Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Lễ Pút – tồng của người Dao đỏ (Cao Bằng)

Lễ Pút – tồng là một nghi lễ cực kỳ linh thiêng chỉ dành cho những người muốn làm thầy cúng của người Dao đỏ ở bản Phja Đén, xã Thành Công, huyện Nguyên Bình (Cao Bằng).

Dân tộc Dao ở Cao Bằng chiếm gần 10% dân số, với 2 nhóm chính là Dao đỏ và Dao tiền. Trong đó, người Dao đỏ chiếm 2/3 dân số và cư trú tập trung ở vùng cao, vùng núi đất các huyện Thông Nông, Hà Quảng, Hòa An, Bảo Lạc… Tuy cư trú ở núi cao, xa xôi, còn nhiều khó khăn, nhưng đồng bào Dao đỏ có truyền thống văn hoá phong phú và giàu bản sắc.

 

Lễ Pút – tồng hay theo cách gọi khác “tắm than” là một nghi lễ cực kỳ linh thiêng của người Dao đỏ, thường chỉ tiến hành vào 2 ngày trong năm: Ngày 1 Tết Nguyên đán và ngày rằm tháng Giêng âm lịch tại nhà những người làm nghề thầy cúng.

 

Lễ chỉ dành cho những người muốn làm thầy cúng – có năng lực giao tiếp với thần linh và ông bà tổ tiên, được cộng đồng người Dao đỏ đặc biệt tôn trọng. Chuẩn bị cho lễ, những người đàn ông ấy phải “dọn mình” thật sạch sẽ trước khi bước vào vòng “tắm than”. Bên đống than hồng, họ sẽ ngồi kiên nhẫn, lòng hướng về thần linh, chờ đợi mình sẽ được “chọn”.

 

Người được “lựa chọn” bất thần lao mình vô thức vào đống lửa, dùng than nóng để “tắm”, gột rửa hết những “nhơ bẩn” của cuộc sống trần tục để tiếp xúc với thế giới tâm linh. Sau lễ những người được tắm sẽ được các thầy cúng truyền nghề. Để thành một thầy cúng của cộng đồng người Dao đỏ cần qua 3 lễ Pút – tồng.

 

“Pút tồng” là điệu nhảy của những người Dao đỏ. Rất đặc trưng và huyền bí, điệu nhảy xuất thần độc đáo này như sự hòa quyện giữa cõi dương và âm trong tiếng kèn pí lè và tiếng trống âm vang với mục đích đón tổ tiên, thần linh.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Khám phá Bãi Đá Đen (Đà Nẵng)

Nếu đến Đà Nẵng và muốn tìm cho mình một địa chỉ để tham quan, dã ngoại cùng nhóm bạn thì Bãi Đá Đen nằm ở bờ bắc Bán đảo Sơn Trà là sự lựa chọn không thể tuyệt vời hơn. Muốn đến được địa chỉ này, bạn có thể xuất phát bằng đường thủy, đi từ sông Hàn, ngang cầu Cảng Tiên Sa, qua khu du lịch Tiên Sa – Sơn Trà một đoạn sẽ ra đến Bãi Đá Đen.

Bãi Đá Đen là tên gọi do người dân địa phương đặt cho bãi biển này. Ở đây có nhiều tảng đá to màu đen, nằm xen kẽ hoặc xếp chồng lên nhau tạo nên những góc nhìn rất đẹp. Đặc biệt, trong khu vực bãi đá có rất nhiều khoảng trống đẹp tựa hồ nước nhân tạo. Được che chắn bởi những tảng đá lớn nên nước ở đây quanh năm trong xanh, sóng dịu nhẹ thích hợp cho du khách tắm biển. Tại một số địa điểm thích hợp, khách du lịch đi theo đoàn có hướng dẫn viên sẽ được hướng dẫn tham gia các nhóm câu cá và lặn ngắm rạn san hô quý hiếm, đa dạng về màu sắc, chủng loại.

 

Một cán bộ đang công tác tại BQL Bán đảo Sơn Trà và các bãi biển Đà Nẵng cho biết, đây là nơi cư ngụ của rất nhiều loại hải sản như cá hồng, bống cát, cá mú hay ốc trinh nữ, ốc mỡ, sò điệp, cồi mai… Đặc biệt, ở đây còn là nơi sinh sống của ốc vú nàng, một đặc sản biển tưởng chừng chỉ có nhiều ở đảo Cù Lao Chàm (Hội An). Nếu muốn tự tay bắt những loại hải sản, ốc này, du khách nên đeo kính lặn hoặc buông cần thả câu để tận hưởng đầy đủ sự hồi hộp lẫn không gian tuyệt vời, quyến rũ nơi đây.

 

Bãi Đá Đen còn thích hợp để mọi người tổ chức liên hoan, đốt lửa trại bởi bên bờ nước trong xanh là bãi cát vàng mịn màng và sạch sẽ. Nơi đây, BQL bán đảo Sơn Trà và các bãi biển Đà Nẵng có kế hoạch xây dựng cầu cảng tạm để phục vụ cho các tàu du lịch có bến đậu. Từ đó du khách sẽ có thêm điều kiện tham quan các điểm du lịch xung quanh khu vực Bãi Đá Đen. Thời gian tới, khi công trình này hoàn thành sẽ mang đến cho Sơn Trà những điểm nhấn du lịch thú vị, hấp dẫn du khách.

 

Song song với việc khai thác tour mới, các đơn vị lữ hành đang khai thác du lịch tại bán đảo Sơn Trà tiếp tục mời gọi khách đăng ký, tham gia các tour quen thuộc như Vòng quanh bán đảo; Lặn biển ngắm san hô; Hoang dã Sơn Trà, Câu cá cùng ngư dân… Các chương trình tour này phần lớn gói gọn trong ngày với mức giá hấp dẫn, phù hợp với túi tiền của du khách. Tham gia các tour vòng quanh bán đảo Sơn Trà được xem là điểm nhấn trong mục tiêu phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng thời gian gần đây./.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Côn Đảo – hòn đảo bí ẩn

“Côn Đảo là một trong 9 hòn đảo bí ẩn nhất thế giới, nơi có sức hút kỳ lạ đối với du khách” – tạp chí du lịch Lonely Planet năm 2013 đã bình chọn như vậy về Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu) của Việt Nam.

