Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Lễ hội Tăm Khảu Mảu dân tộc Thái Yên Bái

Lễ hội Tăm Khảu Mảu (Lễ hội giã cốm) là phong tục tập quán, nét đẹp văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Tày, Thái, Mường… tỉnh Yên Bái nói chung và người Thái ở Nghĩa Lộ nói riêng, được tổ chức vào khoảng tháng 9, tháng 10 âm lịch. Đó là lúc lúa nếp vừa chớm vào trắc, hạt lúa ngả màu vàng nhạt là thời điểm người dân tập trung làm cốm.

Lễ hội giã cốm là ngày hội của mọi lứa tuổi. Người già thì vui mừng phấn khởi thưởng thức hương cốm và chuẩn bị bước vào vụ mùa bội thu, trẻ thơ thì được nhảy múa, nô đùa dưới trăng thanh. Còn với nam nữ thanh niên, ngoài việc đua tài, khoe sắc thì đây cũng là dịp tạo điều kiện cho nhiều đôi bạn trẻ tâm sự hẹn hò, có những đôi sau mùa cốm đã nên vợ nên chồng.

 

 

Trong lễ hội giã cốm, tiếng chày, tiếng đuống chính là công cụ tạo ra nét độc đáo, hấp dẫn bởi những âm thanh phát ra từ những công cụ này được dân bản ví như những giai điệu âm nhạc mà không phải ở nơi nào cũng có được. Lễ hội giã cốm gồm 5 giai điệu gõ đuống (Quéng Lỏng).

 

Giai điệu thứ nhất là gõ đuống nhịp ba (Quéng Lỏng Kha Sam). Giai điệu này chỉ có ba đôi nam nữ thể hiện, mỗi người cầm một chiếc chày gõ xuống mép đuống theo điệu nhịp 3, âm thanh rộn ràng, lúc bổng, lúc trầm quện vào nhau nghe như thác nước đang nô đùa trong gió, thể hiện sự vui vẻ, yêu cuộc sống của con người.

 

Giai điệu thứ hai là gõ đuống kéo chảy (Quéng Lỏng Lạc Sác). Khác với điệu Kha Sam, điệu Quéng Lỏng Lạc Sác sử dụng đông người hơn, thường là 8 người chia nhau đứng ở 2 mép đuống mỗi bên bốn người, mỗi người cầm một chày gõ vào mép đuống theo điệu nhịp 2. Tiếng chày, tiếng đuống lúc này nghe như dàn đồng ca, minh họa cho sự rạo rực, phấn chấn của nhà nông lúc được mùa.

 

Giai điệu thứ ba trong lễ hội là gõ đuống theo nhịp con Cắp Cáng kêu (Quéng Lỏng Cắp Cáng). Điệu Quéng Lỏng Cắp Cáng được dựa theo truyền thuyết về tình yêu của một đôi trai gái nghèo, họ yêu nhau thắm thiết nhưng do lễ giáo phong kiến, mà không đến được với nhau.

 

Giai điệu thứ tư là điệu Nẹp Nứa (Quéng Lỏng Kèm Hừa). Đây là điệu Quéng Lỏng được dùng bằng hình tượng, khi chèo thuyền lướt sóng phải dùng mưu, để giữ thăng bằng cho con thuyền nhỏ khỏi bị lật khi gặp sóng to, gió lớn. Qua âm thanh và động tác của các nghệ nhân biểu diễn trong lễ hội cho thấy con người cần phải có ý chí và nghị lực thì mới có thể vượt qua mọi khó khăn, gian khổ.

 

Cuối cùng là giai điệu Dệt Cửi (Quéng Lỏng Tắm Húc). Đây là nghề truyền thống của dân tộc Thái được các nghệ nhân thể hiện bằng nhạc cụ chày và đuống. Điệu Quéng Lỏng Tắm Húc nói lên sự chịu thương, chịu khó của người phụ nữ Thái trong việc quay xa dệt vải và gìn giữ tổ ấm gia đình.

 

Trong khi các đôi nam nữ thanh niên nô nức giã cốm thì các bà, các chị cũng khẩn trương chuẩn bị đồ xôi, nướng thịt, cá, các loại hoa quả để chuẩn bị lễ cúng Tăm Khả Mảu.

 

Lễ cúng Tăm Khảu Mảu, gồm có các lễ vật như: Đầu lợn và xôi, thịt nướng, cá nướng, các loại hoa quả của ngon vật lạ mà người nông dân làm ra từ chăn nuôi và sản xuất bằng bàn tay khéo léo của các bà, các chị dân tộc Thái.

 

Lễ hội Tăm Khảu Mảu là nét văn hóa đặc trưng tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và dân tộc Thái là một bông hoa trong những vườn hoa muôn sắc ấy. Lễ hội Tăm Khảu Mảu là một hoạt động văn hóa dân gian, mang bản sắc riêng của dân tộc Thái Nghĩa Lộ nói riêng và các dân tộc tỉnh Yên Bái cần được tích cực duy trì, bảo tồn và phát huy.

 

Sau phần lễ cúng Tăm Khảu Mảu là phần các hoạt động văn hóa dân gian, thể dục thể thao: kéo co, đẩy gậy, ném còn, múa các điệu xòe cổ của người Thái Mường Lò./.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đặc sắc lễ Tết Hoa của dân tộc Cống

Cứ vào dịp cuối tháng 11 dương lịch hằng năm, khi mùa màng đã thu hoạch xong, người dân tộc Cống ở xã Pa Thơm (huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) lại quây quần cùng nhau vui trong lễ Tết Hoa (tiếng dân tộc là Mền loóng phạt ai).

Đây là nghi lễ Tết cổ truyền đặc trưng nhất của người Cống được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, phản ánh sinh động đời sống và bản sắc dân tộc.

 

 

Vượt qua hàng chục cây số đường đồi núi, chúng tôi đến bản Púng Bon (xã Pa Thơm), nơi diễn ra Tết Hoa và các chương trình giao lưu văn nghệ của đồng bào dân tộc Cống.

 

Năm nay, tất cả bà con người Cống ở ba bản của xã Pa Thơm là Si Văn, Huổi Moi và Búng Bon tập trung tại bản Púng Bon để cùng tổ chức Tết Hoa.

 

Con đường vào bản nhộn nhịp hơn mọi ngày, với khuôn mặt háo hức, phấn khởi, tất cả mọi người đang chuẩn bị những vật dụng cho ngày Tết.

 

Người chủ trì lễ cúng là già làng, người có uy tín được bà con trong bản kính trọng và cũng chính là thầy cúng trong phần lễ.

 

Địa điểm diễn ra lễ cúng cho Tết Hoa tại nhà già làng. Trước khi lễ diễn ra một tuần, thầy cúng chọn ngày lành, tháng tốt (tránh ngày mất, chôn cất của những người quá cố trong bản).

 

Từ sáng sớm, lễ chủ mỗi gia đình lên nương hái nhiều loại hoa để về trang trí trong nhà, đặc biệt là không thể thiếu hoa mào gà, theo quan niệm của người Cống là biểu tượng của sự may mắn, tốt đẹp.

 

Hoa mào gà được mang đến nhà thầy cúng, trang trí từ gốc tới ngọn trên một cây tre còn nguyên cành cao tới sát nóc dựng giữa nhà. Màu hoa mào gà đỏ thắm, tạo nên không khí ấm áp khắp không gian lễ.

 

Cùng với việc chuẩn bị hoa mào gà, mỗi gia đình chuẩn bị lễ vật cúng để mang đến nhà thầy cúng. Lễ vật bao gồm gà, sóc, chuột, cá suối, bí, khoai sọ, rượu ống, tất cả được sắp theo đôi do người Cống cho rằng ma tổ tiên chỉ nhận đồ lễ có số chẵn, không nhận số lẻ.

 

Ngoài ra, người Cống còn để những dụng cụ lao động như lưỡi dao, lưỡi thuổng lên một chiếc mẹt và rắc trấu cốm lên trên với quan niệm những vật dụng này đã giúp con người phát nương, cuốc rẫy nên khi con người thu lúa nó cũng phải được chia phần.

 

Khi mọi lễ vật đã được chuẩn bị chu đáo, mọi người tắm rửa sạch sẽ, mặc trang phục dân tộc mình – những bộ quần áo được họ tự may để mặc trong những dịp lễ, tết quan trọng của dân tộc.

 

Khoảng 4 giờ chiều, tất cả bà con trong bản khoác lên mình bộ trang phục dân tộc, xếp hàng bưng lễ vật đến nhà thầy cúng để bắt đầu nghi lễ cúng Tết Hoa.

 

Theo các cụ già người Cống, đây là giờ mà tổ tiên có thể về nhà nhận lễ. Lễ vật của tất cả bà con trong bản được xếp lại thành một mâm lễ thịnh soạn, đặt ở góc nhà, phía trên cắm những bông hoa mào gà đỏ rực.

Thầy cúng thắp hai ngọn nến và bắt đầu nghi thức cúng. Trong bài cúng, thầy cúng mời tổ tiên về, gọi ba hang, ba núi trấn giữ quanh bản về chứng kiến.

Sau khi gọi mời tổ tiên về, thầy cúng nghỉ khoảng 3 phút rồi gọi mời tổ tiên và bà con cùng ăn uống. Thầy thay mặt dân bản báo cáo tình hình mùa màng, chăn nuôi, sức khoẻ của bà con trong năm qua và cầu xin các thần linh, tổ tiên phù hộ dân bản sang năm mới dồi dào sức khỏe, mùa màng bội thu, gà, lợn đầy chuồng và cầu cho mọi sự tốt lành may mắn đến cho bản mường.

 

Sau đó, thầy cúng nâng chén rượu chúc mừng mọi người sang năm mới những điều tốt đẹp nhất. Mọi người quây quần uống rượu cần và phá cỗ Tết tại nhà già làng rồi ai về nhà nấy để thực hiện nghi lễ Tết tại nhà mình và chuẩn bị mâm cỗ đến bà con, hàng xóm đến chúc Tết.

 

Già làng Nạ Văn Phanh cho biết theo tổ tiên người Cống lưu truyền, nếu Tết Hoa chưa được tổ chức thì chưa ai được phép đi phát nương, đào củ mài và vui chơi, ca hát.

Tết Hoa là nghi lễ quan trọng nhất trong năm của người dân tộc Cống, ngoài ra còn có lễ cúng cơm mới, cúng ma nhà, cúng tổ tiên trời đất, lễ cưới, lễ mừng nhà mới…

Tết Hoa là dịp để bà con hướng về cội nguồn tổ tiên, bày tỏ lòng biết ơn với các thần linh đã phù hộ cho bà con một năm có sức khỏe và mùa màng tươi tốt đồng thời cầu xin những điều tốt đẹp cho một năm mới.

Sau mâm cỗ thịnh soạn, đến khoảng 7 giờ tối, khi men rượu đã ngấm, họ tập trung ra nhà văn hóa gõ chiêng, chũm chọe, hát múa tưng bừng. Cả mường cùng hân hoan trong tiếng chiêng đồng âm vang và ngân xa.

 

Họ cùng nhảy múa, hát ca và ném những hạt giống thóc, ngô ra khắp không gian xung quanh với mong ước bản mường bước sang một năm mới vạn vật sinh sôi nảy nở. Mọi người đến xem hò reo, cổ vũ náo nhiệt, khiến không khí của ngày hội thêm tưng bừng.

 

Chương trình vui Tết Hoa được kéo dài đến ngày hôm sau, bà con trong bản tập trung ra nhà văn hóa để tham gia phần hội với các tiết mục thi đặc sắc, các trò chơi dân gian như: cà kheo, bắn nỏ, kéo co, đẩy gậy… Các trò chơi diễn ra sôi nổi trong sự cổ vũ nhiệt tình của bà con và khách mời.

 

Ông Lò Văn Không, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Pa Thơm cho biết xã Pa Thơm có 76 hộ là đồng bào dân tộc Cống, trong đó tập trung hơn 40 hộ ở bản Púng Bon, còn lại là ở bản Huổi Moi và Si Văn.

 

Tết Hoa là nghi lễ đặc sắc nhất của người Cống ở Pa Thơm, đây là dịp để tôn vinh bản sắc, nét đẹp truyền thống trong văn hóa tín ngưỡng của đồng bào dân tộc Cống.

 

Những năm qua, Ủy ban Nhân dân xã Pa Thơm đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc Cống phát triển kinh tế như dự án bò luân chuyển của Hội nông dân, hướng dẫn bà con phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, miễn giảm học phí cho học sinh…

 

Chính quyền xã cũng có nhiều chính sách cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc của dân tộc Cống nói riêng và cộng đồng các dân tộc ở xã Pa Thơm nói chung./.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Thiên nhiên hùng vĩ tại Cao Bằng

Là một tỉnh miền núi nơi địa đầu Tổ Quốc, Cao Bằng không có những công trình kiến trúc hoành tráng, không có những khu du lịch được đầu tư lớn, chỉ có núi rừng với thiên nhiên hùng vĩ để níu chân du khách.

Nằm tại vùng Đông Bắc của Việt Nam, phía Tây giáp với Tuyên Quang và Hà Giang, phía Nam giáp với Bắc Kạn và Lạng Sơn, phía Bắc và phía Đông giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), Cao Bằng ngày hôm nay vẫn giữa được nét hoang sơ với núi, rừng, thiên nhiên hùng vĩ.

 


Núi, sông, thác nước…là tài nguyên có nhiều nhất tại Cao Bằng vì vậy mà vùng đất này có rất nhiều cảnh quan đẹp. Nếu đến Cao Bằng, khách du lịch có thể thăm quan thác Bản Giốc; động Ngườm Ngao; suối Lê- nin; hang Pắc Bó; hồ Thang Hen.


Thác Bản Giốc là địa điểm khá nổi danh ở Việt Nam không chỉ bởi vẻ đẹp kỳ vĩ mà còn bởi đây là thác nước lớn thứ tư trên thế giới trong số các thác nước đẹp nhất nằm trên đường biên giới và cũng là thác nước tự nhiên lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á. Bởi là một thác nước lớn, nên có thể nhìn thấy Bản Giốc từ khoảng cách rất xa. Giữa thác có một mô đất rộng phủ kín cây xanh, mô đất xẻ dòng sông thành ba luồng nước khác nhau. Vào những ngày nắng, hơi nước bắn ra từ thác mang lại hình ảnh như cầu vồng dưới nắng. Cách thác Bản Giốc khoảng 5 km là động Ngườm Ngao, đây cũng là cảnh quan tuyệt đẹp tại Cao Bằng.


Động Ngườm Ngao hoang sơ, quyến rũ, mang đậm màu sắc huyền ảo. Từng chùm thạch nhũ buông rủ trong động tạo nên những hình thù kỳ lạ, kích thích sự tò mò nơi du khách. Khung cảnh rất sinh động, kỳ thú khiến ai cũng phải thán phục. Trong lòng hang động Ngườm Ngao còn có một dòng suối ngầm chảy qua, tiếng nước chảy róc rách vang vọng trong núi đá càng làm tăng vẻ bí ẩn nơi đây.

 

Suối Lê-nin, hang Pắc Bó là di tích lịch sử nổi tiếng, nơi Bác Hồ đã từng sống và làm việc và trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam sau hơn 30 năm bôn ba ở nước ngoài. Suối Lê-nin, hang Pắc Bó là 2 địa danh đã rất quen thuộc với mỗi người con đất Việt từ khi còn là đứa trẻ mới chập chững đến trường. Không chỉ là một di tích lịch sử quan trọng, suối Lê-nin và hàng Pắc Bó còn là nơi sơn thủy hữu tình với cảnh núi non, mây trời bình yên và không khí vô cùng dễ chịu, mát mẻ.  


Hồ Thang Hen nước trong xanh như màu ngọc bích, trải dài ngút tầm mắt. Lòng hồ nằm trọn trong khu rừng già nguyên sinh, trên bờ là dãy cây cổ thụ cao, đổ mình in bóng xuống mặt nước. Vào những ngày nóng bức, không khí ở đây vẫn mát lạnh. Để khám phá lòng hồ, du khách có thể thuê thuyền để dạo chơi theo dòng nước. Nếu chọn hình thức đi thuyền ngắm cảnh trên hồ, du khách còn có thể khám phá một số hang động nằm ẩn mình bên những ngọn núi, tán cây dọc theo chiều dài hàng cây số của hồ.

 

Bao quanh hồ là 200ha rừng già mọc nhiều loại dược liệu quý. Không gian trong lành, tĩnh mịch. Hoa cúc quỳ mọc cạnh hồ lắc đầu nhè nhẹ với làn gió thổi từ phía rừng về mang theo tiếng chim vui đùa trong các vòm lá.


Ngoài ra, còn rất nhiều địa danh khác ở Cao Bằng không nên bỏ qua như: thành Bạch Mã, Nghiêu Sơn Lĩnh, khu di tích Kim Đồng…


Nhiều người thích đến Cao Bằng vào mùa xuân, khi đó đất trời Cao Bằng đẹp như một bức tranh thủy mặc. Cảm giác những cơn mưa xuân bất chợt, sương trắng bao phủ và cả những cơn gió mang theo cái lạnh rùng mình thật khó mà diễn đạt thành lời. Tuy nhiên, thực tế mỗi mùa ở Cao Bằng lại mang một vẻ đẹp riêng. Mùa thu tháng 8-9, khi thác Bản Giốc đầy nước xanh ngát hay vào tháng 11-12 khi hoa tam giác mạch và hoa dã quỳ nở khắp núi rừng…mùa nào đẹp nhất, thời điểm nào thích hợp nhất để đến Cao Bằng còn tùy thuộc vào quan niệm và mục đích chuyến đi của mỗi du khách.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Trải nghiệm ngày bình yên ở thung lũng Mai Châu – Hòa Bình

Với 1 ngày ở Hà Nội mà muốn khám phá Tây Bắc, bạn có thể lựa chọn Mai Châu. Bạn có thể đăng ký tour hoặc tự đi xe máy, đón xe buýt lên ngắm thung lũng đẹp như tranh nơi miền cao.

Sau những ngày khám phá phố cổ, mua sắm, hay loanh quanh phố xá ăn uống ở Hà Nội, nhiều người thường có ý tưởng khép lại trọn vẹn chuyến du lịch của mình bằng chuyến đi ngắn ngày đến thung lũng vàng Mai Châu, Hòa Bình. Đây thật sự là lựa chọn tuyệt vời để bạn khám phá vẻ đẹp hiếm có của ngôi làng giữa thung lũng trù phú.

 

 

Đến nơi, Mai Châu bày ra trước mắt bạn cảnh sắc đẹp như tranh vẽ bao quanh bởi những núi non hùng vĩ, đồng lúa xanh mát. Cách phổ biến nhất mà nhiều người thường chọn để thăm thú Mai Châu là đạp xe dạo quanh ngôi làng. Nếu đi theo tour thì xe đạp nằm trong lịch trình tour, nếu đi tự túc thì bạn có thể thuê xe ở những nhà xung quanh. 

 

Thong dong đạp xe quanh làng, bạn sẽ ngắm được khung cảnh bình yên, tham quan làng nghề và mua sắm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ địa phương như khăn quàng cổ, áo, túi dệt thổ cẩm… Hoặc leo lên những dốc đá cao để ngắm nhìn vẻ đẹp thanh bình đầy mê đắm của làng từ điểm nhìn trên cao.

Không chỉ có vậy, bạn chắc chắn sẽ thích thú khi gom vào tầm mắt hình ảnh về những ngôi nhà sàn, những con đường quanh co, giếng nước cổ, gốc đa già và cả những con người lam lũ nhưng chân chất, hồn hậu.

 

Đi sâu hơn bạn sẽ cảm nhận rằng Mai Châu không chỉ đẹp mà còn là sự pha trộn độc đáo giữa lịch sử, văn hóa và con người. Sau khi dùng bữa cơm theo phong vị địa phương trong một ngôi nhà sàn truyền thống của dân tộc Thái, bạn có khá nhiều lựa chọn để khám phá Mai Châu theo cách riêng mình trước khi lên xe trở về Hà Nội vào cuối buổi chiều.

 

Khi đã dạo quanh đây đó và cho rằng một ngày là không đủ để cảm nhận được hết vị quê hồn hậu, bạn có thể đăng ký dịch vụ ở nhà dân homestay để có cơ hội trò chuyện, khám phá tập quán sinh sống cũng như có được những trải nghiệm đầy đủ, đáng yêu nhất về ngôi làng lọt giữa thung lũng này./.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Nồng nàn rượu men lá Đá Bàn – Quảng Trị

Đây là loại rượu men lá nồng say, dịu ngọt nơi cổ họng làm cho người uống thấy lâng lâng một cảm giác tuyệt vời say đắm lòng người thật khó quên.

Đến bản Đá Bàn ở xã Ba Nang, Đakrông, tỉnh Quảng Trị, bạn sẽ không thể bỏ lỡ dịp thưởng thức chén rượu men lá nơi đây.

 

 

Cất công tìm lá

 

Loại rượu này được chưng cất từ 9 loại rễ, quả, thân, vỏ, lá cây rừng mà người Pa Cô phải cất công vào tận rừng xanh, núi thẳm tìm kiếm mang về rồi đặt lên tấm bạt sạch trải giữa nền bếp để nấu rượu.

 

Nghề làm men lá, nấu rượu men lá của người Pa Cô ở bản Đá Bàn đã có từ lâu đời. Trong các dịp lễ hội như Lễ hội Puh Boh (lễ giữ rẫy), Lễ hội Aya (hội mùa), Lễ hội Ariêuping (lễ bốc mả) của người Pa Cô thì rượu men lá là thức uống không thể thiếu được.

 

Công phu cách nấu

 

Cách nấu rượu men lá cũng lắm công phu, làm men lá trước hết phải có nguyên liệu lá, quả, thân, vỏ của các loại cây rừng như: cây tân tiêu, cà luôi, tà mài (mây đắng), ô mòi, la ngêng, pliêm căn yang, ớt rừng, thuốc lá rừng. Trước kia những loại lá, quả, thân, vỏ cây rừng này chỉ cần ra sau vườn nhà hoặc lên mấy quả đồi quanh bản là có thể hái mang về. Tuy nhiên, mấy năm gần đây, các loại cây rừng nguyên liệu làm men lá ngày càng khan hiếm nên việc đi hái lá cây rất vất vả. Bây giờ muốn có đủ nguyên liệu để làm một mẻ men lá, người dân Đá Bàn phải băng rừng, lội suối vào tận rừng sâu để đào, hái hoặc sang các bản của huyện Sê Pôn, tỉnh Savannakhet, Lào mua về.

 

Các loại lá, quả, thân, vỏ của cây rừng dùng làm men lá sau khi đào hái mang về rửa thật sạch rồi giã nhuyễn đem trộn với nếp đỏ cũng được giã thành bột (nếp đỏ là loại nếp được đồng bào dân tộc Pa Cô ở bản Đá Bàn trồng trên rẫy từ tháng 5 đến tháng 11) theo tỷ lệ 1kg lá, thân, rễ, quả tươi cây rừng trộn với 60 lon nếp đỏ. Khi đã trộn đều hỗn hợp lá, quả, thân, vỏ của cây rừng cùng bột nếp đỏ thì bắt đầu đến công đoạn vo tròn thành từng viên rồi rải lên bạt cho khô. Ba ngày sau, những viên men lá khô cứng lại thì dùng sợi lạt để xâu men lá thành từng chùm rồi treo lên giàn bếp.

 

Cái chất của men

 

Men lá đạt chất là khi dùng tay bẻ một miếng nhỏ cho vào bếp than hồng thì men sẽ bốc cháy và có ngọn lửa màu xanh lam. Nếu bảo quản tốt ở nơi khô ráo, men lá của bản Đá Bàn qua năm sau vẫn sử dụng được để chưng cất rượu.

 

Men lá chuẩn bị xong là đến công đoạn ủ men lá với nếp hoặc gạo đã được nấu để chưng cất rượu. Cứ 15 viên men lá bóp nhỏ trộn đều với khoảng 60 lon nếp, gạo nấu chính sau đó ủ (khoảng 2 – 3 ngày) cho đến khi ấn bàn tay vào thấy nổi bọt nước lên thì cho thêm nước tinh khiết vào rồi tiếp tục ủ kín trong chum, vại trong vòng 10 ngày (mùa hè) và 15 ngày (mùa đông) rồi mang ra chưng cất rượu.

 

Trong những đêm thanh vắng, hương rượu tỏa ngát một góc rừng, thưởng thức rượu men lá cùng với làn điệu Terate’k của người Pa Cô ở bản Đá Bàn, trong tiếng nhạc du dương quyện với men rượu nồng ngọt ngào bạn sẽ có cảm giác bay bổng như lạc vào chốn thiên đường của những vì sao nơi miền sơn cước./. 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Ba Vì vàng rực dã quỳ

Tháng 11, niềm thích thú trước những cánh đồng hoa tam giác mạch ở Hà Giang chưa kịp vợi bớt thì du khách lại có cơ hội thưởng thức thêm hoa dã quỳ ở Vườn Quốc gia Ba Vì. Đứng trên “Đồi dã quỳ”, sắc vàng bạt ngàn của Thủ đô mà ngỡ như đang ở Tây Nguyên.

Dãy Ba Vì có ba đỉnh núi vươn lên. Cao nhất là đỉnh Vua 1.296 mét. Đỉnh Tản Viên cao 1.227 mét và đỉnh Ngọc Hoa cao 1.131 mét. 10 năm nay, Ba Vì luôn là ngọn núi được dân du lịch bụi lựa chọn để kiểm tra sức khỏe trước khi muốn tham gia chinh phục đỉnh Fansipan. Ba Vì chưa bao giờ giảm sức hút với cánh mê phượt. 

 


Những năm 20 của thế kỷ trước, người Pháp đã có ý định biến Ba Vì thành nơi nghỉ dưỡng. Thời đó, