến pa (cá), mà nói đến cá là nói đến món pa pỉnh tộp. Ai đến vùng người Thái đen ở Mường Lò thì không thể không ăn món này. Sức hấp dẫn của mùi vị, sự kết hợp giữa cá và gia vị, nướng trên bếp than hồng cùng với nguyên liệu đặc trưng khiến món pa pỉnh tộp thường xuyên có mặt trong các bữa cơm hàng ngày cho tới các mâm cỗ đãi khách quý trong các dịp lễ tết, hội hè của người Thái.

 

Để làm món này cần có: cá, tỏi, hạt sẻn (mák khén), rau phắc nam, rau cải nương non, rau mùi, ớt, rau húng, hành, gừng, muối. Cá mổ và làm cá sạch sẽ, cá được bỏ các vây, mổ dọc theo sống lưng, nhồi gia vị và  dùng một cặp gắp bằng tre tươi cặp ngang qua mình cá khi đã được gấp đôi, rồi dùng lạt buộc chặt đầu kia của cặp để giữ cá, sau đó nướng cá trên bếp than hồng.

 

Pa pỉnh tộp được xem là biểu trưng trong văn hóa ẩm thực của người Thái đen Mường Lò. Người dân nơi đây cho rằng, đến Mường Lò nếu du khách chưa được thưởng thức món pa pỉnh tộp thì chưa được gọi là tới nơi đây. Điều này thể hiện sự quan trọng và đặc trưng của món ăn trong văn hóa ẩm thực của người Thái đen nơi đây.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Những giá trị nổi bật của quần thể danh thắng Tràng An

(TITC) – Quần thể danh thắng Tràng An có diện tích 6.172ha thuộc địa bàn huyện Hoa Lư, Gia Viễn, Nho Quan, thị xã Tam Điệp và thành phố Ninh Bình, cách thủ đô Hà Nội khoảng 90km về phía đông nam. Bao quanh quần thể là vùng đệm có diện tích 6.268ha, chủ yếu là đồng ruộng và làng mạc. Là khu vực có sự hòa lẫn giữa thiên nhiên và văn hóa, quần thể danh thắng Tràng An bao gồm ba vùng được bảo vệ liền kề nhau là khu di tích lịch sử văn hóa cố đô Hoa Lư, khu danh thắng Tràng An-Tam Cốc-Bích Động và rừng nguyên sinh đặc dụng Hoa Lư.

 

Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, quần thể danh thắng Tràng An là vùng bán sơn địa có phương phát triển chung theo hướng tây bắc – đông nam. Phía bắc và tây bắc Tràng An là các dải đồi Bái Đính; phía tây nam và nam là dải đá vôi Đồng Tâm – Sơn Hà, Tam Cốc – Bích Động; phía đông nam và đông bắc là dải đá vôi Trường Yên; phía đông bắc và bắc là dải đá vôi Tràng An. Tràng An có mạng lưới sông suối khá phát triển với sông Hoàng Long ở phía bắc, sông Chanh ở phía đông, sông Hệ ở phía nam, sông Bến Đang ở phía tây cùng hệ thống sông Sào Khê, Ngô Đồng, Đền Vối nằm trong vùng lõi di sản. Trước đây, khu vực Tràng An đã bị biển xâm lấn, biến cải nhiều lần rồi nâng cao trở thành đất liền như hiện nay. Sự kiến tạo địa chất trong giai đoạn lâu dài đã tạo ra những cảnh quan ngoạn mục – một sự pha trộn giữa những ngọn núi dạng tháp có vách dốc đứng trong khu rừng nhiệt đới nguyên sinh, bao quanh những trũng, thung lớn, sâu, chứa nước trong và tĩnh lặng thông với vô số các hang động và sông suối ngầm, nhiều chỗ có thể đi lại bằng thuyền.