 

Với những hòn đảo hoang sơ, bãi biển mơ mộng, Côn Đảo trở thành một trong những điểm đến lý tưởng nhất cho du khách. Từ khi cặp tài tử đình đám của Hollywood Brad Pitt và Angelina Jolie chọn Côn Đảo làm điểm nghỉ dưỡng đã khiến cho hòn đảo này thêm sức hút. Nằm ở phía đông nam của vùng biển Việt Nam, Côn Đảo là quần đảo có tổng diện tích 72km2 với 16 đảo nhỏ hợp thành. Đây là một trong những hòn đảo đẹp nhất của châu Á, là nơi lý tưởng nhất để bạn lựa chọn cho một kỳ nghỉ hoàn hảo của mình. Đến Côn Đảo, du khách sẽ nhận thấy sự đối lập nghịch lý giữa một bên là những bãi biển xanh ngút tầm mắt với một bên là những “chuồng cọp”, nơi các tù nhân cách mạng bị giam giữ, chính sự đối lập đó tạo cho hòn đảo này những câu chuyện mang đầy sắc màu huyền bí. Và một điểm đến gợi lên những hồi ức lịch sử là Nghĩa trang Hàng Dương. Tuy nhiên, vượt qua lịch sử đen tối, Côn Đảo đã vươn mình phát triển, trở thành một điểm đến ấn tượng với vẻ đẹp đầy quyến rũ, mê hoặc. Thị trấn Côn Đảo nhỏ như lòng bàn tay, nhưng ở mỗi ngón tay là mỗi nét riêng biệt. Côn Đảo được thiên nhiên ban tặng vẻ đẹp gần như hoàn hảo: cát vàng, biển xanh, trời trong vắt quanh năm.

 

Người dân Côn Đảo tin rằng, đây chính là sự bù đắp cho Côn Đảo sau những đau khổ mà vùng đất này đã trải qua. Trong buổi sáng hay lúc hoàng hôn, nếu bạn đang đạp xe dọc theo đường biển Côn Đảo, chắc rằng bạn sẽ bị mê hoặc bởi cảnh đẹp tuyệt vời hòa quyện giữa một bên là biển xanh bao la và một bên là đồi núi trùng điệp. Cả đảo chỉ có khoảng 6.000 người sinh sống nên môi trường rất sạch sẽ và tinh khiết. Dạo trên các con đường trong thị trấn, sẽ dễ bắt gặp các bảng hiệu kêu gọi bảo vệ môi trường như “Trước khi chặt một cây hãy trồng một rừng cây” được đính dày trên thân cây bàng cổ thụ được phong là “Cây quốc gia”. Bạn có thể đến Côn Đảo bằng đường bay từ sân bay Tân Sơn Nhất (TP.Hồ Chí Minh) hoặc tàu cánh ngầm từ TP.Vũng Tàu. Côn Đảo cũng đa dạng các loại hình dịch vụ du lịch: từ resort cao cấp cho đến biệt thự cho thuê cùng những bungalow xinh đẹp trong rừng dương lộng gió…

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Khám phá Khu du lịch sinh thái Hồ Kênh Hạ

Cách trung tâm TP. Nha Trang 10km, Khu du lịch sinh thái Hồ Kênh Hạ thuộc xã Phước Đồng mang một nét đẹp thiên nhiên hoang sơ vô cùng độc đáo.

 

Đến với Hồ Kênh Hạ, du khách sẽ không khỏi say lòng trước hồ nước trong xanh rộng mênh mông được bao bọc bởi từng dãy núi, từng tảng đá lớn được thiên nhiên “sắp đặt” ngẫu hứng. Và du khách cũng sẽ được tận hưởng một bầu không khí trong lành, tiếng lá xào xạc hòa cùng tiếng tiếng chim muông, mang lại cảm giác thật sự yên bình và thư thái.


Tận dụng những ưu thế vẻ đẹp thiên nhiên sẵn có, nơi đây đã được đầu tư xây mới thêm nhà lều, nhà gỗ và chòi gỗ lợp lá tranh để du khách có thể tổ chức tiệc nướng ngoài trời, liên hoan cùng bạn bè và người thân. Ngoài ra, Hồ Kênh Hạ còn cung cấp các dịch vụ vui chơi như: câu cá giải trí, bơi thuyền thiên nga và hỗ trợ tổ chức các chương trình teambuilding nhằm rèn luyện sức khỏe, tăng cường sự gắn kết trong tập thể và kỹ năng làm việc nhóm.
 

Khu du lịch sinh thái Hồ Kênh Hạ không chỉ là nơi vui chơi, giải trí mà nơi đây còn giữ trong lòng những dấu tích lịch sử đầy hào hùng của một căn cứ cách mạng huyền thoại với những chiến thắng hào hùng – Chiến khu Đồng Bò hay còn gọi là “Mật khu Đá Hang”.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đổ giàn – Lễ hội văn hoá đặc sắc “Miền Đất Võ”

Hơn 200 năm về trước, trên quê hương “Miền Đất Võ” Bình Định đã từng hình thành, tồn tại và phát triển một hoạt động võ thuật mang đậm nét văn hoá truyền thống, đó là Lễ hội Đổ giàn hay còn gọi là Lễ hội tranh heo, Lễ hội xô cỗ…

Bình Định – một vùng đất nổi tiếng về truyền thống thượng võ. Là người dân đất Việt, có lẽ ai cũng biết đến câu ca dao: Ai về Bình Định mà coi/ Con gái Bình Định cầm roi đi quyền… Câu ca trên đã từng lưu truyền tại “miền Đất Võ” hàng trăm năm nay, phần nào khắc họa không khí của Lễ hội tranh heo xưa kia.

