(Dân trí) – Ngủ đêm trên du thuyền, thưởng thức hải sản tươi ngon, câu mực, chèo thuyền kayak… là những trải nghiệm không thể bỏ qua nếu bạn muốn có một kỳ nghỉ trọn vẹn ở Hạ Long.





Nguồn: DANTRI.COM.VN
Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất





Nguồn: DANTRI.COM.VN

|
Mọi thông tin, ý kiến đóng góp cho chuyên mục Du lịch, quý độc giả có thể gửi đến ban Văn hóa – Du lịch báo điện tử Dân trí theo địa chỉ email dulich@dantri.com.vn . Xin trân trọng cảm ơn! |
Nguồn: DANTRI.COM.VN










Nguồn: DANTRI.COM.VN
Tuyến 24: Pimlico-Hampstead Heath
Điểm đầu được đặt ở khu vực toàn những ngôi nhà từ thời Nhiếp chính ở phố Pimlico, tuyến đường xe buýt này sử dụng loại xe buýt 2 tầng Routemaster nổi tiếng của nhà thiết kế Thomas Heatherwick. Do đó, bản thân chính tuyến 24 cũng là một nơi xứng đáng được ngắm nhìn. Tuyến xe buýt này chạy cắt qua công viên St James, với khung cảnh bên ngoài là cung điện Buckingham. Sau đó, xe đi đến Quảng trường Quốc hội, tạo cơ hội cho du khách ngắm được vẻ đẹp tuyệt vời của Tháp đồng hồ nổi tiếng Big Ben và Nhà Quốc hội Anh trước khi di chuyển đến Quảng trường Trafalgar và tượng đài Nelson, với khung cảnh phía sau là Thư viện Quốc gia. Trên tuyến xe buýt này, hành khách có thể nhìn thấy chợ Camden từ trên cao, leo lên Hampstead, đi qua Nhà mái vòm (nơi trình diễn duy nhất ở Anh của The Doors vào năm 1968). Tuyến 24 kết thúc tại Bệnh viện Hoàng gia, trên cùng phía nam của Hampstead Heath – một nơi thích hợp để đi bộ.

Tuyến 11: Liverpool Street-Fulham
Tuyến đường này cho phép hành khách quan sát những điểm tham quan tuyệt vời nhất của thủ đô London chỉ với giá vé di chuyển rất rẻ. Chỉ cần bước lên xe tại bến Liverpool, đi qua thành phố và hướng tới Ngân hàng Anh, bạn có thể chiêm ngưỡng Nhà thờ St Paul, Fleet Street- nơi đặt toà soạn cũ của nhiều tờ báo nước Anh, và nhà Somerset – ngôi nhà của Tuần lễ Thời trang London. Những điểm nối bật khác của tuyến đường này bao gồm Toà án Tư pháp Hoàng gia Anh, ga Charing Cross, toà nhà The Strand, Whitehall, Quảng trường Victoria, Sloane và đường King’s Road.

Tuyến RV1: Tower Hill-Aldwych
RV1 là một tuyến xe buýt tuyệt vời để ngắm nhìn sông Thames và khung cảnh xung quanh của dòng song này. Tuyến này bắt đầu tại Tower Hill, vượt qua tháp London trước khi qua Cầu tháp London (nếu may mắn, du khách còn có thể nhìn thấy cây cầu mở ra để cho thuyền đi qua – một trải nghiệm vô cùng ấn tượng). Xe buýt vượt qua Toà thị chính London, nhà hát nổi tiếng Royal Festival Hall và nhà ga Waterloo trước khi qua sông lần thứ 2 trên cầu Waterloo, với khung cảnh xung quanh là khu trung tâm South Bank và đường chân trời London. Tuyến RV1 kết thúc tại Aldwych, quê hương của nhà hát cùng tên, Waldorf Hilton, Bush House và các công trình trước đây của hãng thông tấn BBC World.

Tuyến 73: Victoria-Islington
Hãy cố gắng có được một chỗ ngồi tại tầng trên cùng cho chuyến đi khởi hành từ ga Victoria này. Hành trình bắt đầu với tuyến Park Lane, sau đó, hành khách có thể ngắm nhìn khách sạn Dorchester với công viên Hyde Park tuyệt vời ở phía bên tay trái. Ngoài ra, hành khách còn có thể tận hưởng sự hối hả và nhộn nhịp của đường Oxford mà không phải chen lấn trong đám đông. Sau khi rẽ ở Tottenham Court Road, hành khách có thể nhìn thấy thư viện Anh và ga St Pancras. Và sau khi xuống ga Angel Station, hãy nhâm nhi một ly cà phê ở Islington Green.