 

Các giá trị nổi bật

 

Giá trị văn hóa

 

 

Tràng An là địa điểm nổi bật ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới chứa đựng những bằng chứng khảo cổ phong phú và vẫn còn được bảo tồn gần như nguyên trạng, chủ yếu là vỏ ốc, vỏ sò, xương động vật, đồ gốm, công cụ bằng đá, nền bếp, gốm vặn thừng và di cốt người. Đây là kho tư liệu vô giá cho thấy sự thích ứng của người tiền sử với những biến đổi quan trọng về môi trường kéo dài hơn 30.000 năm, ít nhất từ thời kỳ Băng hà cuối cùng. Trong thời gian này, họ đã trải qua một số biến đổi địa lý và khí hậu khắc nghiệt nhất trong lịch sử trái đất. Bên cạnh đó, các di tích văn hóa lịch sử như đền, chùa, cung điện cũng góp phần bổ sung và củng cố nhiều tư liệu khảo cổ học.  

 

Giá trị thẩm mỹ

 

 

Cảnh quan tháp karst Tràng An là một trong những khu vực đẹp và ngoạn mục nhất thuộc loại này trên thế giới, gồm chủ yếu một loạt các tháp karst dạng nón với vách dốc đứng cao 200m so với nền đất và mực nước xung quanh. Đan xen các đỉnh  núi hình tháp là hệ thống các thung lũng và hố sụt karst có độ nông sâu khác nhau. Trong các hố sụt là các đầm lầy bồi tích rộng, nối thông với nhau bởi các dòng suối ngầm xuyên qua núi tạo thành vô số hang luồn, trên trần hang lấp lánh những thạch nhũ muôn hình vạn trạng. Hòa vào vẻ đẹp của cảnh quan karst là thảm rừng nguyên sinh dày, bao phủ các vách đá, mang lại không khí mát mẻ, hoang sơ. Điểm xuyết giữa những ngọn núi hùng vĩ, hang động huyền bí, sông nước thanh tĩnh là những đền, chùa, miếu linh thiêng. Đặc biệt, cảnh quan của vùng đệm xung quanh Tràng An tạo nên một bức tranh cuộc sống nông thôn truyền thống sinh động, quyến rũ với những ngôi làng nhỏ nối với nhau bởi các con đường đất hoặc đường mòn cùng mạng lưới sông suối và kênh rạch.

 

Giá trị địa chất – địa mạo

 

 

Tràng An minh chứng cho các giai đoạn cuối cùng của quá trình tiến hóa karst trong môi trường khí hậu nhiệt đới ẩm. Sản phẩm của quá trình phân cắt mạnh các khối đá vôi lớn trong hàng trăm triệu năm là một dãy hoàn chỉnh các dạng địa hình đá vôi điển hình, bao gồm tháp, lũng (hố karst), thung lũng (hố sụt), các cấu trúc sụt lở, các lớp trầm tích, hang ngầm và sông ngầm, hang động và trầm tích hang động. Mạng lưới các đứt gãy song song giao nhau chia cắt khu vực thành các ô mạng và thúc đẩy sự phát triển của các trũng karst tròn, kín. Sự hiện diện rộng rãi của một loạt các ngấn xâm thực trên các vách đá với những hang động, nền sóng vỗ, lắng đọng bãi biển và vỏ sò là những bằng chứng cho mực nước biển cũ.

 

Ngày 23/6/2014, tại thủ đô Doha (Qatar), Ủy ban Di sản Thế giới thuộc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã chính thức ghi danh Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình) vào danh mục Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới dựa trên 3 tiêu chí: văn hóa, vẻ đẹp thẩm mỹ và địa chất – địa mạo.

 

Các điểm tham quan chính

 

Khu di tích lịch sử văn hóa cố đô Hoa Lư: đền vua Đinh, đền vua Lê, chùa Cổ Am, chùa Kim Ngân, chùa Duyên Ninh, chùa Nhất Trụ, phủ Vườn Thiên, đền thờ công chúa Phất Kim, động Thiên Tôn…

 

Khu danh thắng Tràng An: đền Trình, đền Trần, đền Tứ Trụ, phủ Khống, phủ Đột, hang Địa Linh, hang Sinh Dược, hang Mây, hang Tối, hang Sáng, hang Nấu Rượu, hang Ba Giọt, quần thể chùa Bái Đính…

 

Khu danh thắng Tam Cốc – Bích Ðộng: chùa Bích Động, chùa Linh Cốc, đền Thái Vi, động Thiên Hương, động Tiên, động Thiên Hà, hang Bụt, hang Múa, hang Cả, hang Hai, hang Ba, Thung Nham, Thung Nắng, làng cổ Cố Viên Lầu…

 

Phạm Phương

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Khám phá văn hóa cung đình Huế tại hai không gian diễn xướng mới

(TITC) – Đến với thành phố Huế xinh đẹp và thơ mộng, du khách sẽ có cơ hội khám phá những nét độc đáo của văn hóa cung đình Huế ở nhiều địa điểm khác nhau trong quần thể di tích Cố đô Huế. 

