Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Món cá chẽm chưng tương ở miền Tây

Ngày cuối năm, bên nồi cơm gạo mới con cháu quây quần thưởng thức cùng món cá chẽm chưng tương, vừa cay, vừa mặn, ngọt nồng nàn. Món ăn nhà quê nhưng có sức lan tỏa sâu tận tâm hồn người làm cũng như người thưởng thức.

cá chẽm chưng tương

 

Địa hình miền Tây Nam bộ nhiều kênh rạch. Và cũng tại đây, điều kiện tự nhiên hình thành ba vùng nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Theo đó, nhiều loại cá tôm, song và thích nghi theo từng vùng nước cụ thể. Cá chẽm là loại cá sống ở vùng nước ngọt.

Cá chẽm dài khoảng một, hai gang tay, thân có vảy nhuyễn. Đặc biệt cá chẽm có hai mang rất sắc như lưỡi dao cạo.

Những ngày giáp tết, dân miền Tây hay dở chà để bắt cá ăn tết. Năm nào trúng, một đống chà cho cả năm bảy giạ cá như chơi. Nếu dở chà bằng lưới, cá chẽm thường bơi lên phía trên đống chà mà dân chuyên nghiệp gọi là ổ cá, chúng cố bơi dựa vào mặt lưới và dùng hai mang sắc bén rạch lưới chui ra ngoài. Do vậy, qua kinh nghiệm dỡ chà, người ta phân công một người canh phòng khi cá chẽm bơi gần mép lưới dùng mang chém lưới, nếu không để ý chẳng những cá chẽm chém lưới chui ra ngoài mà các loại cá khác cũng theo chỗ lưới rách ấy tìm đường thoát ra.

Thịt cá chẽm ngon, người miền quê hay dùng con cá này chưng với tương và bún tàu, nấm rơm, củ hành, …

Bắt cá làm sạch để cho ráo nước. Đem cá ướp với củ hành, tỏi bằm thật nhuyễn, thêm ít tiêu xay, nước mắm ngon, đường, bột ngọt,… Chờ cho cá thấm gia vị rồi bắc chảo mỡ lên thả cá vào chiên vàng.

Nấm rơm hái về gọt, rửa sạch, trụng nước sôi có cho chút muối, để ráo. Đem lọn bún tàu cọng nhỏ, cùng với nhúm nấm mèo đã cắt bỏ tạp chất ngâm trong nước lạnh cho mềm. Ớt trái, hành cọng, rau cần tàu,… cắt tỉa thành những bông hoa cho đẹp mắt rồi thả vô nước lạnh ngâm cho những cánh bông ấy bung ra. Cà chua rửa sạch xắt miếng dọc, gừng xắt sợi nhuyễn.

Cho cá đã chiên ra tô rồi xếp các gia vị như bún tàu, nấm rơm, nấm mèo, gừng, … đã chuẩn bị và phủ lên mình cá. Tương hột loại ngon được đem cà nhuyễn, vắt lấy nước cốt chế vào cá ngập chừng xâm xấp. Nêm thêm chút đường và bột ngọt rồi bắc vo xoong để chưng. Nấu lửa lớn, nước sôi, hơi bốc lên sẽ làm cho gia vị chín, nước tương thấm vào thịt cá. Nhắc xoong xuống đem cá ra trang trí thêm những cánh bông ớt, bông hành,… mới nhìn đã thấy thèm.

Bên nồi cơm gạo mới những ngày cuối năm con cháu quây quần gắp từng miếng cá thấm gia vị vừa cay, vừa mặn, ngọt nồng nàn. Món ăn nhà quê nhưng có sức lan tỏa sâu tận tâm hồn người làm cũng như người thưởng thức. Lắng lòng nghe câu hát ru em vẳng ra từ nhà ai đó mà bồi hồi, da diết: Xa thì nhớ, ở thì thương/ Ngọt ngào cá chẽm chưng tương quê nhà.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Bí ẩn tháp Bà Ponagar

Tháp Bà Ponagar được coi là danh thắng bậc nhất của Nha Trang – Khánh Hoà, một quần thể đền thờ tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Chăm Pa.

 

Kiến trúc tuyệt mỹ


Tháp Bà Ponagar là ngôi đền nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ cao khoảng 50 mét so với mực nước biển, còn gọi là núi Tháp Bà nơi cửa sông Cái, cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng 2 km về phía bắc. Tổng thể kiến trúc của Ponagar gồm 3 tầng, đi từ dưới lên trên. Ở tầng thấp, ngang mặt đất bằng là ngôi tháp cổng mà nay không còn nữa. Từ đấy có những bậc thang bằng đá dẫn lên tầng giữa.