 

 

Cách thị trấn Bình Định (huyện An Nhơn) khoảng hơn 10km về phía Tây – Bắc, có 2 làng võ nổi tiếng là An Thái và An Vinh. Tại đây, bên cạnh cộng đồng người Việt, còn có cộng đồng người Hoa di cư sang làm ăn, sinh sống. Người dân bản địa gọi họ là dân Ngũ Bang (gồm Triều Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Phúc Châu, Hải Nam). Diện mạo của khu phố chợ An Thái có những nét phảng phất gần giống với kiến trúc của những khu phố cổ Hội An (Quảng Nam). Xưa kia, nơi đây từng là một trong những trung tâm giao thương, mua bán sầm uất. Chính điều kiện kinh tế – xã hội của vùng đất trù phú này đã “khai sinh” ra Lễ hội làm chay – Đổ giàn – tranh heo.

 

Theo các cụ cao niên ở An Thái, An Vinh, cứ 4 năm một lần, vào dịp lễ Vu Lan (rằm tháng 7), tại vùng đất này lại diễn ra lễ hội làm chay – đổ giàn – tranh heo. Địa điểm dựng giàn là khu vực gò Am Hồn, chùa Bà Hỏa, chùa Hội Quán (thờ bà Thiên Hậu Thánh mẫu). Về hình thức, giàn gần giống với sàn đấu võ đài ngày nay, nhưng cao ráo, chắc chắn. Để lễ hội diễn ra sôi nổi, thu hút đông đảo khách thập phương, những người có trách nhiệm và người dân địa phương đã “chung vai gánh vác”, chuẩn bị rất chu đáo. Trước ngày diễn ra lễ hội, hầu hết các gia đình trong vùng, không phân biệt sang – hèn, giàu – nghèo, đều tự giác đem vật phẩm (heo, bò, gà…) đến đóng góp. Tên của chủ nhân được ghi vào một tấm thẻ và gắn vào lễ vật.

 

Trước khi Lễ hội Đổ giàn – tranh heo diễn ra, các chùa trong vùng đều tiến hành làm chay cầu nguyện cho bá tánh được an cư, lạc nghiệp. Đầu tiên là lễ rước bài vị từ hai chùa Quan Thánh Đế Quân, Xuân Quang Trang và lễ rước nước thánh từ sông Kôn đưa về. Đoàn đi rước bài vị và rước nước thánh khoảng 30 người, đi đầu có 4 người khiêng kiệu, mặc trang phục “học trò gia lễ”, cùng Ban trị sự và ban nhạc, chiêng, trống… Sau khi rước bài vị và lư nhang về chùa Hội Quán thì tiến hành lễ khai kinh, làm chay, tụng kinh suốt 3 ngày, 3 đêm. Ban đêm còn có múa lục cúng, múa bông… Hết ngày thứ 3 thì chuyển sang lễ chẩn bần (phát chẩn cho người nghèo). Tiếp đó, một lá phướn màu ngũ sắc đề 4 chữ Phúc – Đức – Thần – Tài từ trong chùa được mang ra, treo lên trên giàn để mỗi người lấy một miếng làm phước. Trước khi diễn ra Lễ Đổ giàn, tranh heo, trong chùa tiến hành nghi thức cúng vãn (cúng lần cuối), sau đó gióng trống, chiêng, báo hiệu cho Ban trị sự bên ngoài biết để mở đầu Lễ hội Đổ giàn, tranh heo.

 

Theo lệnh của người “chủ xướng”, các võ sư cao niên từ 4 hướng Đông – Tây – Nam – Bắc lần lượt quăng heo xuống… Võ sĩ thuộc các võ đường, làng võ nổi tiếng như: An Thái, An Vinh, Thuận Truyền, Trường Định… bắt đầu “tham chiến” theo cách “bài binh, bố trận” của võ phái mình. Tuy có nhiều “chiêu thức” khác nhau, song thuờng thì võ phái nào cũng chia làm 3 nhóm chính, gồm: tiên phong, tiếp ứng, cản hậu. Võ đường nào đột phá vòng vây, vác được heo về vị trí quy định thì phần thắng thuộc về bên đó.

 

Cuộc thi tài tranh heo diễn ra cực kỳ sôi nổi, hấp dẫn, kịch tính… Một bên thì cố tìm cách để mang, vác con heo thoát khỏi vòng vây để đem về bên mình, một bên thì bằng mọi cách để ngăn cản không để đối phương mang heo thoát ra. Những đường quyền, cước, thế, miếng gia truyền độc đáo, “thoắt ẩn, thoắt hiện” của các lò võ, làng võ có dịp được thể hiện, phô diễn. Mặc dù, cuộc tranh heo diễn ra gay cấn, quyết liệt, song không hề có chuyện “cay cú ăn thua”, ra đòn ác ý; tất cả đều vì mục đích đề cao nét đẹp truyền thống của võ thuật.

 

Cùng với các võ sư, võ sĩ, hàng ngàn người tham dự lễ hội cũng nhiệt tình hò reo, cổ vũ cuồng nhiệt, làm cho không khí của lễ tranh heo thực sự là một “đại hội võ lâm”. Kết thúc cuộc thi tài, toàn bộ số heo được tập trung lại để “Ban giám khảo” xem xét và công bố kết quả. Bên nào thua thì về lo “rút kinh nghiệm”, luyện tập để… 4 năm sau thi tài trở lại.

 

Đặc biệt, ngay sau khi Lễ Đổ giàn – tranh heo kết thúc, lễ hội còn diễn ra nhiều tiết mục như chưng cộ, múa lân. Chưng cộ là một hình thức biểu diễn nghệ thuật hát bội đặc sắc. Theo đó, cộ được “thiết kế” từ 2 chiếc xe cộ, thành một chiếc kiệu. Xung quanh cộ có vẽ, trang trí những hình ảnh về các tích tuồng. Ngoài ra, lễ hội còn diễn ra các trò chơi dân gian như đá gà (chọi gà), đánh cờ người, đốt pháo bông…

 

Trong những ngày diễn ra Lễ hội, hàng ngàn người từ khắp nơi trong tỉnh Bình Định và cả những tỉnh lân cận cũng đổ về vùng đất An Thái, An Vinh dự hội.

