Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Rùng mình trước giường ngủ treo mình trên vách núi

Những du khách ưa thích mạo hiểm chắc hẳn sẽ thích thú với những chiếc giường đặc biệt này.

Rùng mình trước giường ngủ treo mình trên vách núi

Loại hình giường ngủ trên vách đá tại khu vực dãy núi Andes ở Peru có tên Skylodge, được treo ở độ cao 122m so với mặt đất.

Những chiếc giường có kích thước 24x8 được làm từ chất liệu polycarbonate và nhôm.

Những chiếc giường có kích thước 24×8 được làm từ chất liệu polycarbonate và nhôm.

Công ty du lịch Natura Viva là đơn vị tổ chức tour nói trên cho khách du lịch ưa thích mạo hiểm.

Công ty du lịch Natura Viva là đơn vị tổ chức tour nói trên cho khách du lịch ưa thích mạo hiểm.

Công ty du lịch Natura Viva là đơn vị tổ chức tour nói trên cho khách du lịch ưa thích mạo hiểm.

Chênh vênh trên vách núi, khách có thể bao quát toàn bộ khung cảnh hùng vĩ của thung lũng Sacred Valley nổi tiếng.

Khách được ngắm những ngôi làng nhỏ cùng những cung đường tử thần phía dưới.

Khách được ngắm những ngôi làng nhỏ cùng những cung đường tử thần phía dưới.

Khách được ngắm những ngôi làng nhỏ cùng những cung đường tử thần phía dưới.

Khách du lịch sẽ phải trả tiền cho dịch vụ trong những chiếc giường độc đáo này và trèo trên những bậc thang được gắn vào vách đá để đến được địa điểm lý tưởng.

Một chiếc giường ngủ con nhộng trên vách núi dãy Andes.

Một chiếc giường ngủ con nhộng trên vách núi dãy Andes.

Ngoài ra, nếu không thích ngắm cảnh từ những chiếc giường trên vách núi.

Ngoài ra, nếu không thích ngắm cảnh từ những chiếc giường trên vách núi.

Ngoài ra, nếu không thích ngắm cảnh từ những chiếc giường trên vách núi.

Khách du lịch có thể đu mình trên dây cáp, đu mình ngắm khung cảnh kỳ vỹ của nơi đây với giá 300 USD.

Theo Long Hy
Dân Việt

Mọi thông tin, ý kiến đóng góp cho chuyên mục Du lịch, quý độc giả có thể gửi đến ban Văn hóa – Du lịch báo điện tử Dân trí theo địa chỉ email dulich@dantri.com.vn . Xin trân trọng cảm ơn!

Mọi thông tin, ý kiến đóng góp cho chuyên mục Du lịch, quý độc giả có thể gửi đến ban Văn hóa – Du lịch báo điện tử Dân trí theo địa chỉ email dulich@dantri.com.vn . Xin trân trọng cảm ơn!

Nguồn: DANTRI.COM.VN

Khám phá khu dự trữ sinh quyển Langbiang

Là khu dự trữ sinh quyển thứ 9 được Unesco công nhận tại Việt Nam, khu dự trữ sinh quyển Lang Biang thực sự là điểm đến hấp dẫn, đặc biệt với những ai yêu  thích thiên nhiên.

 

Khu dự trữ sinh quyển thế giới Lang Biang, có diện tích 275.439 ha, cách thành phố Đà Lạt khoảng 12 km về phía bắc, được đặt tên theo tên ngọn núi Lang Biang, nơi có câu chuyện tình lãng mạn giữa chàng Lang và nàng Biang – cư dân thiểu số K’Ho bản địa sinh sống lâu đời.


Địa giới được Unesco công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới bao gồm một rừng nguyên sinh rộng lớn với vùng lõi là Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà. Hiện nay, tại  Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà có tới 1.923 loài thực vật, trong đó có những loài đặc biệt quý hiếm như: Thông hai lá dẹt – loài thực vật được thế giới ghi nhận chỉ có ở Bidoup – Núi Bà; Pơ mu; Thông đỏ; Thông 5 lá Ðà Lạt. Riêng, họ Lan có tới 297 loài – được coi là thủ phủ hoa Lan của Việt Nam.


Về động vật tính riêng khu vực vùng lõi là Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà cũng đã có 422 loài, với nhiều loài những loài quý hiếm như: Sói lửa, bò tót, gấu ngựa, báo lửa, vượn đen má vàng, chà vá chân đen…Không chỉ có vậy, vườn quốc gia còn là một trong 221 vùng chim đặc hữu của thế giới. Các nhà khoa học đã ghi nhận, khu vực này có 154 loài động thực vật nằm trong Sách đỏ Việt Nam và 153 loài có tên trong Sách đỏ thế giới. Cơ quan bảo vệ động vật hoang dã Thế giới, đã xác định nơi đây thuộc diện ưu tiên bảo tồn số một trong dãy núi Nam Trường Sơn của Việt Nam.

 

Mặc dù có sự đa dạng sinh học lớn như vậy nhưng điều khiến khách du lịch, đặc biệt là những người yêu thích du lịch khám phá và mạo hiểm thích nhất lại là hai đỉnh núi cao tại đây. Đỉnh cao nhất là Bidoup với độ cao 2.287 mét và Núi Bà cao 2.167 mét. Nếu không phải là dân leo núi chuyên nghiệp sẽ không thể chinh phục hai đỉnh núi này. Thường thì để lên được đến đỉnh núi, phải mất 2 ngày vì vậy muốn chinh phục thiên nhiên cần có sức lực và sự chuẩn bị vô cùng chu đáo. Đường đi cheo leo, gập gềnh rất vất vả, vì thế mỗi đoàn thám hiểm, du lịch luôn luôn phải có người dẫn đường.


Vất vả, khó khăn là vậy nhưng với những ai đã chinh phục được ngọn núi này sẽ cảm thấy sức lực bỏ ra thật không lãng phí. Trên đỉnh Bidoup, mây trắng vây quanh, cả một khoảng trời trong xanh, bát ngát hiện ra trước mắt.  Tiếp túc đi khoảng 9km đường rừng nguyên sinh với toàn gai góc, đá sỏi, du khách sẽ đến được với cay  Pơmu cổ thục có chu vi lên tới 9 người ôm. Nếu như rừng Cúc Phương (Ninh Bình) tự hào với cây chò ngàn năm tuổi thì Bidoup cũng không thua kém với cây Pơmu 1.305 năm tuổi đã được các nhà khoa học đại học Columbia Hoa Kỳ công nhận là “di sản”. Ngắm thân cây có chu vi 13,5m và chiều cao 40m, bất kỳ ai cũng đều ngỡ ngàng trước “di sản” đang hiện diện ngay giữa núi rừng quê hương.