Ở tầng giữa gọi là Mandapa (tức là nhà khách, nhà tĩnh tâm) dành cho khách hành hương nghỉ ngơi, chuẩn bị lễ vật. Mandapa dài 20m, rộng 15m, gồm 4 hàng cột hình bát giác (bao gồm 10 cột lớn và 12 cột nhỏ). Trên thân các cột lớn có các lỗ mộng, khoét sâu vào thân cột, đối xứng ngang bằng với đỉnh của các cột nhỏ.


Tầng trên cùng là nơi các ngọn tháp toạ lạc. Những ngôi tháp được xây dựng theo kiểu Chăm, gạch xây rất khít mạch, không nhìn thấy chất kết dính. Tháp thờ chính ở dãy trước khá lớn và cao khoảng 23 mét, là tháp Ponagar.


Tháp có 4 tầng, mỗi tầng đều có cửa, tượng thần và hình thú bằng đá. Bên trong là tượng nữ thần (cao 2,6 m) tạc bằng đá hoa cương màu đen (trước đó là gỗ trầm hương, và xa hơn nữa là bằng vàng) ngồi trên bệ đá uy nghiêm hình đài sen, lưng tựa phiến đá lớn hình lá bồ đề. Đây là một kiệt tác về điêu khắc Chămpa, là sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật tượng tròn và chạm nổi. Trên đỉnh tháp có tượng thần Shiva cỡi ngưu thần Nandin và các tượng linh vật.

 

Tháp Bà Ponagar là công trình tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc dân tộc Chăm. Kỹ thuật xây dựng giai đoạn từ thế kỷ thứ VIII đến XIII cho đến nay vẫn là điều bí ẩn dù nhiều nhà nghiên cứu đã vào cuộc, nhiều công trình khoa học đã được thực hiện. Người ta vẫn chưa hiểu được người Chăm đã làm cách nào để những viên gạch với kích cỡ 20x20cm cứ chồng khít lên nhau mà không cần bất kỳ một chất kết dính nào. Đó là nét độc đáo khiến du khách thêm phần yêu thích ngôi đền tháp này.


Về kỹ thuật, tất cả tháp này được xây bằng gạch và trang trí nghệ thuật bằng các chất liệu đá – gốm, nội dung thể hiện cũng gắn liền với các vị thần được thờ ở đây. Các tác phẩm điêu khắc bằng đá thể hiện các chủ đề khác nhau theo tôn giáo Bà-la-môn, như các pho tượng tròn (hiện đang trưng bày tại Viện Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa) gắn liền với khu đền tháp tạo thành mảng kiến trúc nghệ thuật tuyệt mỹ.


Lễ hội Tháp Bà


Vào những ngày lễ vía Bà hàng năm (từ 20 đến 23 tháng 3 âm lịch), tháp Bà Ponagar đón hàng vạn khách du lịch hành hương cũng như người dân trong vùng về dự lễ hội nhằm để tưởng nhớ công ơn của Thiên Y Ana Thánh Mẫu (người Chăm gọi là Po Inư Nagar), người mẹ xứ sở đã có công dạy người dân cách làm ăn, sinh sống.


Trong sử sách cũng như tiềm thức của người Chăm, vai trò của nữ thần Po Inư Nagar đặc biệt quan trọng và đó là biểu tượng người phụ nữ duy nhất được tôn thờ độc lập. Mọi người tin Po Inư Nagar là vị thần đầy quyền năng, sáng tạo… Mẹ xứ sở không chỉ nâng đỡ người Chăm từ những bước đi đầu tiên thời lập quốc mà luôn luôn dẫn dắt đời sống tinh thần của từng gia đình cũng như cả cộng đồng.

 

Theo các nhà nghiên cứu, khoảng từ giữa thế kỷ XVII đến nay, nghi lễ thờ cúng Mẹ xứ sở được người Chăm và người Kinh tổ chức chu đáo tại Tháp Bà Ponagar. Năm 1653, những người dân Việt từ phía Bắc, theo chúa Nguyễn vào phương Nam mở cõi, dừng chân bên cửa sông Cái (Nha Trang), tạo lập nên làng mạc, xóm thôn… Và, chính họ đã mang theo phong tục thờ cúng Mẫu của người Kinh ở đồng bằng Bắc bộ vào đây. Hàng năm, cứ đến ngày 20 tháng 3 âm lịch, người Chăm, người Kinh ở khắp nơi, mang theo lễ vật, hành hương về Tháp Bà Ponaga Nha Trang, thành tâm bày tỏ lòng biết ơn đối với một người phụ nữ đã có công chỉ dạy dân lành biết cách làm ăn, sinh sống bằng nghề nông.