Đặc biệt, tại hai không gian diễn xướng mới được Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế và Công ty Lê Quý Dương phối hợp đưa vào hoạt động là lầu Tứ Phương Vô Sự và thuyền cung đình Long Quang, du khách sẽ được chiêm ngưỡng không gian hoàng cung lộng lẫy, tráng lệ; nhâm nhi những chén trà cung đình đậm đà hương sắc; miên man theo những điệu nhạc câu hò đậm chất Huế; dự các lớp học múa hát cung đình cho các cháu nhi đồng và thiếu niên Huế theo mô hình của các lớp Đồng ấu trong Đại Nội hay tham gia các trò tiêu khiển của vua quan xưa (đầu hồ, thả thơ)…

 

 

Lầu Tứ Phương Vô Sự nằm ở cửa Hòa Bình, Đại Nội Huế (đường Đặng Thái Thân, TP. Huế) do Vua Khải Định (1916 – 1925) cho xây dựng vào năm 1923 để chuẩn bị lễ mừng thọ “Tứ tuần đại khánh tiết” của mình. Được xây trên nền cũ của đình Tứ Thông thời Vua Gia Long (1802 – 1820), lầu là nơi để nhà vua và các thành viên hoàng gia hóng mát, ngắm cảnh, cũng là nơi học tập hàng ngày của các hoàng tử và công chúa giai đoạn cuối triều Nguyễn.

 

Nằm trên trục “thần đạo” hướng tây bắc – đông nam của Hoàng thành Huế cùng với các công trình quan trọng nhất Đại Nội (điện Kiến Trung, cung Khôn Thái, điện Càn Thành, điện Cần Chánh, điện Thái Hòa đến Ngọ Môn), lầu Tứ Phương Vô Sự là công trình hiếm hoi của Hoàng cung quay mặt về phía bắc, và cùng với cửa Hòa Bình (cửa Bắc của Hoàng thành) làm nên một tổ hợp kiến trúc độc đáo, biểu thị cho ước vọng hòa bình của triều đại. Với đường nét kiến trúc hài hòa, giao thoa giữa phong cách phương Đông và phương Tây, lầu Tứ Phương Vô Sự có giá trị lịch sử và văn hóa nghệ thuật đặc sắc, là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu, đánh dấu một giai đoạn chuyển tiếp trong lịch sử kiến trúc Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20.

 

Lầu Tứ Phương Vô Sự có diện tích 182m², gồm hai tầng. Đứng trên tầng hai của tòa lầu, du khách có thể phóng tầm mắt bao quát những công trình kiến trúc trong Hoàng cung và quan sát cuộc sống thanh bình của người dân Thành Nội Huế.

 

 

Cùng với lầu Tứ Phương Vô Sự, thuyền cung đình Long Quang ở bến Nghinh Lương Đình (đường Lê Duẩn, TP. Huế) cũng là một trong những không gian diễn xướng đặc sắc mà du khách không nên bỏ qua khi đến Huế. Ngự thuyền này được đóng theo nguyên mẫu mô hình ngự thuyền Tế Thông thời nhà Nguyễn. Thuyền dài 30m; rộng 6,5m; cao 5,4m; chở được khoảng 100 người. Đầu và đuôi thuyền có hình rồng, mái bằng gỗ giả ngói màu vàng, các cửa “bảng khoa” đều được chạm trổ tinh xảo. Bên trong thuyền được che bởi các rèm bằng lụa tơ tằm, nền trải thảm gấm.

 

Thuyền Long Quang là nơi du khách có thể chiêm ngưỡng cảnh vật thiên nhiên hữu tình, những di tích văn hóa lịch sử cổ kính và đời sống của người dân xứ Huế ở hai bên dòng sông Hương. Đặc biệt, tại đây sẽ tổ chức phục vụ du khách những món ăn vương giả các vua Nguyễn dùng thết đãi quan khách trong các buổi tiệc “Ngự yến Hoàng cung”.