 

Hơn 2 thế kỷ đã trôi qua, song dư âm của những ngày lễ hội xưa như vẫn còn nồng ấm đến hôm nay. Tên tuổi của các võ sư, võ sĩ như Diệp Trường Phát (còn gọi là Tàu Sáu), Hồ Ngạnh, Ba Phùng, Hồ Chi (còn gọi là Năm Trừu), Hương mục Ngạc, Hương mục Đài, Chín Giác, Hương kiểm Mỹ… vẫn còn in đậm trong tâm trí của người dân nơi đây. Chính vùng đất này cũng đã từng đóng cho đội quân Tây Sơn những võ tướng, văn thần, cùng hàng ngàn nghĩa binh, góp phần lập nên những chiến công hiển hách của dân tộc.

 

Trải qua hơn 2 thế kỷ, Lễ hội Đổ giàn phần nào bị mai một. Điều đáng mừng là từ năm 2005, ngành VHTTDL Bình Định đã đầu tư, hỗ trợ cho công tác sưu tầm, phục dựng lại Lễ hội Đổ giàn xưa. Hy vọng rằng, trong thời gian tới, Lễ hội Đổ giàn sẽ tiếp tục được quan tâm phục hồi, dàn dựng thật hiệu quả và đưa vào Chương trình Liên hoan Võ cổ truyền quốc tế…

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Về Bình Thuận du lịch cùng đá

Cùng với nét đẹp dịu dàng của nước, thướt tha của cát, thiên nhiên còn ưu ái ban tặng cho Bình Thuận nét đẹp trầm tư của đá.

 

Chùa Cổ Thạch và bãi đá màu ở biển Tuy Phong là những thắng cảnh tuyệt đẹp làm say lòng biết bao nhiêu du khách. Ai một lần đến Tuy Phong, hẳn không khỏi ngẩn ngơ khi nghe tiếng chuông chùa ngân mềm vách núi. Ngôi chùa đá cổ kính nằm trầm mặc bên biển cả mênh mông. Xa hơn chút là bãi đá màu kỳ lạ. Những viên đá mịn nhẵn cỡ nắm tay ken nhau tạo thành bãi.

 

Dưới ánh sáng huyền ảo lúc hoàng hôn, màu đá lấp lánh trong màu nước xanh lơ, đen, xám, vàng, trắng… bạn có thể chọn cho mình vài viên để kỷ niệm chuyến đi. Điều kỳ lạ nhất, đá như có sức sống, biết lớn, biết thở, biết đi. Đêm đêm từ biển đá trườn lên lấp đầy vào bãi. Đến Tuy Phong, ra về lòng du khách hẳn không khỏi bâng khuâng nhớ đá.

 

Vào Thuận Quý, du khách lại được chứng kiến nét đẹp kì vĩ khác của đá. Đá ở đây mang vẻ ngạo nghễ, ngang tàng. Hàng ngàn, hàng vạn năm gió biển bào mòn tạo thành những dãy đá thoạt trông giống đoàn chiến mã xông trận. Giữa buổi trưa nồng nàn nắng biển, bên tai bạn như từ xa xưa vọng lại tiếng ngựa hý, gươm khua, tiếng trống, tiếng kèn thúc trận. Thuận Quý, điểm du lịch nổi tiếng của Hàm Thuận Nam. Về Thuận Quý ngoài thú tắm biển, nghe đá xung trận, khách còn tự tạo cho mình thú vui đi bắt ghẹ đá. Những con ghẹ có lớp vỏ dày, cứng, nằm náu mình trong các gộp đá ven biển, bạn cứ tha hồ lục tìm, túm được con nào nướng ngay con ấy, thật tuyệt vời nếu có thêm xị rượu gạo… Ngoài đá Thuận Quý, Hàm Thuận Nam còn có đá Hòn Lan. Những dãy đá xám xịt xếp chồng nối tiếp. Không như đá Thuận Quý, cứng cáp, ngạo nghễ, đá Hòn Lan là loại đá xốp, mặt lồi lõm, loang lỗ, khoét tạo đủ hình thù, hang động, mang vẻ đẹp ngậm ngùi, kì bí. Hòn Lan một thắng cảnh đẹp, hữu tình, nơi có truyền thuyết về cái chết đau thương do cá rô chui vào cổ họng của người con gái quê nghèo Mũi Điện.

 

Về Thuận Nam, du khách còn có dịp ghé Kê Gà, chèo thuyền ra biển thăm đảo đá, nơi có ngọn hải đăng cao vời vợi và rừng sứ già hoa trắng nở đã suốt trăm năm.

 

Chẳng tốn thời gian gì cho lắm, mời du khách tiếp tục xuôi Nam, dừng chân ở Ngảnh Tam Tân thuộc xã Tân Tiến, thị xã La Gi, du khách tiếp tục cuộc rong chơi với đá và biển. Mõm Đá Chim, thắng cảnh du lịch tuyệt vời. Đá nhấp nhô trên sóng, đá nấp trong cát, đá xôn xao trong gió, một nét đẹp thẫn thờ, trầm mặc.

 

Đến Bình Thuận, đi đâu, về đâu, du khách đều có thể tìm gặp nét đẹp riêng của đá. Với Hòn Bà – La Gi, ở hòn đảo nhỏ cách bờ 2km này, du khách có dịp tận mắt trước sự lung linh màu đá trong từng hang động. Đá Hòn Bà xanh lơ theo màu trời, màu nước, mang nét đẹp dịu dàng, sâu lắng. Những chú hàu, những chị vú nàng bám trên vách đá luôn là món ăn ngon, lạ để du khách nặng lòng với đảo.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Bình Định – huyền thoại miền đất võ

Như ta đã biết, Tây Sơn là một huyện của Bình Định. Đặc điểm địa lý của huyện Tây Sơn hàm chứa yếu tố đắc địa của một cái nôi võ thuật.