Các nghi lễ chính của lễ hội Tháp Bà Ponagar gồm lễ mục dục (tắm tượng), lễ tế gia quan (lễ thay y) diễn ra vào giờ Ngọ ngày 20 tháng 3 âm lịch, tiếp đến là lễ tế sanh, dâng cúng đồ tế, múa bóng mời thiên y thánh mẫu và các bậc thần linh về dự lễ. Theo nghi thức, lễ cúng thánh mẫu thường mở đầu bằng lễ khai kinh cầu quốc thái dân an. Lễ tế sanh bắt đầu vào giờ Tý, đêm 22 âm lịch do các bô lão thực hiện, sau đó lễ cầu cúng chính thức diễn ra vào lúc 4 giờ sáng ngày hôm sau… Những bài múa nổi tiếng của dân tộc Chăm như Apsara, bến nước tình yêu, tình láng giềng… cùng tiếng khèn Saranai, trống ghi-năng vui nhộn làm say đắm bao lòng người du khách…

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Thân thương xuồng ba lá trên sông rạch miền Tây

Cứ đến bất kỳ làng quê nào ở miền Tây Nam bộ, hình ảnh quen thuộc trên các dòng sông, con rạch là chiếc xuồng ba lá được người ta chèo, bơi để đi lại.

 

Xưa, vùng đất sình lầy quanh năm ngập nước này đường bộ rất ít, kênh rạch thì dọc ngang. Kênh rạch đi vào tận trước cửa mỗi nhà. Và chiếc xuồng ba lá làm phương tiện đi lại phổ biến của bà con quê nghèo. Dân gian ví von rằng xuồng ba lá như cái chân người, không có xuồng coi như … cụt chân.

 

Quả đúng vậy, bởi kênh rạch chằng chịt, không có xuồng thì thật khó lòng đến với nhau, dù nhà cách nhà chỉ một bờ sông hay vài ba cái mương.
 

Xuồng ba lá đúng như tên gọi của nó. Được ghép từ ba miếng ván bề ngang chừng mấy gang tay mà thôi. Một miếng nằm ngang làm đáy, hai miếng ăn xéo hai bên, gọi là be. Nối liền giữa các miếng ván ấy là hệ thống gông khá dày.
 

Đi gần thì dùng mái dầm bơi, đi vào lung bàu có nhiều năng lát thì dùng chiếc sào bằng tre để chống cho xuồng lướt nhanh. Đi xa ra chợ hay đến các xóm làng thì thì dùng hai mái chèo. Chèo gắn trên cột chèo bằng những quai chèo hình số 8. Người con gái mặc chiếc áo bà ba buông nhẹ mái chèo đã trở thành thứ văn hóa đặc sệt của sông nước miền Tây. Một anh chàng lém lỉnh đã buông lời chọc ghẹo qua câu ca dao hài hước thế này:
 

“Nước Láng Linh chảy ra Vàm Cú/ Thấy dáng em chèo cặp vú muốn hun“.
 

Câu ca này do nhà nghiên cứu Lê Giang sưu tầm được. Quả là đáo để!

 

Chiếc xuồng ba lá cũng đã trở thành nguồn cảm hứng cho biết bao văn nghệ sĩ. Nó đi vào thơ ca, nhạc họa. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh trong bài hát Chiếc áo bà ba đã bày tỏ xúc động:
 

“… Nhớ chiếc xuồng xưa năm nào trên bến cũ/ Thương lắm câu hò kêu gọi khách sang sông

Áo trắng xuồng đưa mắt cười em khẽ gọi/ Người thương ơi em vẫn đợi chờ“.
 

Thời kháng chiến cứu nước, chính chiếc xuồng ba lá đã biết bao lần chở đoàn chiến sĩ sang sông làm nhiệm vụ. Ngày nay, chiếc xuồng ba lá lại dọc ngang đón đưa khách du lịch về với miệt vườn nhiều cây trái ngon ngọt của mảnh đất Chín Rồng.
 

Cứ hừng đông sáng, những chiếc xuồng bán hàng bông rau cải, những chiếc xuồng rao bán cá tôm do chính tay người nông dân ra đồng bắt được từ tối qua hay những chiếc xuồng bán bánh cam, bánh còng cho trẻ con,… bập bềnh trên mặt nước. Tất cả như còn in đậm mãi đối với những ai đã từng sống và lớn lên nơi miền sông nước Cửu Long giang.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Lên đỉnh rừng Bidoup

Theo tuyến đường Quốc lộ 723 hướng Đà Lạt – Nha Trang chừng 50 cây số, thả hồn trong tiếng thông reo rì rào giữa một cung đường xanh uốn lượn, qua đèo 723 với hai bên sườn đất đỏ bazan là đến cửa Vườn Quốc gia Bidoup tại xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương.

 

Đây là một trong những khu bảo tồn thiên nhiên và sinh quyển lớn nhất Việt Nam, đang chờ phê duyệt của UNESCO để trở thành khu bảo tồn sinh quyển thiên nhiên thế giới. 