Nếu không phải là dân leo núi, dân phượt chuyên nghiệp, du khách sẽ vẫn vô cùng yêu thích thiên nhiên tại khu dự trữ sinh quyển thế giới này. Những cánh rừng nguyên sinh xanh ngát, vút tầm mắt. Hệ động thực vật vô cùng đa dạng và cảnh sắc thiên nhiên với núi và suối xen kẽ như tranh vẽ. Bên cạnh đó, hơn 8.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây góp phần không nhỏ tạo ra bản sắc văn hóa riêng càng khiến khách du lịch thích thú.


Cùng với 8 khu dự trữ sinh quyển đã được Unesco công nhận trước đó gồm: Rừng ngập mặn Cần Giờ; Vườn quốc gia Cát Tiên; Quần đảo Cát Bà; Châu thổ sông Hồng; Biển đảo Kiên Giang; Miền Tây Nghệ An; Mũi Cà Mau; Cù Lao Chàm…Khu dữ trữ sinh quyển Lang Biang đã cho thế giới thấy được sự đa dạng về địa chất, địa mạo cũng như hệ sinh thái phong phú trên mảnh đất hình chữ S.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Ăn phở ở xứ Triệu voi

Ai đã từng du lịch sang Lào sẽ không khỏi ngạc nhiên khi thấy các quán bán phở (và các món ăn tương tự như phở) gần như có mặt ở khắp nơi trên đất bạn.

Người Lào ưa thích và có thể ăn phở vào bất kỳ bữa ăn nào trong ngày. Du khách nước ngoài đến Lào cũng vậy.
 
Nếu có dịp thực hiện một chuyến đi dọc dài đất nước Triệu voi, từ Pakse ở Nam Lào đến Vientiane rồi lên Louang Prabang, Sam Nua ở Bắc Lào, bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên khi bắt gặp những quán bán phở Việt hay các món ăn dạng phở trên cung đường dài vài trăm cây số.
 
Chưa ai rõ và cũng chưa có nghiên cứu nào về lai lịch của món phở ở Lào song hiển nhiên nó được du nhập sang đất này từ quê hương của phở: Việt Nam. Như bất kỳ món ăn nào khác được du nhập từ nơi khác đến một xứ sở xa lạ, hẳn là phở Việt phải trải qua giai đoạn tự thích nghi và có thể biến đổi ít nhiều để phù hợp với các điều kiện đặc thù ở nơi nó mới “nhập cư”.

Du khách phương Tây ăn phở Việt trên đất Lào

Du khách phương Tây ăn phở Việt trên đất Lào
Điều đó có thể thấy ở khá nhiều món ăn Gô-loa khi du nhập vào Việt Nam vào thời Pháp thuộc, điển hình là món bánh mì thịt mà nay đã trở thành một thương hiệu ẩm thực Việt tại nước ngoài.
 
Phở ở Lào cũng vậy. Dù công thức chế biến món phở ở Lào không thay đổi là bao so với phở ở “chính quốc”, song đã có những “cải biên” – nhất là sự thêm thắt nhiều loại thực vật, rau xanh vào tô phở.
 
Chẳng hạn du khách Việt sang Lào muốn ăn phở sẽ ngạc nhiên khi thấy có vài miếng bắp cải, vài lát cà chua trong tô phở bò hoặc gà. Trong đĩa rau sống ăn kèm, bên cạnh giá sống và húng quế lại có vài khúc đậu đũa sống, vài lá rau thơm hơi lạ miệng với người Việt.
 
Và thay vì nước mắm thì trên bàn nhiều quán phở ở Lào có một loại nước xốt – thường được chế biến từ cà chua và đậu phộng – dùng để chấm rau hoặc để nêm thêm vào tô phở, đáp ứng khẩu vị của người bản xứ.
 
Ai thích ăn cay thì sẽ hài lòng bởi người Lào thường ăn phở với đủ loại ớt: ớt khô, ớt bột, ớt ngâm giấm và ớt sa tế.
 

Phở Zap ở thủ đô Lào luôn đông khách

Phở Zap ở thủ đô Lào luôn đông khách

Du khách Việt tại quán Phở Zap

Du khách Việt tại quán Phở Zap

Chuẩn bị sẵn tô phở cho khách ở quán Zap

Chuẩn bị sẵn tô phở cho khách ở quán Zap

Thủ đô Vientiane là địa phương có nhiều quán phở nhất ở Lào, bởi đó là nơi có đông du khách người Việt, có nhiều cơ sở kinh doanh của người Việt sinh sống ở Lào, trong đó có không ít gia đình đã lập nghiệp trên đất bạn qua nhiều thế hệ.
 
Quán phở nổi tiếng nhất Vientiane là Phở Zap trên đường Phai Nam. Do có nhiều khách sạn mà chủ là người Việt – cũng là nơi lưu trú của du khách Việt sang Lào – cách Phở Zap không xa nên quán lúc nào cũng đông khách Việt.
 
Phở Zap ra đời từ năm 1958, chủ quán là người gốc Quảng Bình sang Lào lập nghiệp hơn nửa thế kỷ trước.
 
Phở Zap được coi là gìn giữ được tinh hoa phở Việt, đặc biệt là nước dùng được ninh với xương bò, quế, hồi thơm phức. Chỉ cần bước vào quán là người Việt nhận ra ngay hương vị quê nhà thoang thoảng trong không khí.
 
Một tô loại nhỏ ở đây có giá 17.000 kip (tương đương 50.000 đồng Việt Nam), tô cỡ trung là 20.000 kip, tô lớn 25.000 kip. Phở Zap bán từ sáng sớm cho tới 3 giờ chiều thì nghỉ.
 
Ngoài phở, du khách đến Lào có thể trải nghiệm những món ăn tương tự như phở (phải chăng là những “biến tấu” trên cái nền của phở Việt?).
 
Chẳng hạn như món khao piak: khác biệt rõ nét nhất giữa phở và khao piak là ở sợi bánh – nếu bánh phở mềm và mỏng thì sợi khao piak dày hơn, chắc hơn, gần giống với sợi bánh canh hay sợi mì udon của Nhật.
 
Khao piak được nấu với thịt heo hoặc thịt gia cầm, chất lượng cũng như hình thức có khác nhau ở từng địa phương. Tô khao piak của quán Nam Phou Coffee được coi là ngon nhất ở Vientiane, thực khách có thể chọn khao piak với thịt heo chiên giòn hoặc với thịt gà hay thịt vịt.
 