 

Đồi núi phía tây là sự tiếp dẫn sơn mạch của Trường Sơn trập trùng tráng khí, với những ngọn núi thiêng đã đi vào các thư tịch cổ như ngọn Hánh Hót, ngọn Trưng Sơn (hòn Sung), ngọn Hoành Sơn (có núi Ấn và núi Kiếm), núi Ông Nhạc, núi Ông Bình, núi ông Dũng, hòn Lĩnh lương. Những truông, hang, gò nổng gắn liền với việc luyện quân: gò Tập binh, gò Cấm cố, bãi Tập voi, căn cứ Hầm Hô, mật khu Linh Đỗng… Dòng sông Kôn với những bến sông thịnh đạt về đường mua bán, đồng thời cũng là chốn gặp gỡ đi về của anh hùng hào kiệt: bến Trường Trầu, quán Chiêu Anh gắn liền với bước khởi nghiệp của Nguyễn Nhạc… Những làng xã âm vang như Kiên Mỹ, Phú Lạc, Xuân Hòa, An Vinh, Thuận Truyền, Thuận Nhứt,… Ấy là nơi cúi đầu nghe sông hát, ngẩng đầu nghe núi reo, nhắm mắt nghe roi quyền xé gió. Ấy là Tây Sơn, tiêu điểm của đất võ Bình Định. Huyện Tây Sơn là nơi phát tích của phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn, một phong trào được ví là cơn bão táp lịch sử mà tinh hoa của võ thuật Bình Định được phát huy cao độ. Do ảnh hưởng rộng lớn của phong trào, thời kỳ Tây Sơn và hậu Tây Sơn, khái niệm võ Tây Sơn trùng khít với khái niệm võ Bình Định. Hai chữ Tây Sơn đã được sử dụng với hàm nghĩa “nhận diện” một vùng văn hóa rộng hơn rất nhiều so với nghĩa thực.


Võ cổ truyền Bình Định bao gồm cả các dòng võ cổ truyền tại Tây Sơn và các dòng võ của các địa phương khác trên tỉnh Bình Định. Nói như thế không có nghĩa là các dòng võ này phát triển độc lập tuyệt đối với nhau. Các đặc điểm chung như có bài thiệu, nguyên tắc “túc bất ly địa” (chân không rời đất)… nói lên sự thống nhất tương đối của các dòng võ cổ truyền Bình Định ở những nội dung cơ bản. Ngoài ra, giữa các dòng võ ấy vẫn có nhiều điểm khác biệt. Quyền An Thái đường nét sắc sảo, bay bướm, tiến thoái linh hoạt trong khi quyền An Vinh nghiêng về đánh móc, ra đòn hiểm. Giữa côn pháp các dòng võ cũng có sự phân biệt, đặc biệt các phép roi rút, roi cộng lực, roi đổ thủy, roi nghịch là “đặc sản” riêng của roi Thuận Truyền do Đại võ sư Hồ Ngạnh sáng tạo. Suốt quá trình hình thành và phát triển trên cùng một không gian lịch sử – văn hóa, giữa các dòng võ, các làng võ luôn có sự giao lưu, học hỏi lẫn nhau. Nhờ vậy, mà võ học Bình Định mới trở thành một di sản nhiều tầng lớp, phong phú và uyên diệu.

 

Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền – Đặc sản đất Bình Định


Từ ý tưởng phải tập hợp các môn võ Việt Nam đang phát triển ở các nước trên thế giới, UBND tỉnh Bình Định thống nhất và năm 2005 đã chính thức đặt vấn đề với UBTDTT Việt Nam tổ chức gặp mặt các CLB, các võ đường võ cổ truyền Việt Nam trên thế giới lại và lấy tên: Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam và đề nghị cho phép Bình Định tổ chức 2 năm một lần đã được sự ủng hộ nhiệt tình của Trung ương và các ngành, các tỉnh trên cả nước và các môn phái võ Việt Nam trên thế giới.


Qua 4 kỳ tổ chức Liên hoan, lần lượt với các chủ đề: Hội tụ và phát triển; Nâng tầm võ Việt; theo bước chân Hoàng đế Quang Trung… và lần thứ V với chủ đề “Bảo tồn và phát huy võ cổ truyền Việt Nam”. Ngày 27/12/2012 Bộ VHTTDL đã có quyết định số 5079/QĐ-BVHTTDL về công nhận võ cổ truyền Bình Định là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

 

Nhìn lại bốn kỳ Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền Bình Định, Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam tại Bình Định lần thứ I (2006) chỉ có 21 quốc gia và vùng lãnh thổ cùng 29 đoàn võ của các tỉnh trong nước thì lần thứ II (2008) có 26 quốc gia và vùng lãnh thổ (với 74 đoàn/26 quốc gia và vùng lãnh thổ) cùng 35 đoàn trong nước. Liên hoan lần thứ III (2010) có 31 quốc gia và vùng lãnh thổ (với 70 đoàn quốc tế) cùng 35 đoàn trong nước. Kỳ thứ IV (2012) có 69 đoàn của 27 quốc gia và vùng lãnh thổ và gần 40 đoàn trong nước. Tại kỳ đại hội thứ IV này có 15 đoàn võ đối kháng của các CLB các tỉnh thành phố thi đấu đài tạo thêm không khí sôi nổi và đầy kịch tính, đồng thời cũng tạo thêm sân chơi cho các nước tham gia biểu diễn đêm khai mạc đêm bế mạc và tưng bừng trong đêm lễ hội đường phố.


Diễn ra từ ngày diễn ra từ 01-04/8/2014 tại Thành phố Quy Nhơn, Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam lần thứ V có sự tham gia của 30 quốc gia và vùng lãnh thổ, quy tụ hàng trăm võ sư, võ sĩ, võ sinh khắp các châu lục đến tranh tài và biểu diễn.


Liên hoan gồm các hoạt động chính: Lễ dâng hương tại Bảo tàng Quang Trung và Đàn tế Trời – Đất (tại Tây Sơn); Lễ khai mạc Liên hoan; Cuộc thi Người đẹp Quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam; Thi đấu võ cổ truyền các CLB trong nước; Lễ hội đường phố; Lễ bế mạc Liên hoan và chung kết cuộc thi chọn Người đẹp Quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam.

 

Bên cạnh đó còn có các chương trình hưởng ứng gồm: Giao lưu tại 6 võ đường và biểu diễn tại 7 địa điểm của 4 huyện, thị xã, thành phố; Liên hoan ảnh nghệ thuật khu vực Miền trung – Tây Nguyên; Cuộc thi tài năng trẻ diễn viên sân khấu tuồng chuyên nghiệp toàn quốc năm 2014; Tham quan danh thắng và di tích lịch sử văn hóa; Hội đánh Bài chòi cổ dân gian; Đại hội sáng lập Liên đoàn Quốc tế Võ cổ truyền Việt nam và Hội thảo khoa học bảo tồn và phát huy võ cổ truyền Việt Nam.