 

Vườn Quốc gia Bidoup rộng trên 70.000ha với khoảng 66.000ha vùng lõi với 91% diện tích được thảm rừng nguyên sinh che phủ. Trải nghiệm một hành trình 2 ngày đi bộ xuyên rừng Bidoup, băng rừng lội suối, hòa mình vào thiên nhiên hoang dã của khu bảo tồn thiên nhiên còn nguyên sinh, đa dạng, cắm trại qua đêm giữa muôn vàn tiếng côn trùng là cách để du khách cảm nhận rõ bằng mọi giác quan về cuộc sống hòa mình giữa thiên nhiên, phụ thuộc vào thiên nhiên thật hiện hữu trong chính bản thân mình.


Vườn Quốc gia Bidoup có nhiều loài cây che phủ tạo nên các kiểu rừng đa dạng: Rừng kín thường xanh, rừng thưa cây lá kim, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng lùn đỉnh núi, rừng rêu, rừng tre nứa. Nơi này có cây thông đỏ nghìn tuổi từng có nhà khoa học sinh thái ước ao trước khi chết được đến ngắm một lần, lại có cây pơ mu tới 1.300 năm tuổi. Trên những thân cây nghìn tuổi ấy vẫn còn lưu dấu tích loài khủng long tiền sử. Dừng chân thư giãn bên dòng nước mát lạnh dưới thác Tiên, hạ trại bên dòng suối mát, cùng tham gia bắt cá và thưởng thức bữa trưa hoang dã giữa rừng, trong tiếng thác đổ ầm ào và muôn vàn tiếng chim hót rồi tiếp tục hành trình băng rừng khám, du khách sẽ có trải nghiệm tuyệt vời.

Rừng lùn cũng chính là khu rừng nằm ở vị trí cao nhất của Vườn Quốc gia Bidoup trên đỉnh núi. Gọi là rừng lùn bởi ở khu vực đỉnh núi, hầu hết các loài cây mọc ở đây đều có chiều cao khiêm tốn. Đỉnh Bidoup có độ cao 2.287m. Tuy có độ cao như vậy nhưng những thử thách không quá khó như những đỉnh núi vùng Tây Bắc. Chỉ có vài đoạn dốc trơn trượt hay những tán rừng rậm rạp, còn lại hầu hết chặng đường đều có độ dốc thoải, dễ đi. Nếu lên đỉnh Bidoup vào những ngày nhiều mây, có gió lớn, đứng trên đỉnh núi nhìn toàn cảnh Vườn Quốc gia ẩn hiện giữa những dòng sông mây bồng bềnh trôi che mờ cảnh núi đồi trắng bạc. Rồi khi mây tan, toàn cảnh Vườn Quốc gia Bidoup trập trùng đồi núi trải rộng bạt ngàn một màu xanh thẳm.

Cắm trại qua đêm trong rừng sẽ là một trải nghiệm khó quên trong không khí se lạnh vốn là nhiệt độ chuẩn quanh năm của Vườn Quốc gia Bidoup. Một giấc ngủ sâu sau ngày dài băng rừng, lội suối trong bản hòa tấu côn trùng sẽ cho bạn lại sức sau ngày dài băng rừng, trước khi trở về với phố xá ồn ào, khói bụi tàu xe.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Những con đường rất Huế ngày giáp xuân

Có những con đường, con phố gắn liền với cuộc sống hằng ngày trong mỗi chúng ta, song cũng rất thường tình khi chúng ta cắm cúi lao vào cuộc sống để mưu sinh mà quên đi cái hồn của phố.

 

Để rồi khi một năm lại sắp bước qua, dạo trên những con phố, ta lại có những cung bậc cảm xúc thật đặc biệt. Đôi khi, chỉ cần nhớ đến tên một hàng quán nào đấy, ta lại nhớ đến cái vị đặc trưng của một con phố mà ta đã quen tên.

 

Ở Huế, ngày áp Tết, những ngôi nhà cổ dường như sống động hơn, tươi tắn hơn dẫu vết tích thời gian đã in hằn trên từng thớ gỗ, hàng hiên. Khu phố Gia Hội với nhiều ngồi nhà rêu phong cổ kính, những con đường gắn liền với lịch sử của xứ kinh thành. 

 

Mỗi thành phố đều có vẻ đẹp và cái hồn riêng, đặc biệt là Huế, mảnh đất của thơ ca, nhạc họa. Có lúc chỉ một con hẻm nhỏ cũng làm bước chân lãng du thấy nhớ. Huế có rất nhiều con đường, góc phố, ngõ hẻm như vậy. Huế đang chấm bước vào xuân với sự háo hức. Những con phố cũng rộn ràng đón xuân, nhưng trong cái rộn ràng ấy ta lại thấy cái trầm tư của Huế. Thật lạ kỳ….