Tuyến 388: Blackfriars-Stratford
Chuyến xe buýt qua khu vực đông London khởi hành tại Blackfriars, đi qua thành phố và tới Shoreditch, hướng đến Brick Lane, nơi có nhiều cửa hàng cổ điển và nhà hàng Ấn Độ. Sau khi qua Bethnal Green, tuyến xe cắt qua công viên Victoria và hướng tới Hackney Wick. Di chuyển về phía công viên, ngồi trên xem bạn có thể nhìn thấy từ xa Trung tâm thể thao dưới nước Zaha Hadid Aquatics Centre và Accelor-Mittal Orbit, rồi sẽ đến điểm cuối của cuộc hành trình tại công viên Queen Elizabeth II Olympic Park.

|
Mọi thông tin, ý kiến đóng góp cho chuyên mục Du lịch, quý độc giả có thể gửi đến ban Văn hóa – Du lịch báo điện tử Dân trí theo địa chỉ email dulich@dantri.com.vn . Xin trân trọng |
Nguồn: DANTRI.COM.VN

Đường vào Sơn Vĩ mùa này không còn vất vả như trước. Từ thị trấn Mèo Vạc, trên con đường độc đạo dài hơn 40km như một sợi dây uốn mình bên lưng núi, du khách có thể thưởng ngoạn nhiều cảnh đẹp khi những dãy núi đá giăng lũy, giăng thành được phủ màn sương mỏng, mây trắng luồn qua khe núi. Mùa này, màu xám của đá núi được thay bằng màu xanh của nương ngô ngút tầm mắt, hòa quyện cùng mây trời như vẽ lên bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ. Đến với Sơn Vĩ – vùng đất từ buổi sơ khai đến nay mang một nền văn hóa, lịch sử lâu đời, đậm bản sắc độc đáo, du khách có thể cảm nhận rõ nét về đất và người nơi biên cương. Dù sinh ra trên đá, cả cuộc đời gắn với đá nhưng với sức người, lòng kiên cường, đức cần cù chăm chỉ và lòng tự hào dân tộc, bà con nhân dân các dân tộc nơi đây đã khiến đá núi phải khuất phục. Giờ đây, cuộc sống đã có nhiều thay đổi, ấm no về trên các xóm làng. Đặc biệt, những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp và phiên chợ “phong lưu” vẫn còn vẹn nguyên. Chắc hẳn nhiều người biết đến “Chợ tình Khau Vai” nổi tiếng về huyền thoại tình yêu. Chợ “Phong lưu” Sơn Vĩ cũng mang nhiều nét tương đồng. Chợ “Phong lưu” được tổ chức sau “Chợ tình Khau Vai” đúng một ngày (28/3 âm lịch). Theo lý giải của người dân, khi nhà nhà đã trồng xong ngô, lúa cũng là lúc họ đi chơi chợ.
Chợ “Phong lưu” họp tại trung tâm xã Sơn Vĩ với các gian hàng bày bán trang phục dân tộc cùng một số sản phẩm địa phương. Bên những ngôi nhà đã ngả màu rêu phong, chắc hẳn ai cũng có cảm giác khác lạ khi ngồi bên nồi thắng cố nhấm nháp chút rượu ngô men lá, món ăn truyền thống của người dân nơi đây. Năm nay, địa phương lần đầu tiên quảng bá, giới thiệu đến du khách thập phương phiên chợ độc đáo này. Có lẽ sự cuốn hút và hấp dẫn của phiên chợ đến từ sự khác lạ, không giống với bất cứ phiên chợ thường nhật khác. Ở đây, du khách có dịp chứng kiến những nét văn hóa độc đáo của người Mông, Xuồng, Nùng, Tày, Giấy. Nếu “Chợ tình Khau Vai” hình thành từ câu chuyện tình huyền thoại, đầy nhân văn lay động lòng người thì chợ “Phong lưu” Sơn Vĩ cũng vậy. Phải chăng do địa hình ngăn sông cách núi nên các dân tộc Xuồng, Nùng, Tày, Giấy cùng sống trên một dải đất cũng có một phiên chợ như vậy?! Bởi phiên chợ này được tổ chức để người dân mua bán, trao đổi hàng hóa và để cho những người đã có vợ hoặc có chồng đi chợ tìm gặp lại người yêu cũ, người bạn mình thích, mình yêu ngày trước mà không lấy được nhau. Chỉ trong một ngày, họ dẫn nhau đi chơi chợ, mời nhau ăn uống, kể cho nhau nghe về cuộc sống gia đình. Đến khi tan chợ, họ lại chia tay nhau để về với gia đình và cầu mong cho người mình yêu hạnh phúc. Đối với các chàng trai, cô gái còn trẻ, chưa lập gia đình, phiên chợ trở thành nơi hò hẹn, tìm hiểu nhau. Có những đôi đã nên vợ nên chồng từ phiên chợ “Phong lưu” Sơn Vĩ.
