Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Bãi Môn hoang vắng dưới chân hải đăng Đại Lãnh

(Dân trí) – Đứng từ trên ngọn hải đăng kiêu hãnh, phía trước mặt đâu đâu cũng là gió lộng, là biển xanh hút tầm mắt, là bầu trời bao la với những con thuyền lẻ loi, sóng vỗ rì rầm.

Một sớm tháng 6 trong lành, tôi có chuyến chạy xe đến với hải đăng Đại Lãnh (hay Mũi Điện). Không giống như cách đây vài năm, khi mọi con đường đến với nơi này đều đang làm ngổn ngang, đường lên hải đăng men theo đường mòn là lên tới tận nơi, giờ đường nhựa đã trải đến tận chân núi và đường lên cũng đã làm bậc cầu thang dễ bước. Mọi thứ đã làm khiến việc đi lại dễ dàng hơn và cũng mang lại cho tôi một cảm giác khác khi trở lại nơi này.

Con đường ven biển tuyệt đẹp đến với hải đăng Đại Lãnh đã làm xong.

Con đường ven biển tuyệt đẹp đến với hải đăng Đại Lãnh đã làm xong.
Hải đăng Đại Lãnh đã trở thành điểm đến du lịch được nhiều người yêu thích. Những vị khách đến với Phú Yên đều chạy xe đến nơi này. Chỉ cách thành phố khoảng 40 km với con đường chạy hoàn toàn dọc ven biển tuyệt đẹp, thêm vài bước chân nữa là bạn đã tới một trong những điểm đón bình minh đầu tiên của lãnh thổ Việt Nam xinh đẹp.
Đứng trên mũi hải đăng đón nắng và gió, vạn vật xung quanh vẫn giống như ngày nào. Vẫn biển xanh diệu vợi, những cơn gió biển mạnh mẽ không ngừng, những tia nắng ấm áp, mặt trời rực rỡ trên bầu trời xanh biếc không một gợn mây, những cánh buồm xa xa cùng những cánh chim chao liệng và sóng vỗ liên hồi vào vách đá thành những tiếng ì ầm bất tận. Dưới chân hải đăng, xa xa, bãi Môn yên bình vẫn vắng lặng như bao ngày qua. Ở nơi đâu đâu cũng là biển này, những hõm tạo nên bãi biển riêng tư rất nhiều, nhưng bãi biển này là một trong những bãi biển vắng vẻ, đẹp và yên tĩnh nhất.

Bãi Môn tuyệt đẹp.

Bãi Môn tuyệt đẹp.
Đường ra bãi Môn bị chắn bởi những cồn cát cao quá đầu. Do con đường nhựa làm đến đây thì đứt đoạn, cụt đường nên xuống bãi bắt buộc phải để xe trên này và đi bộ. Bãi biển bị chắn mất tầm nhìn lại nằm nơi hẻo lánh, chỉ có vài nhà dân và khu hải đăng nên thi thoảng lắm mới có khách ra chơi. Trông thì tưởng một đoạn ngắn, vậy mà cũng phải đi khá xa, qua cồn cát, qua những vỉa đá, qua một dòng nước ngọt tự nhiên trong lành và ra đến biển. Nhưng cũng chính vì vài trở ngại như thế đã biến bãi Môn thành điểm tắm tuyệt đẹp, vắng người. Đặc biệt là dòng nước ngọt tự nhiên, nơi bạn có thể tắm tráng ngay tại chỗ trước khi ra về.

 Dòng nước ngọt tự nhiên.

 Dòng nước ngọt tự nhiên.
Lần nào ra Đại Lãnh tôi cũng ra bãi Môn. Có thể chỉ là ra đó thò chân xuống biển, ngồi ngắm biển xanh tít tắp, có thể là ra lao mình xuống biển xanh tuyệt đẹp kia. Sóng to, bãi cát trắng ngần, làn nước trong vắt soi đến tận đáy, nhưng chỉ nên đắm mình gần ven biển vì ra xa một chút là nước sâu quá đầu người. Mang đồ ra bãi Môn pic nic vô cùng thú vị. Ở đây chẳng có ai bọn chen bãi tắm với bạn, cứ một mình với biển xanh. Có thể cắm trại ngủ lại với những nhu yếu phẩm đủ cho một buổi dã ngoại. Dòng nước ngọt không chỉ cung cấp nước uống, nước ngọt tắm mà còn cung cấp cả thực phẩm cho bạn với những loài sinh vật nước lợ ngon lành.

 Bãi Môn nhìn từ hải đăng ra.

 Bãi Môn nhìn từ hải đăng ra.
Đêm bãi Môn trăng thanh gió mát, sao nhấp nhánh đầy trời. Buổi sáng với thuyền cá tấp nập. Tắm biển, nằm dài đọc sách, nghỉ ngơi rồi lại trở về với cuộc sống thường nhật hàng ngày. Khách đến chơi nghỉ chân trong chốc lát rồi rời đi. Bãi biển với vài vết chân trên cát rồi lại bị sóng liếm sạch không còn chút vết tích nào, như thể chưa từng có ai đặt chân đến nơi này từ rất lâu rồi.
Bãi Môn vẫn thế! Vẫn yên bình, vắng vẻ với con sóng không ngừng nghỉ ầm ào đêm ngày.
Bài và ảnh: Lam Linh

Nguồn: DANTRI.COM.VN

Chinh phục đèo Ngoạn Mục trên đường đến Đà Lạt

(Dân trí) – Trong khi cánh chạy xe ô tô luôn chọn đèo Long Lanh để đến thành phố hoa thì giới trẻ chạy xe máy nhất định sẽ tiến về nơi này bằng con đường qua đèo Ngoạn Mục đầy hiểm trở và mê hoặc.

Từ mảnh đất đầy nắng của thành phố Phan Rang của tỉnh
Ninh Thuận, con đường về phía Đà Lạt gặp nhiều khó khăn vì thời tiết nắng rát mặt
của mảnh đất này cứ chạy theo, đổ cái bóng dài xuống mặt đường nhựa. Vì thế, nếu
có ý định chạy xe máy từ Ninh Thuận sang, tốt nhất hãy đi vào tầm sáng sớm, khi
nắng trưa đổ lửa trên khắp cỏ cây, đất trời.

Bắt đầu chuyến chạy xe về Đà Lạt.

Bắt đầu chuyến chạy xe về Đà Lạt.

Đèo Ngoạn Mục hay còn gọi là đèo Krông Pha (theo cách gọi của người Chăm), đèo
Sông Pha (theo cách gọi của người Việt) và là đèo Belle Vue – Ngoạn Mục(theo
cách gọi của người Pháp). Đoạn đường đèo dài hơn 18 km này chạy men theo những
sườn núi dốc đứng với độ dốc cao, là con đường đèo dốc nhất miền Trung và cũng là
một trong những đèo đẹp nhất Việt Nam. Trong rất nhiều năm, đây là con đường
chính nối Tây Nguyên với vùng biển duyên hải miền Trung. Sau khi đèo Long Lanh
nối Nha Trang với Đà Lạt hoạt động, đèo Ngoạn Mục gần như bị bỏ hoang, xuống cấp
nghiêm trọng với nhiều đoạn sạt núi vô cùng nguy hiểm khiến con đường đã vắng lại
càng thưa thớt người qua lại hơn.

 Đường đang sửa nên có nhiều biển báo đã lấp
hay bị mất.
 Đường đang sửa nên có nhiều biển báo đã lấp
hay bị mất.

Bắt đầu từ chân
đèo, nơi cái nắng và gió nóng của đất Ninh Thuận vẫn đang đeo bám, con đường
ngoằn nghoèo mở rộng lối dần cao hơn với các khúc cua tay áo và độ dốc lên đến
9 độ. Đó là lý do vì sao con đường đèo này lại nguy hiểm đến thế. Càng lên cao,
độ dốc đến chóng mặt cùng các vòng cua uốn lượn giữa một bên là vách núi dựng đứng
và phía bên kia là cánh rừng sâu thăm thẳm. Những chiếc xe vừa tăng hết tốc lực
để lên được đầu con dốc lại phải hãm phanh để trôi ở phía bên kia. Cứ thế hết
lên lại xuống, rồi xuống lại lên mà tiến sâu hơn về phía Đà Lạt.

Con đường đèo đã
được sửa chữa lại nhưng độ dốc vẫn khiến những kẻ chạy xe chóng mặt. Ánh mặt trời
nhảy nhót sau lưng. Có những quãng chạy xe không có lấy một bóng râm, nhưng có
những đoạn lại hoàn toàn chìm trong bóng mát của cây cỏ hoa lá. Một vài đoạn
đèo vẫn đang trong quá trình làm mới lại khiến việc đi lại gặp nhiều khó khăn
và thời gian chờ đợi. Nếu vào đoạn râm mát thì còn đỡ, còn chẳng may vào đúng
đoạn nắng thì đành coi như phơi da dưới mặt trời nóng bức. Nhiệt độ vẫn không hề
mát mẻ hơn chút nào, vẫn vô cùng nắng và nóng.

 Vô số đèo dốc thử thách tay lái người chạy
xe.
 Vô số đèo dốc thử thách tay lái người chạy
xe.

Để rồi khi đến tới
đỉnh đèo cũng là lúc chiếc xe cần nghỉ ngơi đôi chút và người cũng muốn ngắm cảnh.
Từ đây, có thể nhìn thấy hầu như trọn vẹn con đèo, ra đến tận phía xa kia. Từ
đây, mới thấy hết được sự hung vĩ của núi non nơi này. Con đèo uốn lượn theo
chân núi, lòng vòng quanh những sườn núi, khi lộ diện giữa cái nắng, lúc lại lấp
mình giữa vô số hoa lá cỏ cây. Ẩn ẩn hiện hiện.

Vượt qua đỉnh dốc,
một làn không khí mát lạnh ùa về khiến ai nấy đều cảm thấy vô cùng thích thú.
Trong khi phía bên kia ảnh hưởng không khí khô nóng của Ninh Thuận thì phía bên
này lại ảnh hưởng làn không khí mát lành từ phố núi. Cái nóng rũ bỏ, chỉ còn cảm
giác mát lạnh mà thôi. Đường xuôi dốc về phía Lâm Đồng. Không còn những cánh rừng
hoang vu nữa mà dần thay vào đó là những rừng thông. Ban đầu chỉ lác đác vài
cây bên đường. Rồi dày lên, nhiều hơn, cho đến khi bạn đi giữa rừng thông xanh
rì rào từ lúc nào không biết. Những con dốc thấp thoáng sau những rặng thông.
Mùi khô cháy nhường chỗ cho mùi thông non ngai ngái. Màu cỏ lá úa tàn thay bằng
những vạt hoa dại. Giờ thì chẳng ai muốn chạy vội vàng để trốn cái nắng nữa, cứ
nhàn nhã mà đi, thong dong mà đi, mà vượt những khúc cua hiểm trở để đến Đà Lạt.

 Bạn sẽ thường xuyên gặp cảnh này.

 Bạn sẽ thường xuyên gặp cảnh này.

Rồi nắng trên đầu
nhảy nhót đi đâu mất, thấy mây mù bao phủ khắp nơi. Đi trong mây mù, mọi việc
phải cẩn thận hơn, nhìn kỹ hơn và tập trung hơn. Không có nhiều xe chạy không
có nghĩa là thoải mái tự do muốn chạy thế nào thì chạy. Bởi có vô vàn những điều
không thể lường trước được có thể xảy ra khi bạn bất cẩn chỉ trong một tích tắc.

Đèo Dran nối tiếp đèo Ngoạn Mục để vào trung
tâm thành phố Đà Lạt. Không rộng rãi với hai làn xe như Ngoạn Mục, Dran thuộc huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng nhỏ và dài khoảng 10km.
Vì nằm cao hơn Đà Lạt và cũng là nơi lạnh nhất thung lũng, nên con đèo quanh
năm sương mù bao phủ. Đèo nhỏ, dốc và quanh co uốn lượn với khung cảnh hữu tình
hai bên. Suốt con đèo là những rừng thông, những đồi chè và những vạt hoa dại
nở rực rỡ. Vào mùa đông, các vị khách thường thuê xe máy chạy lên đỉnh đèo để
tận hưởng cảm giác buốt giá và đi trong biển mây mù bồng bềnh.

Khung cảnh ngoạn mục của đèo Ngoạn Mục.

Khung cảnh ngoạn mục của đèo Ngoạn Mục.

Đèo Ngoạn Mục vẫn đang trong quá
trình thi công nên có nhiều đoạn xấu và ít xe cộ qua lại. Vì thế nếu bạn có ý
định chinh phục, hãy đi vào ban ngày. Để tránh nguy hiểm vào buổi tối vì đường
xấu, xe hỏng và những việc không hay xảy ra.

Bài và ảnh: Lam Linh

Nguồn: DANTRI.COM.VN

Đền Nguyệt Hồ- điểm nhấn tâm linh tín ngưỡng

Đền Nguyệt Hồ là một trong những di tích cổ gắn liền với hàng ngàn năm lịch sử và văn hiến của quê hương Bắc Giang. Ngôi đền nằm ở vùng đất có nhiều di tích thuộc thượng lưu dòng sông Thương thuộc xã Hương Vĩ, huyện Yên Thế, Bắc Giang.
 

 

Một vài năm trở lại đây, đền Nguyệt Hồ được xem như một điểm nhấn tâm linh tín ngưỡng thu hút hàng ngàn lượt khách từ khắp các tỉnh, thành trong nước hành hương tìm về để xin lộc, cầu tài, cầu bình an trong cuộc sống.

 

Theo truyền thuyết được truyền lại, vùng Bo (Yên Thế) với sự tích chúa Nguyệt Hồ được ghi chép lại như sau: Cuối đời Hùng Duệ Vương, quân Thục ồ ạt mang quân sang xâm chiếm giang sơn họ Hùng. Hùng Duệ Vương bèn hạ chiếu đi các nơi tìm người tài giỏi để giúp vua trừ giặc. Lúc bấy giờ ở vùng Bo có ông Cao và ông Quý ra ứng tuyển và được vua chọn đi dẹp giặc. Bái tạ ơn vua, hai ông kéo quân về đây ngày đêm luyện tập binh mã chờ thời cơ diệt giặc. Khi quân Thục kéo sang,  hai bên giao chiến ác liệt, thế giặc mạnh, quân ta yếu, hai ông Cao – Quý chỉ huy quân sĩ rút lui theo triền sông Thương rồi lựa thế đất hiểm trở quay lại giết giặc. Thuyền chiến dùng dằng chưa đi được  vì các bà con gái lưu luyến yêu mến vùng đất này nên đã rời thuyền trở lại vùng Bo. Hai ông chỉ huy quân sĩ quay lại đánh giặc, bị bất ngờ phản công, quân Thục tự nhiên vỡ trận thua to, những kẻ tháo lui đều bị quân sĩ truy đuổi tiêu diệt hết. Thắng giặc, hai ông trở về khao thưởng quân sĩ rồi hồi triều báo công với vua.