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Ngẩn ngơ mùa vàng triền đê sông Đuống

Không phải đi quá xa, chỉ cần tranh thủ dịp cuối tuần về khu vực đê sông Đuống (Gia Lâm, Hà Nội), bạn sẽ được thả mình vào khung cảnh đồng quê thanh bình với mùa hoa cải đang nở rộ.

Chạy xe theo đường Quốc lộ 5, rẽ vào đê sông Đuống từ ngã tư Cổ Bi hoặc dọc đường Quốc lộ 18B qua chùa Keo, bạn sẽ thấy những cánh đồng hoa trải dài, miên man, thơ mộng.

 

 

Đến hẹn lại lên, cứ vào khoảng tháng 12 âm lịch hàng năm, những cánh đồng bên ven bờ đê sông Đuống (thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội) lại rực lên màu vàng của những đóa hoa cải cúc trải dài bạt ngàn.

 

Đây cũng là thời điểm khiến sông Đuống thu hút nhiều bạn trẻ, nhiếp ảnh anh cùng du khách từ khắp các nơi đến chiêm ngưỡng và chụp ảnh để lưu lại khoảnh khắc quý giá bên những luống cải mỗi năm chỉ nở một vụ.

 

Mỗi dịp cuối đông, đầu xuân như thế này, khách du lịch đến đây đều phải ngỡ ngàng trước những ruộng hoa cải nở rộ rực rỡ khắp một vùng trời. Thêm vào đó, hai bên bờ sông còn là cảnh làng mạc thanh bình với những lớp nhà ngói nâu, lũy tre, đồng lúa khiến lòng người xao xuyến, tạo cảm giác vừa thơ mộng lại bình yên đến lạ.

 

Hoa cải vàng là thứ hoa chỉ nở đúng dịp đầu mùa đông, khi đất trời se se lạnh, xao xác dưới nắng hươm vàng.

 

Vẻ đẹp rực rỡ mà bình dị này khiến cho bất cứ ai cũng liên tưởng về những miền quê của mình.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Về Kiên Giang, khám phá biển đẹp Nam Du

Được nhắc đến nhiều trong năm vừa qua, Nam Du hiện là nơi mà dân phượt phía Nam nhất định phải ghé đến cho những kỳ nghỉ lễ. Nam Du có rất nhiều bãi tắm đẹp, trong đó thu hút nhất là Cây Mến, với hàng dừa xanh tỏa bóng mát rượi chạy dài ven bờ biển.

 

Cách thành phố Rạch Giá 83km đường biển, đảo Nam Du là một trong những điểm đến thú vị của Kiên Giang mà bạn nên ghé đến một lần. Nam Du là nơi còn rất hoang sơ, với 21 hòn đảo lớn nhỏ như Hòn Lớn, Hòn Nồm, Hòn Mấu… , được tạo hóa xếp đặt khéo léo. Trong số đó, có thể nói bãi Cây Mến tại Hòn Lớn là một trong những bãi biển được yêu thích nhất nhờ vẫn giữ được vẻ đẹp nguyên sơ, thơ mộng.

 

Thời điểm tốt nhất để có thể thưởng lãm trọn vẹn vẻ đẹp của Cây Mến và các đảo ở Nam Du là vào mùa xuân, từ tháng 1-3. Lúc này bãi biển không chỉ êm mà nước biển còn xanh trong, ấm áp.

 

Bãi tắm Cây Mến nằm trong vịnh Thái Lan, kín gió nên biển lặng, nước trong xanh. Thoạt nhìn, bãi biển Cây Mến trông như một hồ nước khổng lồ bao bọc chung quanh là những hàng dừa nghiêng mình và những vách đá vững chãi.

 

Mấp mé nước biển xanh ngát là bãi cát chạy dài, mịn màng, vô cùng thích hợp cho những cuộc tản bộ sáng sớm hoặc chiều tà, hay những hoạt động vui chơi trên biển.

 

Gọi là Cây Mến nhưng bãi tắm chỉ toàn là cây dừa! Dừa ở đây có nhiều cây lớn tuổi hơn cả những du khách trẻ, được trồng từ 70, 80 năm về trước. Rừng dừa chạy dài dọc theo biển, tỏa bóng mát rượi.

 

Cây Mến cũng như những bãi tắm lớn nhỏ khác trong đảo Nam Du vẫn chưa nhiều dấu chân du khách, nên biển nơi đây tuyệt đẹp. Người Nam Du quan tâm đến việc bảo vệ môi trường, đây cũng là lý do chính làm nên vẻ đẹp hoang sơ, tinh khiết cho Cây Mến.