Chiều về, mảnh đất biên cương Sơn Vĩ khiến lòng người thêm da diết. Khi bóng người dần thưa thớt, những người nông dân lại rảo bước vượt núi về nhà và đâu đó những cặp đôi tay nắm tay như không muốn chia xa. Bởi có thể phải một năm hoặc lâu hơn nữa mới được tái ngộ. Sơn Vĩ – xin hẹn ngày gặp lại…/.
Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Quê tôi không gần sông, cũng chẳng có đầm, phá, hồ lớn… mà chỉ có những cái ao làng. Theo như các bậc cao niên kể lại thì làng tôi vốn là vùng đất trũng nên khi lập làng, lập ấp, các thế hệ cha ông đã phải đào nhiều ao để lấy đất vực lên nền mà xây nhà, dựng cửa, kiến thiết đường dân sinh, các công trình phúc lợi công cộng… Chính vì lẽ đó nên đã hình thành rất nhiều ao với kích cỡ lớn, nhỏ khác nhau. Hầu như xóm nào cũng phải có dăm ba cái ao. Ao thường là sở hữu chung của làng, của xã, của xóm, dùng làm nơi các hộ sống ở xung quanh thả bèo hoa dâu, bèo Nhật Bản làm thức ăn chăn nuôi lợn. Cũng có hộ lại sở hữu ao riêng ngay tại mảnh đất nhà mình. Tuy nhiên, với những cái ao riêng đó thì chúng không được to, rộng bằng ao của xóm, của làng, mà chỉ cỡ một, vài trăm mét vuông là cùng.
Ao quê không chỉ nhiều tiện ích về kinh tế mà còn được ví như “con mắt của làng”, những “lá phổi xanh” điều hòa dưỡng khí cho môi trường sống của cư dân.
Với những đứa trẻ quê, như đã nói, thì ao quê chính là chốn thích thú để chúng tắm mát mỗi khi hè tới. Tuổi thơ tôi cũng có những năm tháng được đắm mình trong làn nước mát nơi ao Đình ngay đầu xóm. Ao Đình rộng lắm, rộng dễ đến vài mẫu mà đứng từ bờ bên này, chúng tôi chơi trò thi ném mảnh ngói xem ai ném xa nhất cũng không thể tới được bờ bên kia. Ao này chỉ được phép thả bèo một nửa và nửa còn lại bỏ trống cho cá có chỗ thở, vì vậy, bọn trẻ trong xóm trưa hè nào cũng nhào ra ao chọn chỗ nước thoáng, không có bèo đó để tắm, để bơi ì ùm. Một chiếc cầu ao 6 bậc gạch rộng hơn 5m được xây kiên cố để mọi người mang đồ ra rửa, mang quần áo, chăn, chiếu ra để giặt giũ. Ao khá sâu nhưng từ cầu ao ra thoai thoải, nên nếu đứa nào không biết bơi hoặc chưa bơi thạo có thể chỉ tắm men ven bờ mà không sợ chết đuối. Thế nhưng, thường là trẻ quê đứa nào cũng nhanh chóng biết bơi giỏi qua vài bữa tập theo nhau. Vì vậy mà tại cái ao Đình ấy, suốt những năm tháng tuổi thơ, tôi chưa từng phải chứng kiến một vụ chết đuối thương tâm nào cả. Tôi là đứa trẻ khá tinh nghịch, hiếu động nên chỉ theo mấy anh hàng xóm đi ra ao bơi có 3 bữa mà đã bơi thạo.
Năm vào cấp ba phải xa nhà và trọ học tại trường huyện xa xôi, mỗi tuần chỉ được về nhà ngày cuối tuần thôi, nhưng tôi vẫn không từ bỏ thú tắm ao mùa hè. Biết tôi về là mấy đứa bạn cùng trang lứa lại í ới gọi tôi ra ao Đình bơi buổi trưa. Tôi thích lắm vì cả tuần mới được hòa mình trong làn nước ao quê trong xanh, mát rượi cùng bè bạn xóm giềng nên vùng vẫy có khi tới vài tiếng đồng hồ. Có hôm, cả bọn còn vừa tắm, vừa mò ốc mang về luộc ăn với nhau, bởi ao làng rất nhiều ốc, chỉ mò một lúc có khi được tới lưng cái rổ con… Món ốc luộc dẫu thiếu gừng, thiếu sả, thiếu một số gia vị trong món nước chấm ốc vậy mà vẫn ngon tuyệt…
Ký ức tuổi thơ đã trở thành hoài niệm xa xăm trong tôi, nhưng hình ảnh của những chiếc ao quê, nhất là ao Đình đầu xóm nơi tôi sinh ra và lớn lên luôn hằn sâu biết bao kỷ niệm đẹp đẽ của những buổi trưa hè oi ả tắm táp, bơi lội thỏa thích. Chẳng riêng gì ao Đình, mà hết thảy những “con mắt của làng” đều đã không còn do đà đô thị hóa, người ta lấp đi hết để xây nhà, dựng cửa, để bán, để chia chác. Nhìn làng quê đổi mới với vóc dáng hiện đại, giàu có mà lòng tôi ít nhiều chộn rộn niềm vui, song cũng ẩn hiện chút buồn vì ký ức tuổi thơ về ao làng đã bị chôn vùi và chẳng bao giờ có thể tìm lại được nữa…
Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Ngược dòng lịch sử, Cô Tô với cái tên cổ là Núi Chàng, từ lâu đời đã là nơi cư trú của thuyền bè cư dân vùng Đông Bắc. Nơi này thực sự đông cư dân sinh sống từ năm 1832, khi Nguyễn Công Trứ với cương vị tổng đốc Hải An, vùng Hải Dương, Quảng An đã xin triều đình nhà Nguyễn cho thành lập làng Hướng Hóa cắt cử người cai quản. Trải qua thời Pháp thuộc, qua nhiều lần tách nhập vào tỉnh Quảng Ninh, đến năm 1994, huyện Cô Tô được thành lập.
Xuất phát từ cầu cảng Cái Rồng (Vân Đồn) sau khoảng 1h30 phút giữa biển khơi, những con tàu cao tốc trong ngày sẽ đưa du khách đến với đảo ngọc, đối diện với những con sóng lừng lững nơi cửa núi. Khu vực này do núi non thưa thớt trống trải lại ngã ba tiếp giáp với đại dương nên thường xuyên chịu ảnh hưởng của gió Nam gây sóng to gió lớn. Giữa đại dương bao la, những con tàu nhỏ bé cứ chồm lên lặn xuống trong sóng gió. Những con sóng bạc đầu ồ ạt bổ thẳng vào mũi thuyền. Rồi sóng gió cũng yếu dần, hai bên mạn thuyền chỉ còn những con sóng đùa nhau, miên man, vô tận. Từ xa đã dần thấy Cô Tô hiện ra giữa mặt biển lấp lánh nắng.
Có lẽ ấn tượng đầu tiên của bất kể ai đến Cô Tô là màu xanh nước biển và cái nắng “màu tinh khôi”- nét đẹp đã từng thử thách bút lực và tài hoa của bậc thầy ngôn từ Nguyễn Tuân. “Nắng soi vào người chiếu ánh trắng lên trên hàm răng. Nắng làm nổi gân cái buồm cánh dơi, nhuộm tươi lại lá buồm nâu cũ. Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết…Y như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người chài lưới…, vài chiếc nhạn mùa thu chao đi chao lại trên mâm bể, sáng dần lên cái chất bạc nén.”
Thiên nhiên Cô Tô hiền hòa, gần gũi, thân thiện với con người. Những bãi tắm chính là điểm nhấn lôi cuốn du khách khi đến với Cô Tô. Không chỉ có cát mịn màng, trắng tinh khôi, trải dài bên những con sóng mà những bãi tắm ở đây cùng với cát mịn còn có những bãi đá nữa. Có điều rất lạ, là đá ở đây không có phiến như ở trong đất liền mà trong tiếng ru ngàn năm của những con sóng, những viên đá đã được bào mòn rất bóng và mịn, đặt chân xuống, ta có cảm giác êm ái và rất thư thái dễ chịu.
Và nếu muốn tìm cảm giác lạc vào lòng đại dương mênh mông, du khách có thể đến bãi tắm có những dải san hô kỳ thú, được xếp hạng tầm cỡ Đông Nam Á. Hai trong số những bãi biển tuyệt đẹp của Cô Tô là bãi Vàn Chảy nằm ở phía Tây đảo, hoang vu với bờ biển uốn cong, bãi cát mịn, sạch sẽ và trắng tinh, sóng vừa đủ lớn để nô đùa thư giãn và bãi Hồng Vàn nằm ở phía Đông, nước lặng êm ả, lăn tăn như nước hồ do có đảo Thanh Lân trải dài nằm chắn gió từ ngoài biển thổi vào, bờ cát mềm mại với những thảm hoa muống biển tím ngắt.
Cư dân ở đây không nhiều nhưng rất hiếu khách. Họ mang trong mình cái chân chất, thật thà, tấm lòng nhiệt tình. Họ sẵn sàng đón bạn trên những chiếc xe ba bánh kiểu như Tuk Tuk của Thái Lan vậy. Họ dẫn bạn về nhà, chào đón bằng bữa cơm đầu tiên rất chu đáo. Có những món ăn dân dã đến không ngờ được khai thác tự nhiên ở bãi đá cạn hoặc cách đánh bắt rất thô sơ như bao đời nay. Một cái lưới được giăng ra, người dân cùng du khách dùng gậy tre đập mạnh xuống mặt nước để những chú cá lao vào lưới. Và rồi, trên ngọn lửa bập bùng cũng những hương vị ngọt ngào của biển cả, vị ngon ngọt mặn nồng của hải sản sẽ khiến thực khách mê đắm.