Trước khi hồi triều, hai ông phi thẳng ngựa đến khu Rừng Từ để nhìn bao quát vùng Bo một lần nữa rồi bỗng nhiên hoá tại đó. Phu nhân và con gái biết tin nhớ thương nên cũng tự hóa theo, hôm đó vào ngày 15-2. Sau khi đánh thắng quân Thục, nhà vua phong cho các danh tướng là Thượng Đẳng Phúc Thần và truyền cho các địa phương, nơi các danh tướng đánh giặc, xây dựng đền miếu để thờ phụng mãi mãi. Triều vua Lê Đại Hành có sắc phong cho các vị thần ở vùng Bo là: “Cao Sơn Quý Minh đại đức hùng lược trác vĩ Đại Vương Thượng đẳng thần”. Đến triều Nguyễn địa phương xây dựng miếu thờ ở Huyết Hồ, xin triều đình cho thờ nữ thần là Nguyệt Nga phu nhân và con gái của vị thần họ Cao. Triều vua Tự Đức năm thứ ba (1850) ban sắc phong cho Nguyệt Nga phu nhân và ban cho dân xã vùng Bo phụng thờ. Sau lại có sắc phong cho Nguyệt Nga công chúa. Đời vua Duy Tân năm thứ nhất (1907) cũng có sắc phong cho Nguyệt Nga phu nhân.


Đền bà chúa Nguyệt Hồ có lịch sử từ lâu đời, xưa ngôi đền có một cung đặt tượng thờ Nguyệt Nga công chúa và bài trí tượng thờ theo đạo thờ Mẫu. Qua thời gian, ngôi đền đã được nhân dân địa phương và các nhà hảo tâm công đức tu sửa tôn tạo nhiều lần.


Quần thể di tích hiện nay gồm các hạng mục công trình: Cổng đền, khu sân đền, hồ Nguyệt, khu đền chính gồm toà đại bái và hậu cung, kiến trúc theo lối cổ truyền thống.


Trong hậu cung đặt tượng bà chúa bản đền, chúa Nguyệt Hồ (tức Nguyệt Nga công chúa) và bài trí tượng thờ theo đạo thờ Mẫu gồm hàng Thánh Mẫu tới hàng Quan, hàng Chầu, ông Hoàng, các cô, cậu và Đức Thánh Trần. Hai cung ngoài toà đại bái cũng bài trí tượng thờ theo đạo thờ Mẫu.


Như vậy, theo bề dày lịch sử, đền Nguyệt Hồ đã được phủ lên nhiều lớp tín ngưỡng, ngoài thờ “Bà chúa Nguyệt Hồ – Chúa Bói”, còn thờ “Tam toà Thánh Mẫu”, thờ Cô, thờ Cậu, thờ Sơn Trang, thờ các ông Hoàng và đức Thánh Trần Triều…


Từ lâu đền Nguyệt Hồ đã được phủ lên một lớp tín ngưỡng “thờ Mẫu”. Theo các nhà nghiên cứu thì tín ngưỡng thờ Mẫu vốn là tín ngưỡng của người Việt cổ có từ lâu đời và ngày càng phát triển.


Ngày lệ bà Chúa Nguyệt Hồ là ngày 15/2 âm lịch. Trong ngày lệ chính nhân dân vùng Bo rước kiệu từ đình Bố Hạ về đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Sau khi tế lễ tại đền Trung lại rước kiệu về đền Nguyệt Hồ.

 

Tại đây phần tế lễ chúa Nguỵêt Hồ được tiến hành với những nghi lễ độc đáo như lễ dâng văn chúa Nguyệt Hồ. Bài văn cúng dâng chúa Nguyệt Hồ được thể hiện qua hình thức hát văn. Người được chọn diễn xướng hát văn phải có giọng hát hay, đàn giỏi, gia đình không có tang bụi. Trong nghi thức thờ Mẫu ở đền bà chúa Nguyệt Hồ còn có lệ hầu bóng được diễn ra trong các dịp đầu năm và trong ngày lễ hội. Khách về lễ Mẫu và hầu bóng chủ yếu là khách thập phương từ Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Nội….tụ hội về đây để được dâng văn hầu chúa Nguyệt Hồ.


Hội đền Nguyệt Hồ nằm trong không gian chung của tín ngưỡng thờ Mẫu theo tuyến hành lễ đền Nguyệt Hồ-đền Suối Mỡ-đền Bắc Lệ- đền Mỏ Ba-đền Thượng Đồng Đăng và cuối cùng xuôi về đền Bà chúa Kho-Bắc Ninh. 

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Thung Khe – nơi “tử thần” rình rập đến điểm dừng chân lý tưởng

(Dân trí) – Mấy năm trước, với nhiều người, Thung Khe không quá hùng vĩ về cảnh sắc, nhưng lại khá nổi tiếng về tai nạn, nhưng nay đèo Thung Khe đã trở thành điểm dừng chân thú vị của du khách mỗi lần lên Tây Bắc.

Thuở trước, khi mà tuyến quốc lộ 6 chưa được nâng cấp, những dốc Cun hay đèo Thung Khe dường như đã trở thành nỗi ám ảnh của dân tài xế, hay các du khách đường dài khi lê Tây Bắc. Đèo không hùng vĩ như Ô Quy Hồ đất Lào Cai, không cheo leo như Mã Pì Lèng của đất Hà Giang nhưng lại chứa đựng vô vàn hiểm nguy bất ngờ đối với bất kỳ tay lái nào. Đèo Thung Khe không có những khúc cua tay áo như ở những con đèo ở Hà Giang, hay Lai Châu, Điện Biên, nhưng Thung Khe lại hiểm nguy bởi những làn sương mù dày đặc mỗi khi chiều về du đó bất kể là đông hay hè.

Ảnh: Internet

Ảnh: Internet

Ảnh: Internet

Thuở trước, khi mà tuyến quốc lộ 6 chưa được nâng cấp, những dốc Cun hay đèo Thung Khe dường như đã trở thành nỗi ám ảnh của dân tài xế, hay các du khách đường dài khi lê Tây Bắc.
Ấy là chuyện từ nhiều năm về trước, cho đến giờ nhiều người qua Tây Bắc đã “ngộ” ra rằng: đỉnh đèo Thung Khe là nơi họ có thể cảm nhận không khí mát mẻ rất đặc trưng của Mai Châu. Và chẳng thế có ở đâu khác, chỉ có ở Thung Khe từ đỉnh đèo ấy du khách có thể trải mắt ngắm toàn bộ thung lũng dưới chân đèo, đưa mặt đón những đợt gió mát lồng lộng, có thể nhìn thấy những thảm xanh mướt đầy sức sống giữa trưa hè oi ả.
Đèo Thung Khe nằm giữa Tân Lạc và Mai Châu, đèo Thung Khe hay đèo Đá Trắng. Thung Khe một ngày như có bốn mùa. Sáng trong trẻo, thung lũng dưới chân đèo mướt những thảm xanh đầy sức sống mùa xuân. Trưa chói chang, nắng từ trời cao xanh ngắt đổ ập xuống thung lũng cái oi ả ngày hè. Chiều dìu dịu, con đường đèo như dải lụa vắt ngang lưng núi chìm trong ánh vàng man mác mùa thu. Rồi khi đêm buông, sương mù kín đặc, trời quá mù ra mưa ướt lạnh tê tái như ngày đông giá.

Ảnh: Internet

Ngày nay, khi dừng chân ở đỉnh Thung Khe, bạn có thể trải mắt ngắm toàn bộ thung lũng dưới chân đèo, đưa mặt đón những đợt gió mát lồng lộng, có thể nhìn thấy những thảm xanh mướt đầy sức sống (Ảnh: Internet).

Ảnh: Internet

Khi mà đỉnh đèo Thung Khe hút hồn du khách bởi vẻ đẹp không đâu có được nên bà con bản địa thấy có thể làm kinh tế nên sản vật cũng vì thế mà trở nên phong phú hơn.

Thung Khe cũng giống như bao con đèo khác trên đường Tây Bắc, chẳng có gì đặc sắc, nhưng lại lôi cuốn người lữ khách bằng gió sương và những nụ cười chất phác đôn hậu của người dân bản địa. Để rồi lắng đọng trong lòng du khách mỗi lần nhớ về Thung Khe lại chẳng nghĩ đến đèo cao vực sâu, mà chỉ nhớ đến những thứ rất đẹp và bình dị, là biển mây và… ngô luộc. Khách du lịch, kẻ buôn, người bán ra ra vào vào, xúng xính những mặt hàng tìm mua được.
Buổi ban đầu, chợ đèo Thung Khe chỉ có vài chiếc lán xơ xác, bán ngô luộc. Về sau, khi mà đỉnh đèo Thung Khe hút hồn du khách bởi vẻ đẹp không đâu có được nên bà con bản địa thấy có thể làm kinh tế nên sản vật cũng vì thế mà trở nên phong phú hơn.

Đèo Thung Khe nay còn là nơi để các tay lái trải nghiệm cảm giác mạnh mỗi khi lên Tây Bắc.

Đèo Thung Khe nay còn là nơi để các tay lái trải nghiệm cảm giác mạnh mỗi khi lên Tây Bắc.

Đèo Thung Khe nay còn là nơi để các tay lái trải nghiệm cảm giác mạnh mỗi khi lên Tây Bắc.
Ngô ở đèo Thung Khe ngon hơn bởi nó được trồng trên đá, ăn sương đêm nên cho bắp to, hạt chắc nhưng ăn lại rất mềm và thơm. Cảm giác thật bõ công sau một hành trình dài. Nếu muốn ăn ngô tươi hơn, lữ khách có thể tự chọn ngô trong bao tải rồi cho vào nồi nước đang sôi sùng sục. Mùi khói thơm thơm, những ngọn gió vi vu thổi từ xa qua đèo như xua tan cái mệt mỏi trong hành trình dài lên Tây Bắc. Thích nhất là cái cảm giác duỗi chân, duỗi tay ngửa mặt lên trời mà đón đón gió mà hít hà cái không khí trogn trẻo giữa núi rừng Tây Bắc.
Đỉnh đèo Thung Khe là nơi khách du lịch có thể cảm nhận không khí mát mẻ rất đặc trưng của Mai Châu. Từ đỉnh Thung Khe, bạn có thể trải mắt ngắm toàn bộ thung lũng dưới chân đèo, đưa mặt đón những đợt gió mát lồng lộng, có thể nhìn thấy những thảm xanh mướt đầy sức sống.
Cho đến nay, người ta có thể xem đây là một trong những nơi ngắm cảnh đẹp nhất tỉnh Hòa Bình. Ở giữa cung đèo này, cong người như trở lên nhỏ bé, tất cả lọt thỏm giữa những ngọn núi hùng vĩ, thẳng tắp, trùng trùng, điệp điệp.
Bài, ảnh: Hữu Thắng

Nguồn: DANTRI.COM.VN

Đến miền núi phía Bắc xem phụ nữ Hà Nhì đen làm đẹp

Đến với bản làng Hà Nhì đen, du khách không những được ngắm vẻ đẹp của núi rừng hùng vĩ mà còn cảm nhận được nhiều nét độc đáo của văn hoá cổ truyền, cuộc sống gắn bó với thiên nhiên thể hiện qua cách cư trú, đặc biệt là bộ trang phục mang nhiều nét khác lạ so với các dân tộc ít người sinh sống ở miền núi phía Bắc.

Độc đáo mái tóc phụ nữ Hà Nhì đen

Ngoài bộ trang phục truyền thống, phụ nữ Hà Nhì đen rất chú ý đến khâu trang điểm trên mái tóc, sáng tạo ra bộ tóc giả, chiếc mũ, kiểu khăn nhằm mục đích làm đẹp, đồng thời thể hiện những khác biệt về tuổi tác và tình trạng hôn nhân. Người phụ nữ Hà Nhì đen không có bộ trang phục sặc sỡ như người nhóm Hà Nhì Cồ Chồ, Hà Nhì Lạ Mí hay Mông Hoa, Dao Đỏ… Nam và nữ đều mặc quần, áo được làm bằng vải chàm do đồng bào tự dệt và cắt may lấy. Chúng trông rất giản tiện và ít hoa hòe.

Điều gây ấn tượng nhất trong cách làm đẹp, trang điểm của phụ nữ Hà Nhì đen chính là mái tóc của họ. Đó là bộ tóc giả được bện bằng sợi tách ra từ vỏ, rễ cây trong rừng. Mỗi cuộn tóc giả có đến hàng chục sợi dây nhỏ. Đồng bào khai thác một số loại cây cỏ đặc biệt để chế biến, chiết xuất thành thuốc nhuộm. Họ đổ thuốc vào một cái máng gỗ rồi nhúng tóc giả vào nhuộm nhiều lần sao cho chúng có màu đen bóng nhìn giống như tóc thật. Trong ngôi nhà của người Hà Nhì đen ta thường thấy vài ba bộ tóc giả đã nhuộm và chưa nhuộm chàm treo trên vách. Bộ tóc giả sau khi thấm đượm sắc chàm sẽ được chủ của nó mang ra tỉa tóc, cắt hoàn chỉnh rồi mới đem dùng. Vì vậy, để có bộ tóc giả ưng ý, đúng kiểu, đồng bào phải tốn khá nhiều thời gian và công sức.

Những cô gái đến tuổi trưởng thành, để trang điểm cho vẻ đẹp nữ tính của mình, ngoài những đồ trang sức thì không thể thiếu bộ tóc giả điệu nghệ, kiểu cách trên đầu. Mỗi khi muốn đeo bộ tóc giả vào thì chị em xõa mái tóc của mình xuống phía bên phải rồi kết nối, bện chặt chúng lại với nhau, tạo ra mái tóc dài đến chấm đất. Phía cuối của mái tóc giả được buộc lại thành 3 chùm giống như bông cúc vạn thọ. Ngày thường cũng như ngày hội, phụ nữ đều không rời bộ tóc giả. Họ cuộn bộ tóc giả thành từng khoanh trên đầu. Thỉnh thoảng, chị em xổ ra chải chuốt lại cho thẳng rồi vấn lại để tóc khỏi bị sà xuống phía trán. Phủ bên ngoài mái tóc là tấm khăn vuông bằng vải nhuộm chàm, khích thước mỗi chiều khoảng 40-60cm, ở rìa và bốn góc khăn thường thêu hoa văn hình ô vuông hay lượn sóng, dích dắc, gắn thêm các tua chỉ màu hay đính thêm những hạt cườm màu.

Chiếc mũ làm đẹp cho bé gái

Ngoài việc trang điểm cho chính mình, phụ nữ dân tộc Hà Nhì đen không quên sắm sửa, làm đẹp cho con gái yêu bằng chiếc mũ đặc biệt. Chúng có kiểu dáng, sắc màu và chất liệu rất độc đáo. Đây là chiếc mũ được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau. Lớp trong lót vải thổ cẩm dày, bên ngoài trang trí bằng nhiều chùm len có màu sắc sặc sỡ, giữa những chùm len còn có những đồng bạc trắng và những hạt cườm nhựa ngũ sắc.

Trang phục của chị em và các bé gái gần giống về kiểu cách nhưng khác nhau về màu sắc. Nếu quần áo của phụ nữ có màu chàm đen thì trang phục thiếu nữ có màu chàm xanh. Trên chóp mũ còn gắn chùm len như bông hoa xòe ra. Cùng với trang phục, chiếc mũ xinh xắn này làm cho các em gái nổi bật hẳn lên. Những lúc rảnh rỗi, chị em thường ngồi bện tóc giả hoặc kết sợi len làm mũ cho con gái. Chiếc mũ của các em gái Hà Nhì đen nhìn giống như một bông hoa rừng khoe sắc rực rỡ, được trau chuốt bằng nghệ thuật trang trí hết sức tinh tế, sống động. Theo quan niệm của đồng bào, chiếc mũ này chẳng những làm đẹp cho các bé gái mà còn trừ tà ma, xui xẻo, bảo vệ sức khoẻ, mang lại điều an lành, tốt đẹp cho con cái. Chiếc mũ càng đẹp thì càng thể hiện tài khéo tay, sự cần mẫn của người mẹ. Có thể nói rằng, các bé gái là những người ăn mặc đẹp nhất trong cộng đồng người Hà Nhì đen.

Mái tóc của người mẹ, chiếc mũ của bé gái là những sáng tạo văn hóa có giá trị nghệ thuật cao, tạo ra nét khác lạ, độc đáo, thể hiện bản sắc văn hóa của người Hà Nhì đen. Đến các bản làng của đồng bào, dù trong lễ hội hay trong cuộc sống thường nhật, ta vẫn thấy các chị em và các bé gái mang tóc giả và đội chiếc mũ trên đầu, làm cho bản làng của họ trở nên quyến rũ, hấp dẫn trong con mắt của du khách./.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Văn hoá ẩm thực dân gian vùng biển Quảng Ninh

Khi đến với Quảng Ninh, một vùng đất giàu tính nhân văn mang đậm nét văn hoá Việt, bạn bè gần xa lại có dịp thưởng thức những món ăn dân gian khó quên, những món ăn đặc trưng văn hoá ẩm thực của vùng biển Đông Bắc Việt Nam…

 

Người ta đã tìm ra có tới hàng trăm món ăn dân gian từ xa xưa ở vùng biển Quảng Ninh. Và tất nhiên, đã là món ăn dân gian thì thường đơn giản, dễ kiếm, dễ làm, dễ ăn. Như món cá mòi chẳng hạn, ca dao có câu “Ăn cơm với cá mòi ve/ Lấy chồng Vân Hải như khoe má hồng”…

 

Tuy nhiên, cá mòi không phải mùa nào cũng giống nhau. Dân gian có câu: “Tháng ba quạ tha cá mòi”, ý nói đừng mua cá mòi về ăn dịp này; bởi cá mòi tháng 3 thường gầy, nhiều xương, ít thịt…

 

Văn hoá ẩm thực ở vùng biển Quảng Ninh có đặc điểm là cùng một món ăn nhưng lại có nét riêng biệt, mang đặc trưng của vùng mình. Ví dụ như vùng huyện đảo Vân Đồn, Cô Tô, Quảng Yên đều có mực ống, hà, tù hài… Nhưng mực ống ở Cô Tô mới là loại mực ngon nhất, càng nhai càng ngọt; trong khi với con hà thì chỉ ở Quảng Yên mới ăn mới ngon; cũng như vậy, các món ăn chế biến từ con ngán có ở Quảng Yên, Vân Đồn, Hạ Long, Hoành Bồ, Hải Hà, Đầm Hà, Móng Cái v.v.. nhưng xuất xứ của nó lại từ Quảng Yên. Người Vân Hải (Vân Đồn) trước đây chưa biết cách đánh bắt con ngán, về sau mới biết do người Quảng Yên đến đánh bắt, có người ở lại lấy chồng, lấy vợ, sinh cơ lập nghiệp tại đây, rồi truyền lại cho…


Một cách thức chế biến món ăn dân gian ưa thích của người Việt là món nướng, từ sắn nướng, khoai nướng đến cá nướng, sò nướng, ngán nướng, ngao nướng, cua nướng, tôm nướng, ốc nướng… Món nướng dễ ăn, ăn ngon, ăn thơm, lành bụng.

 

Ngoài ra, ở Quảng Yên còn có một loại thức ăn đặc sản, đó là nem chua chấm tương ớt, thường được ăn kèm khi uống bia rượu, trong bữa liên hoan gia đình thịnh trọng hoặc trong liên hoan tập thể. Người ta còn mua về làm quà tặng bạn bè, người thân trong gia đình.

 

Cũng ở Quảng Yên còn có một loại đặc sản, đó là bánh gio. Ngoài ra còn nem chạo, rau câu (còn gọi là rong biển), một loại đặc sản ăn vừa mát lại vừa bổ, dùng trong các bữa liên hoan. Rau câu còn chữa được bệnh bướu cổ, bệnh tràng nhạc…

 

Nói về bánh, ở Hạ Long có bánh cuốn nhân tôm, ăn với chả mực mà nổi tiếng nhất là ở khu phố Hàng Nồi (phường Hòn Gai). Đặc biệt ở đây có một thứ đồ uống khó quên, đó là rượu ngán, khi uống ta thấy nó vừa thơm, vừa mát, lại vừa bổ, tăng sức khoẻ cho người già, sức cường tráng cho nam giới. Loại đồ uống này hiện đang khá phổ biến ở TP Hạ Long, TP Cẩm Phả, thị trấn Cái Rồng (huyện Vân Đồn), Quảng Yên, huyện Hải Hà, thị trấn Tiên Yên (huyện Tiên Yên), phường Trà Cổ và một số cửa hàng ăn uống ở TP Móng Cái v.v.. Ở Vân Đồn, Hạ Long còn có món bánh đa nướng tráng bằng bột gạo tẻ, được xay thành bột lọc nước, tráng thành bánh, sau đó rắc vừng đen rang chín lên mặt bánh đa, khi ăn vừa giòn lại vừa thơm.

 

Huyện Vân Đồn có làng chè Trà Bản, sau này khi xã Vân Hải được chia tách thành 4 xã, thì làng chè Trà Bản có tên mới là trà Bản Sen. Ở làng Vân, có một loại chè gọi là chè Vân, cây chè ở làng Vân đã tồn tại hàng nghìn năm nay, từ trước khi người ta đến đây cư trú. Người dân ở đây coi cây chè là một nghề chính, do vậy có nhà có tới hàng chục héc ta cây chè, nhà nào ít cũng có từ 5-10 sào đến một hecta. Chè Vân một thời được coi là đồ uống chính của người dân vùng biển, đặc biệt là người dân làm nghề chài lưới, vận tải sông nước. Chè Vân khi pha uống rất được nước, nước chè màu đậm nâu, có vị thơm, uống xong thấy ngọt miệng. Khi đói uống nước chè Vân vào có người còn bị say. Đây là loại chè trên vùng đảo, một đặc sản quý. Chính vì vậy, mà nhiều nhà nghiên cứu đã rất để tâm đến loài cây này.

 

Liệt kê ra một số đồ ăn thức uống để thấy ở Quảng Ninh có rất nhiều món ăn truyền thống, phong phú đa dạng dễ kiếm, lành bụng, mọi lứa tuổi, người lạ, người quen đều ăn được, uống được, dễ hợp khẩu vị… Vậy nên những món ăn này rất cần được khai khác, phát triển để góp phần tạo dựng thương hiệu cho Quảng Ninh.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Suối cá thần Cẩm Lương – Điểm du lịch kỳ thú

Thanh Hóa là miền đất nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh đẹp. Một trong những điểm đến tâm linh, sinh thái nhất nhì quê hương điệu hò sông Mã chính là suối cá thần Cẩm Lương.

 

Suối cá Cẩm Lương là một tuyệt phẩm của tạo hóa ban tặng. Nơi đây không chỉ nổi tiếng bởi vẻ hoang sơ, mộc mạc mà còn gắn liền với những huyền tích kỳ bí từ xa xưa.


Xã Cẩm Lương vốn được biết đến là một vùng đất nằm giữa những dãy núi đá vôi trùng điệp bên tả ngạn sông Mã như hình chiếc võng khổng lồ chạy suốt từ Bắc đến Đông, ôm gọn Cẩm Lương vào vòng lũng núi. Trải suốt phía Tây Nam là dòng sông Mã trong xanh như một dải lụa mềm. Và ngay trong lòng mảnh đất ấy là một suối cá thần độc đáo.


Suối cá thần Cẩm Lương còn có tên gọi khác là suối cá thần làng Ngọc, gắn với truyền thuyết về Thần Rắn. Xưa kia có hai vợ chồng tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Ngày ngày họ hay ra thửa ruộng bên cạnh suối vừa khơi nước trồng lúa vừa xúc cá bắt ốc về làm thức ăn. Một hôm người vợ xúc được một quả trứng lạ. Nhiều lần xúc được lại thả xuống nước, nhưng xúc lần nào thì quả trứng lạ ấy vẫn cứ thấy nằm trong rổ. Bà bèn mang về, vợ chồng bàn nhau đem cho gà ấp thử. Một hôm nghe tiếng gà cục tác, bà vợ ra xem thì thấy trứng nở được một con rắn. Hoảng sợ, người chồng mang rắn con ra suối Ngọc để thả, nhưng cứ thả thì tối rắn lại trở về nhà. Dần dần rắn sống tại gia đình thân quen như những con vật nuôi khác. Nhưng từ khi có rắn ở trong nhà, đồng ruộng có đủ nước để cày cấy, đời sống trong vùng ấm no hạnh phúc vì không còn cảnh hạn hán kéo dài. Cứ thế, chàng rắn sống với gia đình và làng bản trong cảnh thái bình, no ấm. Trải qua năm tháng, chàng rắn đã to bằng ống vác nước, cứ trưa trưa lại lên xà nhà nằm. Bỗng một đêm trời mưa to gió lớn, sấm chớp ầm ầm, sáng ra dân làng thấy xác chàng rắn chết dạt vào chân núi Trường Sinh (vị trí đền thờ hiện nay). Thương tiếc chàng Rắn, dân làng chôn chàng ngay chân núi và lập đền thờ. Dân làng được thần linh cho hay, chàng rắn chết vì đã đánh nhau với thuỷ quái về phá hoại bản làng và chàng đã được thượng đế phong Thần hiệu “Tứ Phủ Long Vương”.

 

Cũng từ đó, suối Ngọc trước cửa đền thờ có đàn cá hàng ngàn con ngày đêm về chầu và nhân dân trong vùng không bao giờ ăn cá suối Ngọc, cũng như quen gọi cá thần từ đó.


Theo các nhà khoa học, đàn cá ở suối Cẩm Lương là cá giốc (hay còn gọi là cá dốc), thuộc bộ cá chép và có tên trong sách đỏ Việt Nam. Giống cá màu xanh thẫm này có hai bên mép đỏ tươi, mỗi khi bơi phát ra những luồng ánh sáng lấp lánh như ánh ngọc. Có một điều kỳ lạ là những con cá ở suối chỉ bơi quanh quẩn đúng một đoạn suối dài hơn 100m và không bơi ra xa hơn nữa. Thậm chí có mùa nước lũ đổ về nước dâng cao lên khắp cả con đường lối dẫn vào suối nhưng kỳ lạ thay cá không bao giờ trôi đi, khi nước lớn tràn vào suối, những con cá lớn chui vào hang, hốc để trốn, những con nhỏ nếu bị nước cuốn đi cũng có thể tự biết đường bơi trở lại.

 

Cá ở đây nhiều vô kể với các loại lớn bé khác nhau, con lớn nặng chừng 30kg – đó là cá chúa. Vào ban ngày, từng đàn nối đuôi nhau bơi lượn từ trong hang ra ngoài. Đến đây, du khách có thể đùa vui với cá, cho cá ăn và ngắm nhìn sinh hoạt tự nhiên của giống cá này. Cuối ngày, đàn cá thần sẽ bơi xuyên qua một khe hang nhỏ để trú ẩn bên trong núi. Cửa hang chỉ rộng hơn một sải tay nhưng lòng hang rộng và sâu, đủ sức chứa hàng nghìn con cá.


Có một điều kỳ lạ là mặc dù đàn cá rất đông đúc nhưng nước ở suối luôn trong vắt và không có mùi tanh, có thể dùng cho sinh hoạt hoặc nấu nướng. Đây là một điều khó lý giải mà các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu.

 

Hàng năm, nhất là vào dịp tháng giêng âm lịch, suối cá thần Cẩm Lương thu hút hàng nghìn du khách thập phương ghé thăm và tham dự lễ hội rước cá Thần truyền thống của người Mường. Người dân trong vùng tin rằng đây là giống cá thần hiếm có và sự sung túc của đàn cá sẽ đem lại bình yên no ấm cho cuộc sống của người dân địa phương.


Trong quần thể suối cá còn có đền Ngọc thờ tứ phủ Long Vương, phía trên suối cá có động Cây Đăng với cảnh sắc lung linh huyền bí, nhiều nhũ đá hình thù kỳ vĩ, lấp lánh như kim cương… Một điều thú vị là du khách bước vào cửa hang một đường, sau khi khám phá hết sẽ ra ngoài bằng đường khác tạo thành một vòng tròn khép kín.


Suối cá thần Cẩm Lương là sản phẩm độc đáo của thiên nhiên, với cảnh quan tuyệt đẹp, có rừng, có sông suối, bản làng và những người dân hiền lành, bình dị tạo nên một bức tranh làng quê sơn thuỷ hữu tình. Hãy một lần đến nơi đây để say ngắm thỏa thuê cảnh sắc, trút bỏ bao phiền muộn ưu tư…

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Mỹ Thuật Đồ Đồng ở Việt Nam

Là một nghề thủ công truyền thống đã có lịch sử hàng nghìn năm, nghệ thuật đúc đống ở Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và đạt được đến độ đỉnh cao vào thế kỷ XIX, XX.

 

Nghệ thuật đúc đồng xuất hiện từ thời Phùng Nguyên, phát triển rực rỡ dưới thời đại Đông Sơn cách nay gần 3 nghìn năm, tiêu biểu cho thời kỳ này có trống đồng Ngọc Lũ. Từ thời Lý – Trần đến các thời Lê, Nguyễn, nghệ thuật đúc đồng ở Việt Nam càng phát triển mạnh mẽ tạo nên những dòng sản phẩm đồng đa dạng.


Thửa sơ khai, nghệ thuật đúc đồng được hình thành chủ yếu từ nhu cầu sinh hoạt trong cuộc sống. Người dân đã tạo nên các sản phẩm để phục vụ sinh hoạt hàng ngày như nồi, bát, cốc, những dụng cụ săn bắn…Sau đó dần dần phát triển thêm những sản phẩm trưng bày, trang sức. Sản phẩm đồ đồng thờ cúng cũng được phát triển từ tín ngưỡng thờ cúng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Nhu cầu thờ cùng cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề thủ công trong đó đặc biệt là nghề đúc đồng. Những sản phẩm như bát nhang, lư hương, chân nến, tượng Phật…được các làng đúc đồng và các nghệ nhân tạo ra để phục vụ tín ngưỡng thờ cùng thiêng liêng của người Việt với kiểu dáng vô cùng đa dạng. Trong cả những giai đoạn mà sản phẩm gia dụng đồ đồng không còn thịnh hành thì sản phẩm đồ đồng thờ cùng vẫn được ưa chuộng.


Tuy mỗi làng nghề, mỗi gia đình có nghề đúc đồng truyền thống sẽ có một bi quyết riêng để tạo dấu ấn cho sản phẩm song kỹ thuật đúc đồng nhìn chung vẫn theo những bước cơ bản.  Đầu tiên là tạo mẫu, người thợ sẽ dùng đất sét hay thạch cao dẻo để tạo thành mẫu đã định sẵn. Bước thứ hai là tạo khuôn, dùng đất phù sa trộn đất sét, tro trâu và bông vụn đắp ngoài vật mẫu. Thứ ba, nấu chảy nguyên liệu: dùng đồng vụn và các hợp kim với tỉ lệ phù hợp đun nóng chảy và trộn lẫn với nhau. Tiếp theo là rót khuôn, đây là khâu khó nhất và đòi hỏi trình độ của tay nghề cao của người thợ. Bước cuối cùng là hoàn thiện sản phẩm, sau khi nguội, dỡ sản phẩm ra khỏi khuôn, mài, giũa, đục, chạm,  tách và đánh bóng theo ý tưởng của nghệ nhân.


Để sản phẩm mượt mà, sáng bóng không bị gờ, không lẫn đồng sóng hay đồng cháy phụ thuộc nhiều vào khả năng của những người thợ. Sản phẩm sau khi hoàn tất phải đồng sắc – đồng khí mới đạt yêu cầu kỹ thuật. Còn về tính nghệ thuật lại đòi hỏi cao trong khâu chế tác, những chi tiết chạm trổ hay tạo hình sản phẩm là yếu tố cốt lõi tạo thành giá trị nghệ thuật.

 

Nhìn lại những tác phẩm nổi tiếng của lịch sử có thể thấy rõ sự phát triển của nghệ thuật đúc đồng mà sau này được nâng lên thành riêng ngành mỹ thuật đồ đồng ở Việt Nam. Trống đồng Ngọc Lũ là tác phẩm tiêu biểu của nghệ thuật đúc đồng từ thời kỳ Đông Sơn. Sản phẩm tiêu biểu cho thời nhà Nguyễn là Cửu đỉnh và Cửu vị thần công hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế. Hiện vật này cũng đã được Thủ tướng Chính Phủ công nhận là Bảo vật Quốc gia trong đợt công nhận thứ nhất ngày 01/10/2012. Bên cạnh đó không thể không nhắc đến Tượng thánh Trấn Vũ bằng đồng đen đặt ở đền Quan Thánh, Hà Nội. Đây là bức tượng được đúc bằng đồng đen, cao 3.96 mét với chu vi 8 mét và nặng tới 4 tấn.


Tuy có kích thước lớn như vậy nhưng tượng Tượng thánh Trấn Vũ không phải là pho tượng đồng lớn nhất. Pho tượng đồng lớn và đẹp nhất ở Việt Nam hiện nay là tượng Phật A Di Đà tại chùa Thần Quang. Pho tượng này do các nghệ nhân làng Ngũ Xã, Hà Nội đúc trong những năm 1949 -1952. Nếu tính cả tòa sen 96 cánh, pho tượng này cao khoảng 5,5 mét; với trọng lượng 12 tấn.


Qua lịch sử hàng nghìn năm kể từ khi xuất hiện cho đến nay, khắp trên dải đất hình chữ S đã có rất nhiều làng nghề đúc đồng phát triển. Các làng nghề này cũng tự tìm tòi và tạo hướng đi riêng biệt chuyên sâu của làng với những dòng sản phẩm chủ chốt như: gò đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh); đúc đồng Đền Cầu (Bắc Ninh) và Đông Mai (Văn Lâm, Hưng Yên); đúc đồng Huế; đúc lư hương Tân Hoà Đông và dát đồng tam khí Hoà Hưng (Thành phố Hồ Chí Minh) và các làng nghề khác thuộc các tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, Thanh Hoá…

 

Chính những người thợ thủ công từ các làng nghề này đã mang tinh hoa nghề của họ đến đất Thăng Long để rồi hình thành làng đúc đồng Ngũ Xã – nổi tiếng hơn 500 năm qua. Vào thế kỷ thứ XIX, làng Ngũ Xã được coi là trung tâm đúc đồng lớn và nổi tiếng nhất cả nước.


Hiện nay, các sản phẩm đúc đồng chủ yếu vẫn là những sản phẩm thờ cúng và đồ trưng bày. Đồ gia dụng bằng đồng không còn phổ biến và ít được người dân sử dụng. Mặc dù vậy, các làng nghề đúc đồng truyền thống trên cả nước trong đó đặc biệt có làng Ngũ Xã vẫn phát triển mạnh mẽ. Nghề đúc đồng cũng là một trong số ít những nghề truyền thống không những vẫn tồn tại mà còn ngày càng phát triển ở Việt Nam. Cũng chính vì thế mà mỹ thuật đồ đồng trở thành một loại hình riêng góp phần không nhỏ vào sự đa dạng của các loại hình mỹ thuật ở Việt Nam.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Chợ hải sản tươi ngon có “view đẹp nhất nhì Việt Nam”

Chợ hải sản tươi sống trên đảo Cù Lao Chàm không chỉ làm hài lòng người mua bởi những loại hải sản tươi ngon độc đáo mà còn chinh phục du khách bởi cảnh quan tự nhiên đẹp miễn chê.

Nằm lọt thỏm giữa một bên là biển xanh cát trắng sóng vỗ rì rào, một bên là vách núi cheo leo, chợ hải sản tươi sống trên đảo Cù Lao Chàm không chỉ làm hài lòng người mua bởi những loại hải sản tươi ngon độc đáo mà còn chinh phục du khách bởi cảnh quan tự nhiên đẹp miễn chê.
 
Chợ hải sản tươi sống tại thôn Bãi Hương, xã Tân Hiệp – Cù Lao Chàm, TP Hội An (Quảng Nam họp chợ từ 8 giờ sáng với sản phẩm là thành quả từ những chuyến ra khơi đánh bắt gần bờ của ngư dân vùng đảo. Từ lúc 4 giờ sáng, ngư dân đã hối hả mang theo cần câu và lưới ra khơi đánh bắt hải sản. Sau hơn 4 giờ lênh đênh trên biển bằng thúng chai và thuyền, những ngư dân này mang thành quả mình thu được về bán tại chợ hải sản Bãi Hương.
 

Người đi chợ vừa mua hải sản vừa tha hồ ngắm cảnh biển núi

Người đi chợ vừa mua hải sản vừa tha hồ ngắm cảnh biển núi

Một con cá bò da loại lớn

Một con cá bò da loại lớn
 

Bà Trần Thị Dầu (SN 1953) cho biết: “Đa số người dân ở đây mưu sinh bằng nghề đánh bắt hải sản để kiếm sống. Nhiều thì chuyển vào đất liền để bán cho các nhà hàng, chợ và khu chợ hải sản tại thôn Bãi Hương”.

“Những năm gần đây, nhờ có khách du lịch nên việc buôn bán hải sản của ngư dân được khấm khá. Chúng tôi cũng học lỏm vài ba câu xã giao tiếng Anh để bán cho khách nước ngoài”, bà Dầu cho hay.

Theo ghi nhận của chúng tôi, chợ hải sản tại đảo Cù Lao Chàm không náo nhiệt, ồn ào như những ngôi chợ tại đất liền mà cảnh mua bán diễn ra êm ả, thuận mua vừa bán.

Hải sản vừa mới được đánh bắt đưa vào khu chợ vẫn còn sống

Hải sản vừa mới được đánh bắt đưa vào khu chợ vẫn còn sống

Ghẹ và con đẳng sâm

Ghẹ và con đẳng sâm

Ghẹ và con đẳng sâm

Cá sơn và tôm tích còn tươi sống

Cá sơn và tôm tích còn tươi sống

Mực nang và ốc biển tươi sống được bán tại chợ

Mực nang và ốc biển tươi sống được bán tại chợ

Mực nang và ốc biển tươi sống được bán tại chợ

Khu chợ hải sản nằm lọt thỏm giữa núi và biển.

Khu chợ hải sản nằm lọt thỏm giữa núi và biển.

Khu chợ hải sản nằm lọt thỏm giữa núi và biển.

Từ khu chợ hải sản hướng mắt ra biển, có thể thấy nhiều du khách đang trải nghiệm câu cá trên biển bằng thúng chai.
Theo Dân Việt

Nguồn: DANTRI.COM.VN

“Giải nhiệt” ngày hè ở 3 điểm nghỉ mát nổi tiếng nơi vùng cao

(Dân trí) – Vùng núi cao Lào Cai từ lâu xuất hiện 3 điểm nghỉ mát nổi tiếng gồm Sa Pa, Bắc Hà, Ý Tý được nhiều du khách trong và ngoài nước chọn tới nghỉ ngơi trong những ngày hè oi nồng.

Sa Pa – “Kinh đô màu hè”

 

Theo sử sách ghi lại, mùa đông năm 1903 đoàn thám hiểm của sở địa lý Đông Dương khi đi đo đạc, vẽ bản đồ thực địa họ đã khám phá ra phong cảnh tuyệt đẹp của mặt bằng vùng đất Lồ Suối Tủng và làng Sa Pả.

 

Sự kiện này góp phần hình thành vùng du lịch Sa Pa nổi tiếng sau này và năm 2003 lần đầu tiên huyện Sa Pa và tỉnh Lào Cai chính thức  tổ chức kỷ niệm 100 năm du lịch Sa Pa (1903 – 2003).

 

Vùng nghỉ mát Sa Pa được mệnh danh Kinh đô của mùa hè

Vùng nghỉ mát Sa Pa được mệnh danh “Kinh đô của mùa hè”

Thị trấn du lịch Sa Pa nằm trên độ cao 1.600m so với mặt nước biển nên ngày hè nơi đây có 4 mùa trong năm (sáng là mùa xuân, trưa là mùa hạ, chiều là mùa thu và tối đến là không khí của mùa đông), còn mùa lạnh nơi này thường xuất hiện mưa tuyết nhiệt đới tạo ra cảnh sắc thần tiên cho vùng du lịch Sa Pa ít nơi nào trên đất Việt Nam có được.

 

Bây giờ dù có điều hòa nhiệt độ làm mát theo ý thích nhưng nhiều người vẫn thích lên nghỉ mát tại SaPa bởi vùng đất này không khí trong lành, thời tiết ngày nóng nhất vẫn luôn mát mẻ như mùa thu. Điều đặc biệt là tất cả các khách sạn, nhà nghỉ ở Sa Pa không lắp điều hòa nhiệt độ hay lắp quạt mát bởi không khí trung bình ở đây mùa hè là trên dưới 20 độ C, dù đi chơi giữa trời nắng chang chang… Vì thế mới hiểu thêm tại sao nơi này  là vùng nghỉ mát nổi tiếng nhất Việt Nam và người Pháp ngày xưa lại gọi SaPa là “Kinh đô mùa hè của xứ Bắc Kỳ”.

 

Từ ngày thông đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai đến nay do lên Sa Pa rút ngắn 1/2 thời gian so với trước nên những ngày nghỉ cuối tuần và ngày nắng nóng như những ngày này vùng du lịch Sa Pa thường đón rất đông khách tới nghỉ mát.

 

Không ít gia đình đi nghỉ cả nhà nên khách sạn, nhà nghỉ ở Sa Pa luôn được đặt kín phòng, hàng trăm nhà dân ở xung quanh thị trấn mở cửa đón khách tới nghỉ góp phần tăng thêm thu nhập và giảm tải hiện tượng chặt chém giá phòng của một số khách sạn, nhà nghỉ. Còn khách du lịch sẽ không sợ lên nghỉ mát SaPa ngày cuối tuần hết nơi ngủ qua đêm như vài năm trước.

 

Cao nguyên trắng Bắc Hà – Điểm nghỉ mát hấp dẫn

 

Cao nguyên Bắc Hà cao hơn 1.200 mét so với mặt nước biển cũng là vùng nghỉ mát nổi tiếng của tỉnh Lào Cai từ lâu và nằm cách xa vùng du lịch Sa Pa khoảng gần 100 km về phía đông.

 

Vùng nghỉ mát Bắc Hà được mệnh danh Cao nguyên trắng

Vùng nghỉ mát Bắc Hà được mệnh danh “Cao nguyên trắng”

Lên thăm vùng du lịch Bắc Hà du khách sẽ có cơ hội ngắm phong cảnh tuyệt đẹp núi non, sông suối của vùng đất được mệnh danh “Cao nguyên trắng” mỗi khi mùa xuân mới về hoa mận, hoa mơ nở trắng ngút ngàn núi rừng tạo nên bức tranh tuyệt mỹ về mùa xuân vùng núi cao Lào Cai.

 

Thăm vùng đất Bắc Hà du khách còn được đi tham quan, khám phá những phiên chợ nổi tiếng Tây bắc như chợ Cốc Ly còn giữ được nhiều nét cổ xưa “hàng đổi hàng” họp trên thượng nguồn sông Chảy, chợ thổ cẩm Bắc Hà từng được một tạp chí nước ngoài xếp hạng là một trong 10 chợ phiên hấp dẫn nhất Đông Nam Á, chợ Cán Cấu, chợ Lùng Phình, chợ Si Ma Cai… có nhiều nét độc đáo ít nơi nào có được.

 

Vùng nghỉ mát Ý Tý – Sa Pa “thu nhỏ” của Lào Cai

 

Ý Tý là một xã vùng cao và biên giới nằm ở phía tây của huyện Bát Xát. Vùng Ý Tý nằm trên độ cao hơn 1.600 mét so với mặt nước biển nên ở đây quanh năm sương mù bao phủ và mùa đông thường có băng tuyết hoặc mưa tuyết phủ trắng khu rừng già cao hơn 2.000 mét.

 

Vùng nghỉ mát Bắc Hà được mệnh danh Cao nguyên trắng

Vùng nghỉ mát Ý Tý độc đáo với những ngôi nhà trình tường đất , mái lợp cỏ của người Hà Nhì đen trông như những chiếc nấm khổng lồ. Ảnh: Ngọc Bằng

Do đi lại rất khó khăn nên trước đây vùng đất này coi là “ốc đảo” của tỉnh Lào Cai mặc dù thời tiết mùa hè nơi này mát mẻ tương tự như SaPa.

 

Mấy năm nay tuyến đường mới mở từ  Trịnh Tường  tới Á Mú Sung  để lên Ý Tý và  xuyên rừng già về Dền Sáng, Mường Hum được rải nhựa nên đi lại rất thuận lợi.  Do đó thu hút khá đông du khách trẻ , các nghệ sỹ nhiếp ảnh tới thăm quan, khám phá , chụp ảnh, nhất là khi Ý Tý xuất hiện băng tuyết phủ trắng rừng hay đầu xuân mây trắng cuồn cuộn bay về tạo ra cảnh đẹp như thần tiên… Tới nghỉ mát ở Ý Tý du khách sẽ được du ngoạn trong rừng già có nhiều loại cây rừng trăm tuổi cùng nhiều loài hoa đỗ quyên cổ thụ khoe sắc đẹp tới nao lòng.

 

Ý Tý là quê hương của người dân tộc Hà Nhì đen một trong những dân tộc ít người nhất của Việt Nam với nét văn hóa truyền thống rất độc đáo quanh năm bản làng đều có lễ hội.
 

Những ngôi nhà trình tường đất dày gần 1 mét, mái lợp cỏ trông như những chiếc nấm khổng lồ là điểm đến hấp dẫn nhất du khách tới thăm Ý Tý dù mùa hè hay mùa đông…

 

Bài và ảnh: Phạm Ngọc Triển

Nguồn: DANTRI.COM.VN

TIN MỚI NHẤT