Khao piak có thể ăn kèm với rau muống, rau cải xanh và không thể thiếu gừng cùng hành phi. Giá khao piak rẻ hơn phở: tô nhỏ chỉ 13.000 kip, tô lớn 16.000 kip. Người ta còn ăn kèm quẩy chiên giòn với khao piak, mỗi chiếc quẩy giá 1.000 kip.

Tô khao piak xem ra không khác tô phở gà Việt Nam là bao

Tô khao piak xem ra không khác tô phở gà Việt Nam là bao
Ở vùng Thượng Lào, khao soi là món ăn rất phổ biến (người Thái ở các tỉnh giáp biên giới với Lào cũng ăn khao soi). Sợi khao soi cũng làm bằng bột gạo tựa như bánh phở. Tô khao soi có thịt heo chặt miếng to, cà chua, giá, hành lá, tương hột, ớt, tỏi, rau mùi…
 
Món khao soi cũng có những cách chế biến và gia giảm nguyên liệu, gia vị khác nhau tùy theo nhà hàng. Người Lào vùng cao ăn rất cay để chống lại cái lạnh, do vậy tô khao soi còn được họ nêm thêm rất nhiều ớt bột cũng nhướt sa tế cay xé lưỡi.
 
Trên các diễn đàn du lịch online, du khách phương Tây đến Lào đã được cảnh báo chớ có dại mà thử món ớt sa tế cay “nổ trời” ấy! Còn bạn, nếu có dịp đến với vùng Thượng Lào bạn có gan trải nghiệm nó không?
 

Khao soi ở vùng Thượng Lào

Khao soi ở vùng Thượng Lào
Ngoài ra, bên Lào còn có món khao pun, mee ka tee và nhiều món ăn khác có dạng như phở Việt hoặc là những biến tấu của phở Việt.
 
Song theo trang mạng ẩm thực và du lịch nomadicEats.com thì “phở Việt Nam (Vietnamese noodle soup) vẫn là vua của mọi món ăn dạng noodle soup”. Đó là một chân lý không bàn cãi!
 
Theo Thu Thảo
Doanh nhân Sài Gòn

Nguồn: DANTRI.COM.VN

Thanh Hóa – vùng đất giàu tiềm năng du lịch

(TITC) – Nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ, cách Thủ đô Hà Nội 150km về phía nam, Thanh Hóa là vùng đất có tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, đặc sắc. Những năm gần đây, du lịch Thanh Hóa ngày càng phát triển, trở thành điểm đến thân thiện và hấp dẫn du khách. 

Với đường bờ biển dài 102km, Thanh Hóa có nhiều bãi tắm đẹp như Sầm Sơn (TX. Sầm Sơn), Hải Tiến (huyện Hoằng Hóa), Hải Hòa (huyện Tĩnh Gia), trong đó tiêu biểu nhất phải kể đến biển Sầm Sơn nằm cách TP. Thanh Hóa 16km về phía đông nam. Đây là một trong những khu du lịch nghỉ mát nổi tiếng của Việt Nam, được người Pháp khai thác từ những năm đầu thế kỷ 20. Chạy dài gần 6km từ cửa Lạch Hới đến chân núi Trường Lệ, Sầm Sơn có bãi cát thoai thoải, sóng mạnh, nước trong xanh và nồng độ muối vừa phải, rất tốt cho sức khoẻ con người. Ngoài bãi tắm đẹp, thiên nhiên còn ưu ái ban tặng cho Sầm Sơn nhiều danh lam thắng cảnh độc đáo như hòn Trống Mái, đền Ðộc Cước, núi Cô Tiên…

Bên cạnh tài nguyên biển, Thanh Hóa còn có tài nguyên rừng phong phú với các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, nơi lưu trữ và bảo vệ nguồn gen động thực vật quý hiếm. Điển hình trong số đó là vườn quốc gia Bến En thuộc huyện Như Xuân và  Như Thanh, cách thành phố Thanh Hóa 36km về phía tây nam. Với tổng diện tích gần 15.000ha, Bến En không chỉ bao gồm quần thể núi, rừng, sông, hồ đa dạng, đặc biệt là hồ sông Mực rộng gần 4.000ha với hơn 20 hòn đảo lớn nhỏ mà còn có nhiều hang động nhũ đá lung linh huyền ảo. Vườn quốc gia Bến En là nơi cư trú của 1.460 loài động vật và 1.417 loài thực vật, trong đó có nhiều loài quý hiếm như: sói đỏ, phượng hoàng đất, gấu ngựa, báo lửa…; lim xanh, lát hoa, chò chỉ, trai lý, bù hương… Đây cũng là địa điểm lý tưởng để du khách tham gia các hoạt động dã ngoại, cắm trại, câu cá, bắt cua… hay thăm các bản làng của người Mường, Thái.

Ai đã từng nghe câu chuyện về đàn cá thần ở mảnh đất xứ Thanh chắc hẳn đều muốn một lần đến thăm hang cá Cẩm Lương thuộc xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, cách thành phố Thanh Hóa gần 80km về phía tây bắc. Ở đây có đàn cá giốc (thuộc loại cá chép) đông tới hàng ngàn con bơi lội tung tăng dưới lòng con suối dài khoảng 150m, rộng 3m. Người dân địa phương coi đây là đàn cá “thần”, không bao giờ đánh bắt mà tự nguyện bảo vệ đàn cá với mong ước cuộc sống ấm no, sung túc.

Thanh Hóa cũng được biết đến như là vùng đất “địa linh nhân kiệt” với bề dày lịch sử hào hùng và truyền thống văn hóa đặc sắc. Nhiều di tích lịch sử, văn hóa đã được Thanh Hóa bảo tồn, phát triển, đáp ứng nhu cầu tham quan, tín ngưỡng của nhân dân địa phương và du khách. Nhắc đến xứ Thanh, du khách gần xa thường nghĩ ngay đến địa danh Hàm Rồng – sông Mã (phường Hàm Rồng, TP. Thanh Hóa), nơi ghi dấu nhiều chiến công hiển hách của quân và dân Thanh Hóa trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Núi Hàm Rồng là mỏm núi cuối cùng của dãy núi chạy dài bên hữu ngạn sông Mã từ làng Dương Xá (xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa) đến chân cầu Hàm Rồng. Núi có dáng hình uyển chuyển như 9 thân rồng nhấp nhô uốn lượn, bao quanh những đồi thông ngút ngàn và thung lũng thơ mộng. Hiện nay, Hàm Rồng đang được quy hoạch xây dựng thành khu du lịch văn hóa với các công trình tiêu biểu như: làng cổ Đông Sơn, núi Cánh Tiên, núi Ngọc, động Tiên Sơn, hang Mắt Rồng, đền thờ Trần Khát Chân, đền thờ Lê Uy, chùa Tăng Phúc…

Được xây dựng trên vùng đất Lam Sơn, quê hương của anh hùng dân tộc Lê Lợi, nơi phát tích cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, thành điện Lam Kinh nay thuộc thị trấn Lam Sơn và xã Xuân Lam (huyện Thọ Xuân), xã Kiên Thọ (huyện Ngọc Lặc), cách thành phố Thanh Hóa hơn 50km về phía tây. Hiện nay, khu di tích lịch sử Lam Kinh có tổng diện tích bảo tồn khoảng 200ha với các công trình kiến trúc tiêu biểu như: chính điện Lam Kinh, Thái miếu, sân rồng, các lăng mộ Vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông, Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Giao… Ngoài ra, tại khu di tích còn lưu giữ nhiều di vật, cổ vật có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học.