 

Sau khi dạo một vòng Bãi Mến, đắm mình trong dòng nước mát lành, bạn có thể tiếp tục đi thăm các bãi Ngự, bãi Chệt lân cận, nghỉ ngơi, chọn mua các hải sản tươi ngon của địa phương, mua một số loại đặc sản, đồ lưu niệm về làm quà và cắm trại đêm nếu thích./.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Lễ vật bánh củ gừng mang tới ấm no hạnh phúc cho người Chăm

Bánh củ gừng là một trong những lễ vật không thể thiếu của đồng bào Chăm ở tỉnh Ninh Thuận dùng để dâng cúng tổ tiên với mong ước cuộc sống ngày càng ấm no và hạnh phúc.

 

Bánh củ gừng được làm từ hỗn hợp bột gạo nếp, đường, trứng gà và men rượu. Bột gạo nếp đem trộn với trứng gà cùng men rượu rồi đem giã quyện. Với bàn tay khéo léo của những người phụ nữ Chăm bánh sẽ được nặn thủ công thành hình giống củ gừng.

 

Sau khi nặn xong, người Chăm đem bánh chiên dầu khoảng 5 phút thì chiếc bánh có màu vàng và thơm.

 

Bánh củ gừng sau khi chiên dầu được nhúng vào nước đường để bánh bóng mịn và không bị cong. Công đoạn cuối cùng trong quá trình làm bánh củ gừng là gắp từng chiếc lên mâm phơi khô trong khoảng 10-15 phút để tăng độ giòn cứng.

 

Theo phong tục người Chăm, bánh củ gừng có mặt trong tất cả các lễ hội lớn và quan trọng của cộng đồng như: lễ cưới, Tết Katê…

 

Bánh củ gừng với vị thơm ngon của gạo nếp quyện với chút đậm đà của trứng gà pha men rượu khiến người thưởng thức có cảm giác ngọt ngào, giòn tan pha lẫn béo bùi./.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Sa Đéc – thành phố hoa chốn miệt vườn

Xuân đến, làng hoa cảnh Tân Quy Đông tô thắm đất trời Sa Đéc (Đồng Tháp). Trong tương lai, nhắc đến Sa Đéc, người ta sẽ hình dung ra một thành phố hoa chốn miệt vườn .

 

Từ TP.HCM về miền Tây, đến chân cầu Mỹ Thuận, bạn chỉ cần rẽ phải khoảng 30km nữa là đến Sa Đéc. Từ đây thật dễ dàng để đến làng hoa nổi tiếng vì nó chỉ cách trung tâm thành phố chừng 4km. 

Làng hoa Sa Đéc trải dài từ phường 3 đến phường Tân Quy Đông, xã Tân Khánh Đông. Thả bộ bên sông Sa Đéc, men theo đường Lê Lợi phường 3, qua  tỉnh lộ 848, đến Sa Nhiên – Cai Dao – Ông Thung, phường Tân Quy Đông rồi qua xã Tân Khánh Đông, chỉ thấy bạt ngàn hoa là hoa. 


Nổi tiếng ở đất này phải kể đến vườn hồng Tư Tôn – người đã được nhà văn Sơn Nam khi còn sống gọi là “một pho tượng văn minh miệt vườn bằng xương bằng thịt”. Ông Tư Tôn tên thật là Dương Hữu Tài, sinh năm 1926. Một người dân ở đây kể, ông Tư Tôn là một trong những người đầu tiên có công biến vùng đất này là vùng đất của hoa. Ngay từ năm 1958, ông đã nhập từ Pháp về 100 giống hồng. Đến năm 1960, vườn hồng Tư Tôn đã nổi tiếng là một thiên đường dành cho nam thanh nữ tú đến thưởng ngoạn miễn phí. Ông Tư Tôn mất năm 2005 nhưng làng hoa Tân Quy Đông đã nổi tiếng khắp trong và ngoài nước, thu hút rất nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ, học sinh đến thưởng lãm, chụp hình.

Làng hoa xinh đẹp này được sông Tiền cung cấp phù sa màu mỡ lại quanh năm ngập tràn nắng gió nên bốn mùa trăm hoa đua nở. Ở đây hoa được trồng trong những giỏ tre đặt trên giàn cao, phía dưới là nước từ rạch chảy vào, người trồng hoa dùng ngay nước sông rạch để tưới hoa. Người dân nơi đây hình thành thói quen này vì đến mùa nước nổi phải làm giàn cho hoa vào chậu, giỏ để đưa lên cao chống ngập úng, lâu dần họ quen và làm như thế suốt quanh năm. Bởi vậy, họ thường lội nước hoặc chèo thuyền đi chăm sóc, thu hoạch thay vì đi lại trên mặt đất. Điều này đã tạo nên nét đặc trưng không thể tìm thấy ở những vùng hoa khác.