Đón bình minh trên đảo Cô Tô cũng là một điều háo hức không kém. Nhiều du khách có cái thú lên tận ngọn hải đăng Cô Tô để thấy những tia nắng đầu tiên he hé nụ cười chào đón. Cảm giác đứng trên bờ ngóng trông những con thuyền gỗ trĩu nặng tôm cá sau một đêm đánh bắt cũng là điều bất ngờ thú vị. Những con cá có hình thù kỳ lạ mà đôi khi chúng ta hiếm khi nhìn thấy, niềm vui chợt vỡ òa khi bỗng nhiên một chú cá quen thuộc quẫy mạnh, tươi rói…
Ngoài biển khơi mênh mông, Cô Tô còn giữ được cho mình một khoảng không gian xanh rộng lớn với hệ thực vật khá phong phú. Lượn quanh đảo bằng xe máy luôn là một trải nghiệm thú vị, chúng ta sẽ dễ dàng bắt gặp những cây thật to với biết bao chim muông luôn sẵn sàng ca hát. Đảo Cô Tô không lớn, nhưng đúng là một không gian thú vị cho những ai thích khám phá, ở đây có cả rừng cây với những con đường uốn lượn, những con suối nhỏ chảy quanh hay những tán lá rộng khắp như che hết nắng mặt trời … thậm chí đến những vườn hoa dại mênh mông bát ngát.
Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Nhìn lại quá khứ, sơn mài được phát triển bắt nguồn từ nghề sơn thủ công truyền thống của Việt Nam. Tranh sơn mài sử dụng các vật liệu truyền thống của nghề sơn như: sơn then, sơn cánh gián làm chất kết dính, cùng các loại son, bạc thếp, vàng thếp, vỏ trai….vẽ trên vóc màu đen. Tuy nhiên phải đến đầu thập niên 1930, lớp họa sĩ Việt Nam đầu tiên học tại trường Mỹ thuật Đông Dương đã tìm tòi và phát hiện thêm nhiều chất liệu đặc biệt như vỏ trứng, ốc, cật tre…họ đã tìm cách đưa những chất liệu này vào kỹ thuật mài và tạo nên một kỹ thuật sơn mài mới độc đáo, rồi từ đó sáng tác nên những bức tranh sơn mài thực sự giá trị. Thuật ngữ” tranh sơn mài” cũng xuất hiện từ đó.
Mặc dù tại một vài nước khu vực Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản…cũng có những sản phẩm sơn mài nhưng những đồ dùng hoặc vật dụng trang trí mỹ nghệ sơn mài đó hoàn toàn khác với tranh sơn mài của Việt Nam. Sự khác biệt đó nằm ở kỹ thuật sơn mài cũng như các vật liệu được sử dụng. Một đặc điểm khiến tranh sơn mài thêm hấp dẫn là để tạo nên một bức tranh sơn mài thì phải thực hiện theo cách rất trái ngược so với các loại tranh khác. Muốn lớp sơn vừa vẽ khô, tranh phải ủ trong tủ ủ kín gió và có độ ẩm cao. Muốn nhìn thấy được tranh lại phải mài mòn đi mới thấy hình.
Hầu hết các họa sĩ vẽ tranh sơn mài đều đồng ý răng: kỹ thuật vẽ sơn mài khó và có tính ngẫu nhiễn nên nhiều khi các họa sĩ dày dặn kinh nghiệp cũng bất ngờ trước tác phẩm của mình, bởi hiệu quả đạt được sau khi mài tranh thường khác nhau.
Ngày hôm nay, mỹ thuật Việt Nam tự hào vì đã có nghệ thuật sơn mài và nghệ thuật đó được thế giới ghi nhận. Có thể khẳng định kể từ khi ra đời, tranh sơn mài Việt Nam ngày càng trở nên nổi tiếng và được ưa chuộng. Nhiều tác phẩm trong thế kỷ XX đã trở thành kiệt tác, thành báu vật Quốc gia. Tranh sơn mài Việt Nam được bạn bè quốc tế săn lùng, tìm mua…trở thành một thể loại đắt giá tại thị trường tranh khu vực. Các tác phẩm như: Vườn xuân Trung Nam Bắc của Nguyễn Gia Trí; Xuân Hồ Gươm của Nguyễn Tư Nghiêm; Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ của Nguyễn Sáng….và nhiều tác phẩm, tác giả khác đã tạo dựng nên hình hài một sơn mài Việt Nam trong nền nghệ thuật hiện đại của thế giới…
Nguyễn Gia Trí – Vườn xuân Trung Nam Bắc