Đặc biệt, chương trình đêm khai mạc năm nay với chủ đề “Bảo tồn và phát huy võ cổ truyền Việt Nam” có sự khác biệt sâu sắc đó là – đón nhận danh hiệu: “Võ cổ truyền Bình Định là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”. Chương trình diễn ra vào 20h00 ngày 01/8, được truyền hình trực tiếp trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh, Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Định.


Với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch được lồng ghép tinh tế, Liên hoan là cơ hội để các đoàn võ thuật trong và ngoài nước gặp gỡ, giao lưu, trao đổi về bảo tồn và phát triển võ cổ truyền Việt Nam ở trong nước và trên thế giới. Thông qua các hoạt động tại Liên hoan, Bình Định giới thiệu các danh lam thắng cảnh, địa danh lịch sử, làng nghề truyền thống, văn hóa ẩm thực và tiềm năng kinh tế của tỉnh nhằm thu hút du khách trong nước và quốc tế.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Ra cù lao Chàm (Quảng Nam) khám phá hang yến

Nói đến yến, người ta nghĩ đến Khánh Hòa bởi đây được mệnh danh là xứ “rừng trầm, biển yến”. Tuy nhiên, ở miền Trung, ngoài Khánh Hòa, cù lao Chàm- Quảng Nam cũng là một nơi rất nhiều chim yến tập trung sinh sống.

 

Hàng chục năm trước, hang yến là vùng bất khả xâm phạm, nhưng nay, hang đã mở cửa để khách tham quan, tạo thêm điểm du lịch mới ở cù lao Chàm. Đến đây, du khách vừa khám phá nghề nuôi yến lấy tổ, vừa tìm hiểu việc thờ tổ nghề yến trên đảo.

 

Giã từ Cửa Đại đầy thơ mộng và quyến rũ của phố Hội, tàu lướt sóng đưa chúng tôi ra cù lao Chàm- vùng đất mang dấu tích của người cổ đại cách nay hàng ngàn năm và hàng trăm năm trước là cảng biển quan trọng giao du với phương Tây. Thay vì dừng lại khám phá vẻ đẹp viên mãn của cù lao này, chúng tôi lại tiếp tục ghép đoàn trên chuyến tàu khác để ra hang yến- một tour du lịch mới lạ, hấp dẫn với những trải nghiệm thú vị.

 

Từ xa xưa, hẻm núi của các đảo xung quanh cù lao Chàm đã có loài yến cư ngụ. Chúng làm tổ trên các vách đá, sâu trong khe núi. Người dân bản địa bất kể mạng sống, leo lên những vách đá cheo leo ấy lấy tổ yến dâng vua chúa. Và ngay từ khoảng thế kỷ 17, triều đình nhà Nguyễn đã chú ý đến nghề yến khi phân bổ ông Hồ Văn Hòa làm “Quản linh tam tỉnh yến hộ”, quản lý hoạt động khai thác tổ yến ở Quảng Nam, Bình Định và Khánh Hòa. Riêng Hội An, yến được khai thác chủ yếu ở các đảo nhỏ trong quần đảo cù lao Chàm, như: hòn Khô, hòn Tò Vò, hòn Lao…

 

Ra xa bờ, nhất là phía Đông hòn Lao, sóng to gió lớn. Con tàu nhấp nhô theo từng đợt sóng. Khu vực này không có những bãi cát trắng mịn màng như Cửa Đại hay cù lao Chàm. Thay vào đó là những khối đá ngàn đời hiên ngang, vững chãi trước mưa gió và sóng biển. Khách không khỏi trầm trồ trước những khe núi hiểm trở, nơi chim yến đến làm tổ, trú ngụ và sinh sản. Nhìn từ xa, hang yến chỉ là một khe nứt hẹp từ mặt biển lên đến gần đỉnh núi, cao đến hàng chục mét. Đến gần, mới thấy miệng hang rộng rãi. Chim yến từ biển bay vào đây làm tổ bằng nước miếng của mình rồi sinh và nuôi con cho đến khi chúng biết bay. Những người khai thác tổ yến phải ở lại hang nhiều tháng ròng để chăm sóc tổ. Người ta làm những giàn giáo bằng tre nối với nhau cao hàng chục mét lên tới miệng hang. Hằng ngày, họ leo lên giàn tre đó tiếp cận tổ, phun sương cho tổ ẩm, dễ khai thác. Công việc cực nhọc và nguy hiểm nhưng mỗi tổ khai thác được chỉ nặng khoảng 10 gram, thường khoảng 100-120 tổ mới được một kg. Mỗi kg tổ yến có giá hàng chục triệu đồng; loại tốt có khi giá lên đến 2-3 lượng vàng.

 

Du khách tự do khám phá hang yến và tìm hiểu về nghề truyền thống hàng trăm năm của xứ cù lao. Những giàn giáo bằng tre để thợ chăm sóc tổ, khai thác yến không khỏi khiến du khách “lạnh lưng” bởi tính mạo hiểm và bất trắc của nghề này. Nhiều công nhân khai thác yến tâm sự: Phụ nữ lấy chồng làm nghề yến cũng như lấy chồng đi biển, “hồn treo cột buồm”. Trước đây, cuộc sống của thợ khai thác yến ở hang yến rất buồn do tách biệt với môi trường xung quanh. Từ khi hang yến được đưa vào khai thác du lịch, ngày nào cũng có vài đoàn ghé thăm. Khách du lịch thường trò chuyện, hỏi về chuyện đời, chuyện nghề của công nhân nên các anh cảm thấy rất vui và tự hào với công việc của mình.