 

Hai không gian diễn xướng mới được đưa vào hoạt động giúp đa dạng hóa các loại hình dịch vụ du lịch trong quần thể di tích Cố đô Huế, góp phần quảng bá những nét đẹp văn hóa cố đô độc đáo, đồng thời khơi dậy, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa cung đình Huế, tạo ấn tượng sâu sắc cho du khách trong và ngoài nước khi đến với mảnh đất này.

 

Phạm Phương

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Rừng Trà Sư – bức tranh màu nước

Hai địa điểm đặc trưng nhất du khách nên đến là rừng tràm Trà Sư – tiêu biểu cho vùng tứ giác Long Xuyên và Vườn quốc gia Tràm Chim ở Đồng Tháp – đại diện cho khu vực Đồng Tháp Mười.

Rừng Trà Sư – bức tranh màu nước

 

Vào mùa nước nổi, khi con lũ lên cao, toàn bộ khu rừng tràm rộng đến 845 ha này ngập sâu trong nước tạo nên cảnh quan vô cùng kỳ thú. Đến Trà Sư mùa nước, du khách như lạc vào một thế giới thiên nhiên xanh mang lại cảm giác thanh bình, êm ả. Dọc theo bờ đê, hiện lên thấp thoáng sau dãy rừng tràm xanh lay động nhẹ nhàng, uyển chuyển là những cánh chim lượn vòng tự do.

Cách thị xã Châu Đốc khoảng 30 km, rừng tràm Trà Sư được xem là khu bảo tồn hệ sinh cảnh tự nhiên tiêu biểu và độc đáo nhất của hệ sinh thái đất ngập nước ở vùng đồng bằng ven sông Cửu Long. Mùa nước lên, còn gì thú vị bằng chuyến du thuyền xuyên rừng chiêm ngưỡng sắc hoa tràm trắng tinh khiết nở bung trong nắng sớm, hương tràm thoảng nhẹ đầy vấn vương. Chiều về, khi ánh nắng bắt đầu nhạt dần, từng đàn chim trú ngụ trong rừng tràm bắt đầu bay về tổ.

 

Thích nhất là những “con đường nước” trong rừng Trà Sư. Mùa nước nổi, nước che mất mặt đường nhưng những cây tràm bên lề đường vẫn cao hơn mặt nước hình thành những “con đường nước”. Bèo cám phủ một tấm thảm màu xanh lên “mặt đường”, hai bên tràm vòng tay che mát. Thỉnh thoảng, tiếng mái chèo, tiếng chim, tiếng cá quẫy làm xáo động không gian yên tĩnh của khu rừng.

 

Kỳ thú Tràm Chim

 

Nằm sâu trong vùng chiêm trũng Tam Nông, với tổng diện tích 7.588ha, Vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp) là một trong 8 khu vực bảo tồn chim quan trọng nhất của Việt Nam và là khu Ramsar (vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế về sinh học và bảo tồn) thứ 2.000 của thế giới. Đây là hệ ngập nước đồng cỏ cuối cùng của Việt Nam, phong phú về mặt đa dạng sinh học và nổi tiếng với loài sếu đầu đỏ hay sếu cổ trụi, một trong những loài chim quý hiếm nằm trong sách đỏ quốc tế.

Vào mùa nước nổi, nước từ sông Mekong tràn về ngập cả những cánh đồng, biến Tràm Chim thành một ốc đảo giữa trời nước mênh mông. Trên các cánh đồng, hàng ngàn cánh cò trắng điểm xuyết trên nền tràm xanh mát tạo nên khung cảnh rất ấn tượng. Bước lên chòi canh, phóng tầm mắt trải rộng về phía chân trời, khách như ôm cả vào lòng bức tranh thiên nhiên thuần một màu xanh mát dịu.

 

Ngoài ra, du khách sẽ có những trải nghiệm đầy lý thú khi khám phá Khu du lịch Đồng Sen Tháp Mười với phong cảnh đẹp hoang sơ của đồng sen bát ngát. Không chỉ được tận hưởng và hòa mình vào không gian êm dịu, thuần khiết được hòa quyện bởi hương sắc của hàng ngàn cánh hoa sen, du khách còn có thể ghi lại những khoảnh khắc lãng mạn trong khung cảnh nên thơ, hữu tình.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

TIN MỚI NHẤT