Tác giả, tác phẩm đầu tiên phải nói đến đó là Nguyễn Gia Trí với Vườn xuân Trung Nam Bắc. Danh họa Nguyễn Gia Trí là người đã có công nghiên cứu, tìm tòi để phối hợp lối in khắc với những phương thức sơn mài mới, đồng thời áp dụng kết hợp những nguyên tắc vẽ của phương Tây để tạo nên những kiệt tác của hội họa Việt Nam. Ông cũng là nhân vật kiệt xuất đầu tên trong danh sách Tứ kiệt của Mỹ thuật Việt Nam ( Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn). Năm 2012, ông được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh. “Nhất Trí” cái tên đã quá quen thuộc đến mức chói sáng kể từ lúc sinh thời. Cuộc đời hoạt động nghệ thuật của ông nhuốm màu huyền thoại bởi tài năng không thể chối cãi, không ai có thể phủ nhận. Ngay từ khi sinh thời tranh của ông đã vô cùng được ưa chuộng. Giới sưu tập tranh giành để có thể mua được tranh của ông. Nhiều người đặt mua ngay từ khi ông mới chỉ phác thảo tác phẩm. Nhưng là người rất khắt khe với nghề do đó ông không sáng tác nhiều. Những người trong nghề có biết ông đều nói rằng: ít khi nào ông thỏa mãn với một tác phẩm của mình, mỗi tác phẩm của ông đều dành nhiều thời gian và tâm huyết để làm đi làm lại cho đến khi nào ưng mới thôi. Các tác phẩm sơn mài hoàn thiện của ông có thể kể đến như: Chải tóc; Cảnh thiên thai; Thiếu nữ trong vườn; Thiếu nữa bên hoa phù dung; Vườn xuân; Bên Hồ Gươm; Chùa Thầy; và Vườn xuân Trung Nam Bắc…
“Vườn xuân Trung Nam Bắc” được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2013. Đây là tác phẩm có kích thước lớn 2 x 5,4 m, hiện kiệt tác này đang được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Hồ Chí Minh. Vườn xuân Trung Nam Bắc là tác phẩm cuối cùng và cũng là tác phẩm có thời gian hoàn thành lâu nhất của danh họa Nguyễn Gia Trí. Ông đã dành 20 năm cuộc đời mình để thai nghén từ ý tưởng cho đến khi hoàn tất kiệt tác khiến người xem phải say đắm (1969 – 1989).
Nguyễn Sáng – Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ
Tác giả, tác phẩm tiếp theo phải nhắc đến cũng là một nhân vật có những đóng góp lớn không chỉ cho nghệ thuật sơn mài mà còn cho cả nền mỹ thuật Việt Nam, đó là Nguyễn Sáng với Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ. Nguyễn Sáng cũng là nhân vật kiết xuất đứng đầu tiên trong danh sách Bộ tứ thứ 2 của Hội họa Việt Nam (Nhất Sáng, nhì Liên, tam Nghiêm, tứ Phái). Ông tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1942. Tranh của ông được thể hiện ở nhiều thể loại và thể loại nào cũng thành công, từ thể loại chiến tranh, chân dung cho đến các đề tài như phụ nữ, hoa, phong cảnh…Mặc dù là họa sĩ đa tài có thể sử dụng mọi chất liệu nhưng chất liệu mà ông ưa thích nhất chính là sơn mài. Ông đã từng làm cuộc cách tân đáng kể trong cách ứng dụng đưa sơn dầu và nhất là sơn mài vào các tác phẩm hội họa. Cùng với Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tư Nghiêm, ông được coi là cây đại thụ của sơn mài Việt Nam. Nếu như Nguyễn Gia Trí đưa sơn mài đến đỉnh cao của những cảnh thần tiên, thì Nguyễn Sáng đẩy sơn mài đến đỉnh cao với những hình ảnh rất đời thường, dung dị. Cũng chính ông là người bổ sung vào sơn mài những mảng màu như vàng, xanh, diệp lục để tạo thêm sự sinh động cho tác phẩm. Những tác phảm nổi tiếng của ông như: Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ; Hành quân đêm mưa; Tháp Phổ minh; Thiếu nữ bên hoa sen; Chọi trâu…
“Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ” có kich thước 112,3 x 180, được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2013 và hiện đang được lưu giữ, trưng bày tại Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam. Bức tranh miêu tả lại thời khắc hào hùng của những người chiến sĩ Điện Biên ngay tại chiến trường với 3 nhóm nhân vật chính và phụ. Nhóm nhân vật trung tâm gồm ba chiến sĩ trong đó có một chiến sĩ trên đầu còn quấn băng với khẩu súng trong tay. Nhóm ba người này được liên kết chặt chẽ với hai chiến sĩ khác phía bên phải bức tranh bằng một cái bắt tay đầy quyết tâm.Toàn bộ khung cảnh buổi kết nạp đảng được diễn ra chóng vánh trong không gian chiến hào. Góc trái là một chiến sĩ đang dìu đồng đội bị thương cho thấy ranh giới của sự sống và cái chết thật mong mang. Nhưng phía hậu cảnh lại là một chiến sĩ khác hối hả ra trận như thể sự mất mát đó chính là động lực và nhấn mạnh thêm bối cảnh khẩn trương của cuộc chiến. Nhìn vào tác phẩm, người xem có thể thấy được hình tượng các chiến sĩ Điện Biên đã được danh họa Nguyễn Sáng tạo nên bằng lối hình họa giản lược, chắc khỏe. Màu sắc trong tranh đơn giản, đa phần là các màu sắc trong hệ màu sơn ta truyền thống như đỏ son, vàng, bạc. Bức tranh đặc biệt có thêm một số màu mới như lam, lục được sử dụng thành công, đánh dấu mốc quan trọng vào lịch sử nghệ thuật tranh sơn mài Việt Nam.
Nguyễn Tư Nghiêm – Xuân Hồ Gươm
Nguyễn Tư Nghiêm sinh năm 1922, tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1946. Ngay từ khi đang học năm thứ 3, ông đã gây chú ý trong giới hội họa với tác phẩm Người gác Văn Miếu, tác phẩm này đã dành được giải nhất tại Salon Unique năm 1944. Cho đến nay, cuộc đời của danh họa vẫn luôn là một câu chuyện đầy màu huyền thoại. Suốt hơn nửa thế kỷ lao động, sáng tác, cống hiến cho nghệ thuật, ông không mấy khi xuất hiện ở những nơi chốn đông người, chẳng mấy khi tham gia các sự kiện kể cả trong lĩnh vực mỹ thuật, hội họa. Chẳng thế mà nói đến tên ông, người đời tưởng như ông đã là “người của muôn năm cũ”. Các tác phẩm của ông luôn được giới sưu tầm tìm kiếm, và tất nhiên được trả giá rất cao. Vậy nhưng ông không bán mà giành cả những tác phẩm đó cho người vợ – tình yêu duy nhất của đời ông sau hội họa. Không bán tranh để lấy tiền phục vụ nhu cầu cuộc sống, vì thế mà đến nay ông vẫn sống rất giản dị trong căn nhà trong ngõ tại Hà Nội. Nay đã hơn 90 tuổi, ông vẫn dành từng ngày trong cuộc đời mình để vẽ tranh, để sáng tác. Các tác phẩm nổi tiếng của ông có thể kể đến như: Người gác Văn Miếu; Cổng làng Mông Phụ; Điệu múa cổ; Kim Vân Kiều; Mười hai con giáp; Gióng, Xuân Hồ Gươm…
Xuân Hồ Gươm là tác phẩm được họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm sáng tác năm 1957 với kích thước 70,4 x 150,7 cm. Tác phẩm miêu tả lại thời khác chào đón năm mới của đất nước với hình ảnh đông đảo nhân dân bên hồ Hoàn Kiếm. Phía xa xa hình ảnh tháp rùa soi bóng xuống mặt nước. Bên bờ hồ, hình ảnh những anh bộ đội, quân nhân, công an, các thiếu nữ, các em nhỏ cùng cha mẹ…tất cả đều đang vui vẻ, hạnh phúc chào đón năm mới. Màu sắc trong tranh được danh họa thể hiện bên cạnh những hệ màu sơn ta truyền thống như vàng, bạc, đỏ son…còn có thêm màu lam, lục, hồng để tạo nét xuân tươi mới cho tác phẩm.
Cùng những tác giả, tác phẩm tiêu biểu kể trên, nghệ thuật tranh sơn mài Việt Nam còn ghi nhận sự đóng góp của nhiều họa sĩ khác như: Phan Kế Anh, Lê Quốc Lộc, Nguyễn Khang, Trần Đinh Thọ, Trần Văn Cẩn…những nhân vật kiệt xuất đã tạo nên một dòng tranh đầy chất dân tộc, mang giá trị nghệ thuật cao và là niềm tự hào của Mỹ thuật Việt Nam.
Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Sau cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông lần thứ nhất, năm 1258, Trần Thái Tông là vị vua đầu tiên của Vương triều Trần đã nhường ngôi cho con và lui về làm Thượng Hoàng khi tuổi vừa tròn 40, một độ tuổi sung mãn nhất của cuộc đời. Ngài là người ưa Thần Phật, sùng Tiên Thánh, thích đi vân du để tìm vẻ đẹp của giang sơn đất nước, tìm nơi tĩnh lặng để tu thiền. Trên con đường phi mã thiên lý bắc – nam, khi đi qua đất Tràng An – Ninh Bình, nhìn về phía tây, ngài thấy dải Phi Vân Sơn hùng vĩ, núi đẹp tựa như những áng mây bay, ngọn nối ngọn trùng ngôi, phía dưới là sông ngòi uốn khúc, có nước bạc lấp lánh, phía trong có nham động, lại có các hang xuyên thủy nối liền. Thượng Hoàng đã cùng các thị thần xuống thuyền, lênh đênh trên sông nước thưởng ngoạn cảnh sơn thủy hữu tình. Say đắm cảnh nước lạ, núi đẹp, ngài đã sai người đẵn gỗ, dựng am, tô tượng thờ Phật để tu hành, mở đầu cho việc xây dựng Hành cung Vũ Lâm.
Cũng ngay thời điểm đó, Thượng Hoàng Trần Thái Tông đã nhận ra địa thế hiểm yếu của khu vực rừng núi Ninh Bình với hệ thống sông ngòi dày đặc liên thông với khu vực hành cung Thiên Trường – Nam Định. Hơn thế, với hệ thống núi đá vôi dày đặc, rừng cây rậm rạp dễ phòng thủ, khó tiến công, nơi này rõ ràng là một nơi đắc địa để xây dựng một căn cứ phòng thủ lâu dài, có thể dễ dàng rút quân từ Thăng Long và Thiên Trường về đây theo đường sông trong trường hợp bị truy kích. Địa thế hiểm trở với sông nước có thể dễ dàng khóa chân vó ngựa quân Nguyên Mông vốn chỉ quen chinh chiến trên những vùng thảo nguyên rộng lớn. Với tầm nhìn ấy của Thái Thượng Hoàng Trần Thái Tông, Hành cung Vũ Lâm đã không chỉ là nơi tu thiền mà còn là căn cứ địa vững chắc của quân dân thời Trần, có thể tiến hành chiến đấu trong thời gian dài.
Theo lời tấu trình của danh sĩ Trương Hán Siêu, một môn khách của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, là người Ninh Bình và có học vấn uyên thâm thời đó, các vua triều Trần đã cho chiêu mộ dân lưu tán, lập ấp, khai khẩn ruộng hoang và tiến hành sản xuất nông nghiệp, tích trữ lương thực, tôn tạo những nơi xung yếu của khu căn cứ dự bị chiến lược này, góp phần làm nên chiến thắng quân xâm lược Nguyên – Mông lần thứ hai và thứ ba, quét sạch bóng dáng quân giặc ra khỏi bờ cõi Đại Việt.
Cũng trong thời gian này, các vua triều Trần còn cho xây dựng nhiều các công trình tôn giáo tại đây như chùa A Nậu, chùa Khai Phúc… Hành cung Vũ Lâm cũng là nơi xuất gia tu hành đầu tiên của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông, thời gian vào khoảng tháng 7 năm Giáp Ngọ 1294, trước khi ngài lên Yên Tử lập ra Thiền phái Trúc Lâm, dòng Thiền mang đậm bản sắc Việt Nam.
Ngày nay, đến với Quần thể danh thắng Tràng An, du khách sẽ được ngồi trên các con thuyền truyền thống do chính người dân địa phương chèo lái, trải nghiệm sự gắn kết gần gũi với thiên nhiên, cảm nhận vẻ đẹp thuần khiết, lộng lẫy của hang kỳ, đá lạ và trở về nét vàng son của lịch sử dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước.
Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Bên trong quán cafe băng đăng.

Nhiệt độ quán luôn giữ ở mức -6 độ C.

Mọi vật dụng trong quán đều làm từ băng.

Chillout mang lại mùa đông cho xứ nóng Dubai.

Thực khách được trang bị quần áo ấm khi vào quán.

Ngoài cafe, quán còn phục vụ một số đồ ăn nhẹ.
|
Mọi thông tin, ý kiến đóng góp cho chuyên mục Du lịch, quý độc giả có thể gửi đến ban Văn hóa – Du lịch báo điện tử Dân trí theo địa chỉ email dulich@dantri.com.vn . Xin trân trọng cảm ơn! |
|
Mọi thông tin, ý kiến đóng góp cho chuyên mục Du lịch, quý độc giả có thể gửi đến ban Văn hóa – Du lịch báo điện tử Dân trí theo địa chỉ email dulich@dantri.com.vn . Xin trân trọng cảm ơn! |
Nguồn: DANTRI.COM.VN