 

Vẫn còn một hang yến khác, hiểm trở kỳ vĩ hơn. Ngược hướng về bãi Hương- bãi Làng, du khách ghé thăm hang Tai- nơi có sản lượng khai thác yến cao nhất trên đảo cù lao Chàm. Tại đây, du khách có thể leo núi xem chim yến, tắm biển, lặn nông (lặn cạn, không cần khí tài) để chiêm ngưỡng thế giới muôn màu, muôn vẻ của các loài san hô. Quay lại cù lao Chàm, đến bãi Hương, khách được đưa đến viếng miếu thờ tổ nghề yến. Lịch sử hình thành nghề, miếu tổ và những câu chuyện kể về các bậc tiền hiền, khai cơ lập nghiệp mang đến cho khách nhiều cung bậc cảm xúc, nhất là đạo lý sống nhân ái yêu thương của cư dân làng đảo. Tại bãi Hương, du khách còn có thể trải nghiệm cuộc sống của làng nghề chài lưới qua loại hình du lịch homestay hoặc lang thang trên các ngả đường lộng gió biển. Và du khách cũng không nên bỏ qua cơ hội khám phá vẻ đẹp hoang sơ của bãi Nần, bãi Xếp, bãi Ruộng bên cạnh những bãi vốn đã nổi tiếng như bãi Ông, bãi Chồng, bãi Bấc./.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Núi Mằn – nét đẹp trầm tích đất Quảng Ninh

Thiên nhiên đã ban tặng núi Mằn (huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh) một cảnh quan đẹp, sơn thủy hữu tình cùng hệ động thực vật phong phú. Đây cũng là núi đá duy nhất còn nguyên vẹn trên khu vực vịnh Cửa Lục, vùng đệm của di sản vịnh Hạ Long. Không chỉ có cảnh quan đẹp, danh thắng núi Mằn còn gắn với những câu chuyện văn hóa, lịch sử hấp dẫn, xứng đáng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là danh lam thắng cảnh quốc gia vào đầu tháng 7 này.

 

Nằm giữa hai nhánh suối là suối Đá Trắng (Bạch Thạch Khe) và suối Lưỡng Kỳ (Khe Bân) đổ ra sông Đá Trắng, núi Mằn xưa còn có tên gọi là núi Bân, một ngọn núi đẹp và điển hình cho hệ thống núi đá vôi của huyện Hoành Bồ. Hình dáng núi giống như một con voi đang trong thế quỳ phục, vòi chúc xuống khe Bân. Núi Mằn cao khoảng 300 m so với mực nước biển, có các vách đá cao dựng đứng, khe núi hiểm trở, lưng chừng núi có các tảng đá tự nhiên bao quanh như hình vành mũ, liên kết với nhau vững chắc, tạo thành những nét độc đáo riêng mà không ngọn núi nào trong vùng có được. Bên trong những rãnh núi hiểm trở có những hang động lừng chừng núi với những thớ, nhũ đá khá đẹp, trên đỉnh núi có rất nhiều vỏ ốc, sò… và có cả những vũng nước tự nhiên trong vắt mà người dân trong vùng gọi là Thiên Bể (hoặc Giếng Trời)… Bên cạnh những nét độc đáo riêng, núi Mằn còn có hệ thực vật núi đá vôi khá phong phú và đa dạng, có nhiều cây thuốc nam, phong lan và một số loài thú quý như khỉ vàng, kỳ đà, tắc kè, chim chóc. Phía đông của Núi Mằn còn có Hang đầu Bụt, bên trong hang có nhiều nhũ đá rất đẹp…


Bên cạnh những vẻ đẹp do thiên nhiên ban tặng, núi Mằn còn gắn với truyền thuyết ly kỳ về “Ông khổng lồ gánh đá vá trời” từ thuở khai thiên lập địa. Đến nay, nơi đây vẫn còn lưu lại nhiều địa danh gắn với truyền thuyết này như ruộng ông Khổng Lồ, đồi ông Khổng Lồ, rồi vết chân ông bước qua sông Cửa Lục tạo thành những dải đất có hình bàn chân (chân ông Khổng Lồ). Đặc biệt, là khi ông trở vai làm đòn gánh gãy làm đôi, một bên gánh rơi xuống thành phố Hạ Long (là núi Truyền Đăng – núi Bài Thơ), một bên rơi xuống địa phận Xích Thổ (Hoành Bồ) chính là núi Mằn ngày nay…

 

Bên cạnh giá trị về cảnh quan, tâm linh, núi Mằn còn có những giá trị gắn với lịch sử, văn hóa của dân tộc. Theo các nhà nghiên cứu về lịch sử, địa chất, địa mạo, thì núi Mằn chứa đựng nhiều trầm tích văn hóa Sơn Vi, Đông Sơn, cần phải được nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện. Những bút tích bằng chữ Hán cổ, đồ thờ tự phát hiện trong hang động tại núi Mằn những hiện vật như vỏ sò, ngao, các loài cây sú, vẹt… và những hệ thực vật biển hóa thạch phát hiện trong hang động là minh chứng về nguồn gốc, sự hình thành, phát triển của di tích, không chỉ có giá trị về danh thắng mà còn có giá trị về địa chất cổ sinh học.


Các nhà nghiên cứu về lịch sử thì cho rằng, núi Mằn từng là đại bản doanh của quân đội nhà Lý trong cuộc kháng Tống thế kỷ XI. Trong hai lần kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông (1285, 1288), núi Mằn được Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn chọn làm đại bản doanh dự bị chiến lược của đạo thủy binh nhà Trần. Sau chiến thắng trận Bạch Đằng năm 1288, vua Trần Thánh Tông đã chỉ huy quân đội nhà Trần vượt biển tiến vào vịnh Cửa Lục, đóng quân tại núi Mằn rồi từ đó tiến lên chặn đánh và truy kích quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy trên đường rút chạy về nước qua đường Đình Lập – Lạng Sơn…

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Thăm chùa Hải Tạng ở Cù Lao Chàm, Quảng Nam

Từ Cửa Đại, thành phố Hội An, Quảng Nam đến Cù Lao Chàm, một địa điểm thuộc vùng biển Việt Nam, nếu đi bằng phương tiện tàu siêu tốc mất khoảng 20 phút và bằng thuyền gỗ thì mất chừng 1 giờ.

Được biết, vào năm 2009, khi được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới, Cù Lao Chàm, trong đó có chùa Hải Tạng, trở thành một địa danh du lịch biển nổi tiếng của miền Trung nước ta.

 

 

Cù Lao Chàm từng là cảng rất cổ để tàu thuyền ngoại quốc của các nước như Bồ Đào Nha, Trung Hoa, Nhật Bản… đổ hàng vào Trà Nhiêu, Hội An (Quảng Nam). Trên đó có một ngôi chùa – điểm tựa tâm linh của cư dân trên đảo và cho thương thuyền các nước ghé vào trú tránh bão và hành lễ, cầu nguyện mưa thuận gió hòa…

 

Từ Bãi Làng trên đảo Hòn Lao, men theo những con đường nhỏ ngoằn ngoèo chừng 300m là đến xóm Cốm, nơi có chùa Hải Tạng trầm mặc cổ kính.

 

 

 

Ấn tượng đầu tiên là cổng tam quan đầy rêu phong nhuộm màu thời gian. Tam quan với lối kiến trúc xưa gồm 4 trụ biểu cao 5m, chóp trụ có khối hình hoa sen, rộng 1,5m. Tam quan được chia làm ba cổng, với hai lối vào nhỏ và một lối vào lớn được thiết kế theo kiểu mái vòm, bờ nóc, bờ hồi đắp nổi nhiều đường nét uốn lượn mềm mại, uyển chuyển và bên trên lợp ngói âm dương. Kết nối tam quan là bức tường thành bằng đá bao bọc xung quanh trang nhã với những đường nét hoa văn gọn gàng bao lấy khu vực và cả khuôn viên ngôi chùa.

 

Phía trước sân chùa là tượng Bồ-tát Quan Âm đứng trên đài sen giữa lòng hồ sen nhỏ, mặt hướng về phía biển Đông như che chở cho cuộc sống an lành của những ngư dân nơi đây. Sau khi làm lễ thắp hương tại thánh tượng Bồ-tát, từ đây du khách có thể vào tham quan ngôi chùa để trải nghiệm lòng mình với cõi Phật.

 

Kiến trúc bên trong ngôi chùa còn khá nguyên vẹn. Ở mái hiên, dép hoành cách điệu với hình lồng đèn, thân chạm hình hoa lá, đầu là những cánh sen lật đỡ thẳng lên đòn tay, dưới chạm nổi hình đầu rồng. Hệ thống cửa “thượng song hạ bản”, gồm 3 bộ, mỗi bộ 4 cánh ngăn không gian bên ngoài với không gian nội thất.

 

Hệ thống hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng, uy nghiêm, lớp lang huyền ảo thiêng liêng hài hòa với cấu trúc tượng pháp thờ tự đa dạng. Nổi bật ở chánh điện là bộ Tam thế. Kế đến là tượng Thích Ca ngồi trên đài sen. Đặc biệt, trong chùa hiện vẫn còn lưu giữ đại hồng chung rất có giá trị về mặt lịch sử và văn hóa. Trên chuông có một con rồng mang phong cách mỹ thuật Việt thời Lê sơ. Có nhiều ý kiến cho rằng quả chuông ở chùa Hải Tạng được chú tạo trước cả thời điểm xây dựng chùa.

 

Được biết, cùng với sự phát triển của Phật giáo Đàng Trong, chùa Hải Tạng là một biểu tượng kiến trúc văn hóa Phật giáo độc đáo tiêu biểu trên đảo Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam và cho cả vùng đất thiêng liêng nằm về phía Đông của Tổ quốc.

 

Chùa được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ XIX (1758). Sau đó, do có bão lớn làm hư hại nặng, chùa dời về vị trí như hiện nay vào năm Tự Đức nguyên niên (1848). Đây là một công trình đẹp, có quy mô lớn với kiến trúc kiểu “chồng rường giả thủ” chia 3 gian 2 lòng, có hậu tẩm, kết cấu vì kèo gỗ và các chi tiết kiến trúc được chạm trổ công phu. Chùa tọa lạc sát chân núi phía Tây của đảo Hòn Lao, thuộc xã Tân Hiệp (Hội An), phía sau tựa vào núi, mặt nhìn ra một thung lũng nhỏ là cánh đồng lúa duy nhất của Cù Lao Chàm.

 

Theo các bậc cao niên ngụ cư ở thôn Bãi Làng, xã Tân Hiệp trên Cù Lao Chàm cho biết: Tương truyền, các cây cột được vận chuyển từ ngoài Bắc đem vào làm một chùa nào đó trong Nam nhưng khi đi ngang Cù Lao Chàm, trời tối nên phải neo thuyền nghỉ lại. Sáng ra, thuyền tiếp tục lên đường, nhưng thật lạ, biển tự dưng dậy sóng, thuyền cứ xoay tròn, lòng vòng không đi ra khỏi Cù Lao Chàm được. Sau có người trong đoàn khấn nguyện rồi quyết định dùng số gỗ đó làm chùa nơi cù lao này.

 

Đến Cù Lao Chàm, du khách nên một lần viếng chùa Hải Tạng cổ kính để được sống lại với bao truyền thuyết và không khí thiêng liêng nơi một vùng đất còn hoang sơ.

 

Sự hiện hữu của ngôi chùa đã làm cho cảnh sắc Cù Lao Chàm trở nên hiền hòa, thuần khiết và có chiều sâu về tâm linh. Ngôi cổ tự thực sự hài hòa giữa thiên nhiên đã làm nên vẻ đẹp riêng của một vùng sinh thái. Ngôi chùa này đã đi vào tâm thức của bao người dân, là một bộ phận không thể tách rời của một vùng đất thiêng liêng của người Hội An (Quảng Nam) nói riêng và của quê hương nói chung.

 

Rời chùa Hải Tạng, lòng chúng tôi cứ man mác nhớ về một vùng Cù Lao Chàm lắng đọng tâm thức trong tiếng chuông chùa ngân xa, để rồi mong một lần nữa gác bỏ những lo toan muộn phiền âu lo của cuộc sống đời thường để quay về đất liền mang mạch sống thiêng liêng mà trung tâm là ngôi chùa trên xã đảo xa xôi này.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

TIN MỚI NHẤT