Đến Thanh Hóa, du khách đừng nên bỏ qua dịp tham quan Di sản Văn hóa thế giới Thành nhà Hồ nằm giữa vùng đồng bằng lưu vực sông Mã và sông Bưởi, thuộc địa phận huyện Vĩnh Lộc, cách thành phố Thanh Hóa khoảng 45km về hướng tây. Với tổng diện tích 5.234ha, Thành nhà Hồ bao gồm các công trình kiến trúc chính là thành Nội, Hào thành, La thành và Đàn tế Nam Giao. Đây là kinh đô của nước Việt Nam từ năm 1398 đến 1407 do Hồ Quý Ly – lúc bấy giờ là tể tướng dưới triều đại nhà Trần – cho xây dựng vào năm 1397. Nhờ kỹ thuật dựng thành độc đáo và sử dụng các nguyên vật liệu bền vững, đặc biệt là các khối đá lớn nên cảnh quan và quy mô kiến trúc Thành nhà Hồ theo suốt chiều dài lịch sử vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn cả trên mặt đất và trong lòng đất. Đây được coi là tòa thành đá duy nhất còn lại ở Đông Nam Á và là một trong số rất ít còn lại trên thế giới.

Với tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng, Thanh Hóa có điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – lịch sử…, từng bước khẳng định vị thế của du lịch xứ Thanh trong khu vực Bắc Trung bộ và cả nước. 

Phạm Phương

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đến Quảng Ninh khám phá sự hấp dẫn trong vẻ đẹp hoang sơ của đảo Cô Tô

Từ đầu mùa Hè đến nay, khách du lịch đến với đảo Cô Tô (Quảng Ninh) ngày một nhiều. Mỗi ngày, Cô Tô đón khoảng vài trăm khách, thậm chí có khi lên tới gần 2.000 người.

Theo chị Nguyễn Thị Hảo, chủ khách sạn Hùng Phương, muốn có phòng nghỉ ở Cô Tô vào những ngày cuối tuần thì phải đặt trước cả tháng. Vào thời điểm này khi các khách sạn, nhà nghỉ hết phòng cho thuê, khách du lịch thường lựa chọn hình thức “homestay” – ở trọ nhà dân.

Cô Tô có nhiều tiềm năng và thế mạnh với vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn của những bãi biển dài, nước trong, bờ thoải gắn với cảnh quan của hệ sinh thái rừng nguyên sinh nhiệt đới được bảo tồn gần như nguyên vẹn, hoang sơ.

Cô Tô cũng là vùng biển được coi là đa dạng sinh học hàng đầu Việt Nam với sự có mặt nhiều hệ sinh thái điển hình của vùng biển nhiệt đới, trong đó có hệ sinh thái rạn san hô tập trung. Đây cũng là địa bàn phong phú về hải sản với nhiều loại có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, bào ngư, hải sâm, cầu gai, cua, ghẹ, cá song, mú, mực, san hô sừng…

Ngoài vẻ đẹp tự nhiên, nguồn lợi hải sản sẵn có, thì du lịch Cô Tô đi lên từ con số 0. Trước năm 2013, lượng khách du lịch đến với đảo còn khiêm tốn. Từ cuối năm 2012, tỉnh Quảng Ninh quyết định đầu tư hơn 1.000 tỷ đồng để kéo điện lưới quốc gia ra đảo và hơn 70 tỷ đồng xây dựng hồ chứa nước Trường Xuân dung tích khoảng 170.000m3 nước đủ cấp nước sinh hoạt cho các hộ dân trên đảo.

Hệ thống thông tin liên lạc được hoàn thiện, giờ đây Cô Tô đã có sóng wifi miễn phí ở trung tâm huyện để phục vụ nhu cầu của cả người dân và khách du lịch.

Chung sức cùng chính quyền, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn cũng vào cuộc xây dựng Cô Tô trở thành điểm du lịch nổi tiếng như ngày nay.

Các doanh nghiệp vận tải, đầu tư đóng mới nhiều tàu chở khách cao cấp, an toàn và thuận lợi nhằm rút ngắn thời gian đi lại giữa đất liền vào đảo tiền tiêu này chỉ chừng 1,5 giờ đồng hồ.

Nhiều nhà hàng, khách sạn bắt đầu được xây mới với chất lượng dịch vụ ngày một nâng cao. Người dân cũng chủ động đầu tư sửa chữa nhà ở, mua sắm lắp đặt các trang thiết bị phòng trọ để đón khách du lịch. Đến nay, trên đảo có 78 nhà nghỉ, khách sạn, 40 điểm nhà dân đón khách với tổng số 1.080 phòng ở và có 28 nhà hàng, 31 quán ăn phục vụ khách du lịch.

Mô hình du lịch đầu tiên trên đảo này đó là mô hình “homestay”, đưa khách du lịch về ở trọ nhà dân. Tiếp đó, các sản phẩm du lịch dần được hình thành như “Một ngày làm ngư dân”, “Hành trình vì biển đảo quê hương”.

Mùa du lịch 2014, Cô Tô tiếp tục mở tuyến du lịch đảo Thanh Lân, đảo Trần.

Mùa Hè 2015, các doanh nghiệp làm kinh doanh du lịch lại phát triển thêm nhiều sản phẩm du lịch mới, lạ, hấp dẫn du khách như: Lặn biển ngắm san hô, công viên nước, môtô nước ở bãi tắm Hồng Vàn.

Từ khi có điện, giá phòng ở các khách sạn giảm gần một nửa, hiện nay giá phòng khách sạn ở trên đảo chỉ dao động từ 300.000 – 400.000 đồng/phòng, vào những ngày cuối tuần giá tăng cao hơn chừng 100.000/mỗi phòng.

Công tác quản lý các dịch vụ trên đảo được quan tâm, các nhà hàng, khách sạn đều niêm yết công khai giá bán, khiến khách du lịch hài lòng.

Du lịch phát triển, doanh thu du lịch cũng từ đó tăng dần qua từng năm, nếu năm 2013, Cô Tô đón 60.000 lượt khách (tăng gấp 10 lần so với năm 2011), doanh thu chừng 70 tỷ đồng, sang năm 2014 lượng khách đến với đảo là gần 80.000 lượt, doanh thu đạt 90 tỷ đồng.

Riêng trong 6 tháng đầu năm 2015, Cô Tô đã thu hút 80.000 lượt khách du lịch, bằng cả năm trước đó.

Ông Hoàng Bá Nam, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Cô Tô, cho biết sự phát triển này đã và đang khẳng định vai trò quan trọng của lĩnh vực du lịch trong cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện đảo Cô Tô. Thời gian tới, Cô Tô sẽ tập trung thực hiện tốt việc xử lý, bảo vệ môi trường để du lịch biển đảo phát triển bền vững trong tương lai./.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Cao lầu – “hồn” phố Hội

Bên cạnh những chiếc đèn lồng rực sắc màu, Cao lầu được ví như “hồn” phố cổ Hội An (Quảng Nam), bởi lẽ chỉ đến đây người ta mới cảm nhận trọn vẹn hương vị đặc trưng, tinh tế của món ăn này.

 

Người địa phương tự hào rằng, để làm nên danh tiếng Cao lầu phố cổ, ngoài tay nghề khéo léo của người thợ nấu, còn là ba thành phần chỉ có ở Hội An- tro củi cù lao Chàm, nước giếng Bá Lễ và rau sống Trà Quế.


Người ta dễ nhầm Mì Quảng với Cao lầu vì nhiều nét tương đồng, nhưng Cao lầu có sợi mì vàng ươm, chế biến công phu hơn. Sợi Cao lầu được chế biến từ gạo thơm. Gạo được ngâm với nước tro lấy từ loại củi ở cù lao Chàm; sau đó xay gạo với nước giếng lấy từ giếng cổ Bá Lễ (gần khu vào phố cổ). Nước giếng Bá Lễ rất trong, ngọt, mát lạnh, không nhiễm mặn, phèn. Vì vậy mà sợi cao lầu có màu vàng rất đẹp, dẻo, mềm.

 

Nước dùng của Cao lầu được chế biến khá đặc biệt, từ thịt xá xíu. Để làm thịt xá xíu, người ta chọn thịt đùi heo nạc, ướp chút gia vị, ngũ vị hương… rồi chiên vàng hai mặt trên lửa nhỏ, sau đó đổ nước ướp thịt vào sên cho đến khi thịt thấm, nước sệt lại nhưng chưa cạn hẳn. Khi ăn, bày sợi cao lầu bên dưới, thịt xá xíu bên trên, điểm thêm vài miếng tóp mỡ, hoặc da heo hay miếng cao lầu khô thái vuông chiên giòn, thêm chút đậu phộng rang giã nhỏ. Nước sốt xá xíu được rưới lên, mùi thơm kích thích vị giác. Vị giòn rụm của miếng cao lầu chiên làm món ăn thêm hấp dẫn.

 

Cao lầu có vị béo, để tránh ngán người ta thường ăn kèm giá đỗ, rau sống, nhất là rau từ làng Trà Quế – rau sạch, tươi ngon, mùi thơm riêng biệt của từng loại rau không lẫn vào đâu được. Ai thích ăn đậm đà có thể thêm chút nước mắm, dằm tí ớt xanh đặc sản của miền Trung, giòn, ngọt, cay dịu… khiến món ăn đủ hương vị, sắc màu.

 

Cao lầu thường được bày bán trong các quán ăn hai tầng, trên có treo đèn lồng xanh đỏ, thực khách ngồi ăn, vừa thưởng thức tinh hoa ẩm thực của phố cổ, vừa thưởng ngoạn không khí cổ kính nơi đây. Ngày nay, để thưởng thức món cao lầu chính hiệu Hội An, du khách nên tìm về phố cổ, ghé quán Cao lầu bà Bé, đường Trần Phú, hoặc quán cao lầu bà Thanh, đường Trần Cao Vân./.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Dấu ấn Thành cổ!

Trải qua những năm tháng hào hùng của dân tộc, Thành cổ Quảng Trị là minh chứng rõ nét nhất cho sự đấu tranh kiên cường và lịch sử vẻ vang của quân dân Việt Nam, là không gian thiêng liêng tái hiện miền ký ức hào hùng và bi tráng của một thời hoa lửa.
 

 

Thành cổ Quảng Trị còn được gọi dưới tên Cổ thành Quảng Trị, nằm tọa lạc ở trung tâm thị xã Quảng Trị. Theo tài liệu lịch sử, thành cổ được xây dựng từ những năm đầu thế kỷ IXX dưới đời vua Gia Long, trên một khu đất cao với sông Thạch Hãn ở phía Tây, sông Vĩnh Định ở phía Bắc và vùng dân cư đồng bằng Triệu Hải ở Đông và Nam. Thành được xây theo lối kiến trúc thành trì Việt Nam với tường thành bao quanh hình vuông được làm từ gạch nung cỡ lớn; kết dính bằng vôi, mật mía và một số phụ gia khác trong dân gian. Thành trổ bốn cửa chính Đông Tây Nam Bắc. Hiện nay, dù không còn những dấu ấn xưa, nhưng Thành cổ vẫn là vùng đất thiêng liêng của người dân Quảng Trị nói riêng và Việt Nam nói chung.


Dưới thời Nhà Nguyễn, Thành cổ Quảng Trị là trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự của tỉnh Quảng Trị, là thành lũy quân sự bảo vệ kinh đô Huế. Sau trận chiến năm 1972, Thành cổ gần như bị phá hủy; chỉ còn sót lại một cửa hướng Đông tương đối nguyên hình và vài đoạn tường thành cùng giao thông hào bên ngoài chi chít vết bom đạn.


Nhắc đến di tích đặc biệt này, không thể không nhắc tới đến cuộc tấn công chiến lược của Mỹ năm 1972 và trận chiến 81 ngày đêm lịch sử cùng sự chiến đấu anh dũng của chiến sĩ. Mỗi mét vuông đất tại Thành Cổ Quảng Trị là một mét máu và sự hy sinh của các anh đã trở thành bất tử. Trong 81 ngày đêm, từ 28/6 – 16/9/1972, Thành Cổ Quảng Trị đã phải hứng chịu 328.000 tấn bom đạn. Cuộc chiến đấu giành giật giữa ta và địch diễn ra vô cùng ác liệt, suốt cả ngày lẫn đêm. Thành Cổ Quảng Trị là tiêu điểm ác liệt nhất và cũng là nơi thể hiện tinh thần anh dũng hy sinh, chiến đấu phi thường của quân và dân ta. Trong trận đánh ấy, 14.000 cán bộ, chiến sĩ và đồng bào hy sinh với vô vàn câu chuyện về lòng dũng cảm, sự hy sinh quên mình của rất nhiều chiến sĩ tuổi đôi mươi.

 

Khép lại trang lịch sử hào hùng của dân tộc, Thành cổ ngày nay vẫn sừng sững, uy nghi đúng như tinh thần đấu tranh kiên cường của các chiến sĩ năm xưa ấy. Đến nơi đây, cả không gian hiện lên với vẻ trầm mặc, vừa bi tráng vừa bao phủ nét u buồn. Mặc dù bị bom đạn phá hủy, song Thành cổ Quảng Trị vẫn là một trong những số rất ít thành cổ Việt Nam còn giữ được cấu trúc thành lũy rõ ràng với hệ thống tường thành, cổng thành, hào nước. Trong Thành cổ bây giờ được phủ một màu xanh mướt của cỏ cùng hàng ngàn cây dừa cao vút. Khuôn viên Thành cổ có tháp chuông lớn được đặt tại quảng trường nối liền Thành cổ và bờ sông Thạch Hãn. Nơi đây thường xuyên vang lên những hồi chuông ngân dài với ý nghĩa cầu mong linh hồn các liệt sĩ đã hy sinh được siêu thoát.

 

Đặc biệt, du khách khi tới thành cổ không thể không chiêm ngưỡng tượng đài tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh trong trận đánh năm xưa. Đài tưởng niệm trung tâm được xây theo thuyết âm dương siêu thoát. Dưới chân Đài tưởng niệm được xây theo hình bát giác tượng trưng cho bát quái, có bốn lối đi lên Đài tưởng niệm tượng trưng cho tứ tượng.Hầm của Đài tưởng niệm được coi là nơi linh thiêng nhất của Thành cổ, vì nơi đây được ví như bên trong lòng một ngôi mộ tập thể và trung tâm của hai trục đường chính giao nhau. Tại trung tâm trưng bày hành trang của một người lính với đôi dép cao su, ba lô, khẩu súng AK, bi đông nước, mũ tai bèo, xẻng, phao. Hành trang của người lính đơn sơ giản dị, chỉ từng ấy thôi mà các bác, các chú, các anh đã làm nên lịch sử.


Đến thăm Thành cổ, du khách sẽ được nghe kể lại những câu chuyện huyền thoại về Di tích Thành cổ. Nhất là trong những dịp lễ hay ngày kỷ niệm, trong lòng du khách sẽ lưu lại dấu ấn rất sâu đậm. Du khách sẽ cảm thấy như đang có một sợi dây vô hình kết nối hiện tại với quá khứ, hiểu thêm những nét đẹp trong tình cảm và đời sống tâm linh của người dân sống quanh Thành cổ.

 

“Mùa hè đỏ lửa” đi qua
Tên “Thành Cổ” hát bài ca “Thành Đồng”
Nghẹn ngào vực nước dòng sông
Nghe như máu chảy ròng ròng kẽ tay!
Nhẹ chân Thành Cổ hôm nay
Đừng làm song dậy tháng ngày đau thương(*)

 

Đã hơn 40 năm trôi qua nhưng những ký ức về cuộc chiến tranh ác liệt năm xưa vẫn như vừa hôm qua. Không chỉ với những người lớn tuổi, lớp trẻ hôm nay cũng sẽ mãi mãi không quên bản hùng ca bi tráng của bao lớp chiến sĩ đã viết nên nơi Thành Cổ.

(*) Về thành cổ Quảng Trị – Nguyễn Thu Mát

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Hồ bơi kỳ diệu nhất của tự nhiên làm tan chảy những ngày oi nóng

(Dân trí) – Giữa những ngày hè oi ả, một trong cách giải nhiệt hữu hiệu là đắm mình trong những hồ nước mát rượi. Một hồ nước thuộc đảo núi lửa Samoa thu hút hàng ngàn lượt khách ghé thăm bởi màu xanh kỳ diệu, huyền ảo với vẻ đẹp hiếm có.

To Sua Ocean Trench được ví như vẻ đẹp hoàn hảo được tạo hóa dành tặng cho con người. Mang ý nghĩa “hố lớn”, hồ nước tự nhiên nằm trên hòn đảo núi lửa Samoa, thuộc làng Lotofaga, bờ Nam đảo Upolu, Samoa. Khi núi lửa phun trào khiến đất bị sụt xuống, tạo thành hố sâu tới gần 30m, vô hình chung tạo nên bể bơi tự nhiên tuyệt mỹ nhất hành tinh.

Vẻ đẹp tự nhiên hoang sơ giữa không gian rộng lớn của hồ nước khiến du khách mê say.

Vẻ đẹp tự nhiên hoang sơ giữa không gian rộng lớn của hồ nước khiến du khách mê say.


Hố sụt sau đợt phun trào của núi lửa đã tạo nên hồ nước nằm giữa thiên nhiên khoáng đạt.

Hố sụt sau đợt phun trào của núi lửa đã tạo nên hồ nước nằm giữa thiên nhiên khoáng đạt.


Xung quanh hồ được bao phủ bởi thảm thực vật xanh tốt quanh năm với màu nước xanh tự nhiên, trong vắt như ngọc bích. Những mạch nước ngầm nằm sâu trong lòng đất nối hồ với biển khiến nước ở đây không bao giờ cạn. Cảnh quan xung quanh To Sua Ocean Trench khiến những vị khách có dịp tới thăm mê mẩn ngắm nhìn.

 Du khách men theo chiếc thang vững chắc làm điểm tựa để xuống hồ.

 Du khách men theo chiếc thang vững chắc làm điểm tựa để xuống hồ.


Đây là điểm tham quan thú vị vào dịp hè.

Đây là điểm tham quan thú vị vào dịp hè.


Nhiều lời khen ngợi “có cánh” của du khách dành tặng hồ nước tự nhiên được đăng tải trên TripAdvisor. Du khách có nickname Craig02128 chia sẻ: “Đây là trải nghiệm kỳ diệu khi đến với To Sua Ocean Trench. Nếu bạn là tay bơi cừ có thể thử sức thám hiểm trong các dòng kênh ngầm để ra biển.” Trong khi đó, Georgie P, một khách du lịch đến từ Brisbane, Australia khẳng định: “Đây là hồ bơi tự nhiên độc đáo nhất tôi từng đặt chân tới. Nơi này thực sự rất yên bình.”

Nước hồ xanh, trong vắt màu ngọc bích.

Nước hồ xanh, trong vắt màu ngọc bích.

Nước hồ xanh, trong vắt màu ngọc bích.

hảm thực vật phong phú xung quanh khu vực núi lửa.

hảm thực vật phong phú xung quanh khu vực núi lửa.

Hoàng Hà
Tổng hợp

Nguồn: DANTRI.COM.VN

“Rùng mình” bước chân trong ngôi đền Chuột kỳ lạ

(Dân trí) – Là một trong những ngôi đền kỳ lạ nhất trên thế giới, đền Chuột tại Ấn Độ vào 7h sáng, đố bạn dám bước chân vào ngôi đền nhung nhúc chuột trong sân.

Rùng mình bước chân trong ngôi đền Chuột kỳ lạ

Đền Karni Mata, nơi vẫn được gọi với cái tên Đền Chuột cách thủ đô New Dehli của Ấn Độ nửa tiếng đi ô tô.

Rùng mình bước chân trong ngôi đền Chuột kỳ lạ

Vẻ bề ngoài của ngôi đền không khác mấy các ngôi đền nổi tiếng khác trên khắp đất Ấn, nhưng ngay từ nét chạm chổ bên ngoài, nếu tinh ý, bạn có thể nhận ra có rất nhiều hình ảnh chuột được khắc trên cánh cổng vào đền.

Rùng mình bước chân trong ngôi đền Chuột kỳ lạ

 Đền Chuột miễn phí cho khách vào tham quan, nhưng bắt buộc bạn phải bỏ giày phía bên ngoài, và đây chính là nỗi kinh hoàng dành cho những vị khách sợ chuột.

Rùng mình bước chân trong ngôi đền Chuột kỳ lạ

 Nghe nói vào tầm 7h sáng khi chuột ra ngoài kiếm ăn, cả sân đen đặc bởi gần 20.000 chú chuột nhung nhúc. Chỉ nhìn thấy thôi, bạn đã không dám bước chân vào đền.

Rùng mình bước chân trong ngôi đền Chuột kỳ lạ

Những chiếc chậu lớn đựng sữa bâu đầy đặc chuột. Chuột ở khắp mọi nơi, sưởi nắng trên bậc thềm, ngủ vắt vẻo trên các thanh sắt, nép mình bên hành lang cẩm thạch, trên bậu rửa tay, trên cửa ra vào…

Rùng mình bước chân trong ngôi đền Chuột kỳ lạ

 Nếu ai được một chú chuột chạy qua chân hay nhìn thấy chú chuột trắng, nghĩa là bạn sẽ được ban phước lành. Các chú chuột trắng được coi là những vị thần đặc biệt, là hiện thân của nữ thần Karni Mata và dòng họ của bà.

 Thậm chí nếu bạn ăn đồ ăn của chuột, điều này sẽ còn tốt hơn nữa.

 Thậm chí nếu bạn ăn đồ ăn của chuột, điều này sẽ còn tốt hơn nữa.

Ai cũng cố gắng chụp cho mình một tấm ảnh với những chú chuột, dù có người sợ đến phát khiếp.

Ai cũng cố gắng chụp cho mình một tấm ảnh với những chú chuột, dù có người sợ đến phát khiếp.

Ai cũng cố gắng chụp cho mình một tấm ảnh với những chú chuột, dù có người sợ đến phát khiếp.

Đền Karni Mat, được xây dựng vào những năm 1900 bởi Maharaja Ganga Singh, và nhận được sự bảo vệ của nữ thần Durga. Truyền thuyết kể rằng trong những năm 1400, khi một đứa trẻ con của một thành viên trong thị tộc của nữ thần Durga chết, bà đã cầu xin thần Yama – vị thần chết đưa đứa trẻ trở lại sự sống nhưng tiếc rằng vị thần này đã từ chối. Bà vẫn tiếp tục van xin và cuối cùng thần chết cũng đồng ý, nhưng chỉ có một cách để cậu bé tái sinh trở lại là đầu thai sống kiếp chuột, bà đã thỏa thuận với thần Yama rằng tất cả các thành viên đã chết trong thị tộc của bà sẽ sống kiếp chuột cho đến khi họ được đầu thai thành người.

Ai cũng cố gắng chụp cho mình một tấm ảnh với những chú chuột, dù có người sợ đến phát khiếp.

Nếu một ai đó vô tình giẫm chết một con chuột khi bước vào ngôi đền thì họ phải mua lại một con rắn vàng hay một con chuột bạc đặt trong đền thờ để chuộc lỗi với con chuột đã chết.

Bài và ảnh: Lam Linh

Nguồn: DANTRI.COM.VN

Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam – Nơi lưu giữ bản sắc cộng đồng

Thái Nguyên được xem là vùng đất “thủ đô gió ngàn” trong thời kỳ kháng chiến. Đến với nơi đây, chúng ta có cơ hội tìm về cội nguồn của loài người với Mái đá Ngườm Thần Sa, với núi Đuổm hoang sơ kỳ vĩ, đắm mình trong câu chuyện tình lãng mạn của nàng Công, chàng Cốc… Và một trong những địa chỉ không thể bỏ qua chính là Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam – nơi lưu giữ bản sắc cộng đồng dân tộc Việt.

 

Cách Thủ đô Hà Nội khoảng 80km, Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam nằm ở số 1 Đội Cấn, thành phố Thái Nguyên. Bảo tàng được thành lập năm 1960 với tên gọi ban đầu là Bảo tàng Việt Bắc. Năm 1990 đổi tên thành Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam và trở thành 1 trong 7 Bảo tàng quốc gia Việt Nam. 


Được xây dựng trên một khuôn viên rộng đến 40.000m² cạnh dòng sông Cầu thơ mộng, tại điểm giao nhau của các đường Đội Cấn, Hoàng Văn Thụ, Bắc Kạn và Cách mạng tháng Tám, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam là một công trình kiến trúc quy mô, tầm cỡ mang nhiều tính nghệ thuật, đã đạt giải thưởng Hồ Chí Minh về công trình kiến trúc đợt 1 năm 2006.


Trải qua hơn 50 năm hình thành và phát triển với hàng trăm cuộc nghiên cứu, sưu tầm, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam đang quản lý gần 30.000 tài liệu, hiện vật có giá trị, là cơ sở để hoàn thiện hệ thống trưng bày trong nhà cũng như ngoài trời, phục vụ tốt nhu cầu tham quan của công chúng.


Bước vào khuôn viên Bảo tàng, chúng ta sẽ dừng chân tại Gian long trọng. Nơi đây giới thiệu những nét khái quát về văn hoá Việt Nam. Ở tiền sảnh lớn, chúng ta được ngắm nhìn chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu cuả dân tộc Việt Nam. Người ôm ba em bé, đại diện cho ba miền Bắc – Trung – Nam. Bức tượng thể hiện tình yêu thương vô bờ bến của Bác với các cháu thiếu nhi ba miền, đồng thời thể hiện chính sách thống nhất, đa dạng và đoàn kết của dân tộc Việt Nam.
Sau tượng Bác Hồ là bức phù điêu lớn được tạc bằng gỗ mô phỏng các lễ hội tiêu biểu truyền thống các tộc người từ Bắc vào Nam: Múa khèn trong phiên chợ vùng cao, múa sư tử trong hội xuân vùng thung lũng, lễ hội Ka Tê của đồng bào Chăm, lễ hội đâm trâu của đồng bào Tây Nguyên và hội đua ghe ngo của đồng bào Nam Bộ.

 

Tiếp đó, du khách sẽ lần lượt tham quan hệ thống 5 phòng trưng bày gồm: Trưng bày và giới thiệu về văn hoá các tộc người nhóm ngôn ngữ Việt – Mường (Kinh, Mường, Thổ, Chứt). Đồng bào sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước và đánh cá. Trong đời sống tâm linh có tục thờ cùng ông bà tổ tiên và các nghề thủ công truyền thống phát triển ở trình độ cao; Trưng bày và giới thiệu các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày – Thái (Tày, Thái, Nùng, Giáy, Lào, Lự, Sán Chay, Bố Y). Đồng bào sống chủ yếu ở nhà sàn, trồng lúa trên các thung lũng, ven sông suối, với hệ thống dẫn nước bằng mương, phai, lái, lín, cọn nước. Các nghề thủ công rèn, dệt vải khá phát triển với các sản phẩm đẹp và tinh tế. Đặc biệt họ có đời sống tinh thần phong phú với nhiều điệu xoè và bài hát then độc đáo; Trưng bày và giới thiệu văn hoá các tộc người thuộc 3 nhóm ngôn ngữ Hmông – Dao (Hmông, Dao, Pà Thẻn), Ka Đai (La Chí, La Ha, Cờ Lao, Pu Péo) và Tạng Miến (Lô Lô, Phù Lá, Hà Nhì, La Hủ, Cống, Si La). Đồng bào giỏi canh tác trên nương rẫy và ruộng bậc thang. Chợ phiên là nơi thể hiện rõ bản sắc văn hoá vùng cao, văn hoá ẩm thực, văn hoá mặc, nghệ thuật thêu thùa, in hoa, biểu diễn âm nhạc, múa khèn…

 

Trưng bày giới thiệu văn hoá 21 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me (Ba Na, Brâu, Bru – Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ Ho, Cơ Tu, Gié Triêng, H’rê, Kháng, Khơ Me, Khơ Mú, Mảng, Xinh Mun, Mnông, Ơ Đu, Mạ, Rơ Măm, Tà Ôi, Xơ Đăng, Xtiêng). Đồng bào cư trú rải rác ở khu vực Tây Bắc, Miền -Tây Nguyên và Nam Bộ. Đời sống kinh tế chủ yếu canh tác nương rẫy, những nương rẫy có độ cao tương đối lớn, đồng canh tác theo phương pháp chọc lỗ tra hạt. Kiến trúc nhà rông Tây Nguyên, chùa của dân tộc Khơ Me; nghề thủ công đan lát và lễ hội văn hoá cộng đồng là những nét văn hoá độc đáo của cư dân Môn –  Khơ Me; Trưng bày và giới thiệu văn hoá các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo (Chăm, Gia Rai, Ê Đê, Raglai, Chu Ru) và ngôn ngữ Hán (Hoa, Ngái, Sán Dìu). Các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo cư trú tập trung trên các cao nguyên đất đỏ Tây Nguyên và dải đất ven biển Miền Trung; Văn hoá Nam Đảo mang đậm nét mẫu hệ. Các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Hán cư trú trên cả ba vùng Bắc, Trung, Nam; Văn hoá Hán mang đậm nét phụ hệ.

Mỗi phòng trưng bày với hệ thống tài liệu và hiện vật phong phú, đa đạng đã tái hiện một cách chân thực cảnh quan cư trú và đời sống văn hoá 54 dân tộc anh em, từ cực bắc Hà Giang đến vùng đất mũi Cà Mau với những hình ảnh gần gũi như: các phiên chợ vùng cao, cảnh săn bắt voi rừng, hình ảnh chọc lỗ bỏ hạt của người dân tộc phía bắc, lễ hội cồng chiêng của người Ê đê, Ba na ở Tây nguyên; sông nước của đồng bào Nam bộ; các nghề thủ công truyền thống, các hình thức sinh hoạt văn hóa trong trang phục, âm nhạc, ẩm thực, lễ hội trong sản xuất lao động….

 

Điểm nhấn đặc biệt của Bảo tàng là hệ thống trưng bày ngoài trời với không gian 6 vùng văn hoá: Núi cao phía Bắc, Thung lũng, Trung du – Bắc Bộ, Miền Trung – Ven biển, Trường Sơn – Tây Nguyên, và Đồng Bằng Nam Bộ sẽ mang lại những trải nghiệm hết sức thú vị cho du khách. Mỗi vùng văn hoá đều có không gian tổ chức lễ hội, có cấu trúc cảnh quan mang tính đặc trưng vùng miền và một ngôi nhà cụ thể, mang tính nguyên gốc làm điểm nhấn giới thiệu các giá trị văn hoá Việt Nam tới du khách. Tại đây, du khách cũng dễ dàng tận mắt nhìn thấy nhiều dụng cụ vốn rất quen thuộc từ xưa của dân tộc như cái cối xay lúa đan bằng nan tre, cái cày bằng cây thô sơ, những mái nhà lợp tranh, vách đất…


Có thể nói Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Thái Nguyên như “mái nhà chung” của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên dải đất hình chữ S. Khách đến tham quan sẽ có dịp chiêm ngưỡng một bức tranh toàn cảnh, tìm hiểu về cội nguồn, truyền thống, văn hóa các dân tộc trên khắp mọi miền đất nước. Cùng với Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc, Căn cứ cách mạng an toàn khu ATK, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam đã, đang và sẽ là điểm đến hấp dẫn cho mọi du khách trong và ngoài nước.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

TIN MỚI NHẤT