 

Đến với làng hoa nổi tiếng này, bạn sẽ có cảm nhận bốn mùa đều là xuân của hơn 2.000 chủng loại với đủ các sắc màu rực rỡ và hương thơm quyến rũ. Đặc biệt nơi đây còn lưu giữ được khoảng 50 giống hoa hồng với đầy đủ màu sắc và hương thơm quý phái. Có thể kể đến hoa hồng nhung đỏ thắm, hồng Grada tím sen, hồng Cleopatre hồng phấn, hồng Elizabeth phớt hồng, hồng Masserlle màu trắng, hồng Confidence vàng hột gà, hồng Maccasa màu cam…

Không chỉ có các nàng hồng kiêu sa, diễm lệ, du khách còn tìm thấy ở đây các loại lan, thược dược, tú cầu, hoa dâm bụt vàng, tím, đỏ, cúc kim, mãn đình hồng, mai chiếu thủy, mai vàng, cau bình rượu… Các loại cây, hoa đẹp cũng từ các nơi tụ hội về đây khoe sắc như tùng Nhật, vạn thọ Pháp… khiến bức tranh của làng hoa Sa Đéc thêm phong phú đa dạng. Ở Sa Đéc, cúc mâm xôi cũng chính là một đặc sản. Những chậu cúc vun đầy đúng như tên gọi, vàng rực màu nắng theo bước chân du khách tỏa đến mọi miền, mang hương xuân đến với biết bao gia đình.

Năm nay, những loại hoa được đánh giá là “hàng độc” như lily, dạ yến thảo và cát tường có vẻ đang lên ngôi. Lily là sản phẩm sau 4 năm nỗ lực, mày mò, nghiên cứu thử nghiệm của anh Trần Văn Phương, ở khóm Tân Mỹ, phường Tân Quy Đông. Anh được xem là người đầu tiên trồng được thứ hoa này trong chậu.  Hiện vườn nhà anh Phương có lily với 6 màu đỏ, cam, hồng, vàng, xanh, trắng. 

Tại ấp Khánh Hoà, Tân Khánh Đông, ông giáo Trần Văn Tiếp cũng chọn “độc chiêu” cho mình là hoa hương thảo. Đây là loại hoa họ tùng, tên gọi là Rosemary, cây giống như cây tùng nhưng lại có hoa màu tím, trổ bông đúng vào dịp Tết, có mùi hương đặc biệt, vừa có mùi gừng, lại thoang thoảng hương sả, thêm cả mùi khuynh diệp, ngửi rất sảng khoái. Đây là thứ cây do ông Tiếp mua về từ Úc, bỏ ra 3 năm nghiên cứu, tốn đến 500 triệu đồng để tìm cách nhân giống nhưng không thành công, đến khi chán, quăng bỏ đi thì cây lại gặp điều kiện phát triển tốt, thế là ông tìm ra bí quyết nhân giống. Dịp Tết Ất Mùi này ông đưa ra thị trường khoảng 2.000 cây.

Tỉnh Đồng Tháp đã có nghị quyết xây dựng Sa Đéc trở thành một thành phố hoa. Đây là điều kiện để Sa Đéc vừa phát triển dịch vụ buôn bán vừa phát triển du lịch, thương mại. Tỉnh Đồng Tháp cũng có chương trình hợp tác với chính phủ Hà Lan để hỗ trợ, nâng cao chất lượng hoa. Tương lai tới đây, hoa Sa Đéc sẽ được xuất khẩu sang châu Âu theo đúng quy trình, chất lượng của Hà Lan. Lúc đó, người Việt sẽ càng được tự hào vì tên mình đã có trên bản đồ hoa thế giới.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Khám phá chùa Dơi – địa điểm du lịch hấp dẫn tại Sóc Trăng

Chùa Dơi còn được gọi dưới một tên gọi khác là chùa Mã Tộc. Đây là một trong những ngôi chùa lâu năm nhất tại tỉnh Sóc Trăng, thuộc khóm 9, phường 3, thành phố Sóc Trăng, cách trung tâm thành phố khoảng 3km về hướng Đông Nam.

 

Nơi đây là địa điểm trú ngụ của rất nhiều loài dơi to lớn, số lượng ước tính lên đến hàng triệu con. Điểm đặc biệt này cũng chính là lý giải cho nguồn gốc tên gọi của chùa đồng thời tạo nên nét độc đáo, chuyên biệt hấp dẫn mọi du khách đến tham quan.


Là một trong những ngôi chùa của đồng bào Khmer, chùa Dơi mang kiến trúc vô cùng độc đáo và đặc sắc. Theo lời kể của các già làng, Chùa đã trải qua 19 đời Đại Đức, được xây dựng cách đây 400 năm tại tỉnh Sóc Trăng. Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu. Kiến trúc chùa Dơi cũng giống như bao kiến trúc Chùa Khmer khác ở Đồng bằng sông Cửu Long. Chùa gồm ba công trình kiến trúc chính là chánh điện, sala và nhà thờ cố lục cả Thạch Chia – người có công trong việc trùng tu lại ngôi chùa.


Đi dạo trong khuôn viên chùa, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những tán cây cổ thụ xanh mướt với những tán lá trải dài, rợp bóng mát. Đây chính là nơi sinh sống của những con dơi to lớn với đủ chủng loại đặc biệt. Lạ kỳ thay, dơi ở đây không bao giờ ăn và phá hại trái cây trong khu vực chùa. Hằng ngày, chúng treo mình lủng lẳng trên các nhánh cây trong khuôn viên chùa như những chùm quả nặng trĩu níu giữ ánh nhìn của mọi du khách. Không gian gần gũi, thanh tịnh chỉ có tiếng cây lá xào xạc và thỉnh thoảng xen vào những âm thanh của gió, tiếng kêu của những chú dơi con… Tất cả tạo thành một bức tranh thiên nhiên phong phú và sống động.

 

Ngay từ cổng vào, du khách không khỏi choáng ngợp trước màu vàng rực, óng bao phủ gần như toàn bộ ngôi chùa. Cổng chùa được trang trí một cách cầu kỳ và tính tế với các hoạ tiết, hoa văn hình cánh sen và hoa cà ri cách điệu. Đi sâu trong đó là ngôi chính điện – công trình kiến trúc tiêu biểu trong quần thể kiến trúc “Chùa Dơi”. Ngôi chính điện được xây dựng từ năm 1569 bằng gỗ, trên mái được lợp lá dừa nước. Đặc biệt, vào đợt trùng tu năm 1960, ngôi chính điện đã được thay đổi toàn bộ chất liệu, bê tông đã thay thế gỗ, mái ngói thay lá dừa nước. Mặt bằng chính điện hình chữ nhật trải dài theo hướng Đông Tây. Cửa chính quay ra hướng đông. Phần mái chính điện là một kết cấu đặc biệt, gồm 4 hệ thống mái chồng lên nhau được trang trí hình tượng con rồng ở các góc. Hình tượng rồng của người Khmer khác với người Việt, đầu rồng có sừng uốn lượn, mảnh mai, thân rồng theo mô típ của loài cá Poon – Co, nên rồng không có chân, trên lưng giương những đao mác nhọn, cong về phía đuôi, hình tượng rồng được bố trí theo chiều dài đòn dong. Mái tiếp giáp với cột trang trí hình tượng chim Cay – No, thể hiện sức mạnh như chống đỡ cả bầu trời và che chở cho con người ở trần gian. Bên trong chánh điện có tượng Phật sơn son thiếp vàng, cao khoảng 2m, trên bệ thờ cao khoảng 1,5m được đắp nổi nhiều hoa văn hình cánh sen. Ngoài tượng Phật lớn còn có nhiều tượng Phật nhỏ khác.


Trên bệ thờ được làm bằng gỗ sơn son thiếp vàng, trang trí hoa văn hình chim muông, hoa lá giống như hoa văn tại các đình, chùa truyền thống khác của người Việt. Đặc biệt phía dưới bệ thờ ở hai bên tượng Phật có hai họa tiết hình con dơi đối xứng nhau. Trần chính điện được trang trí bằng những mảng tranh sơn dầu hình tiên nữ đang múa trên bầu trời, làm tăng thêm phần sinh động và trang nghiêm cho nội thất.


Đối diện với ngôi chính điện về hướng Tây là dãy nhà Sa La, phòng của sư trụ trì, phòng khách và rải rác xung quanh ngôi chính điện là những tháp đựng cốt tro người chết, mỗi tháp mang dáng kiểu khác nhau. Qua đó, toàn bộ quần thể kiến trúc chùa Dơi hiện lên một cách hài hoà, làm chúng ta liên tưởng đó là cả một rừng hoa văn với những bố cục đối xứng, gọn gàng, những đường nét uyển chuyển đầy ấn tượng… Với những công trình kiến trúc độc đáo và khác biệt, Chùa Dơi đã được công nhận là di tích nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 1999. Chùa chính là tác phẩm của sự kết hợp hài hoà giữa thiên nhiên, văn hoá và cuộc sống đời thường, là một trong những công trình kiến trúc nghệ thuật tuyệt vời nhất được tạo ra từ tinh thần lao động cần cù và sáng tạo qua đôi bàn tay khéo léo của người Khmer. Đây sẽ là một điểm đến hấp dẫn đối với nhưng ai yêu thích du lịch tâm linh và thích khám phá.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

TIN MỚI NHẤT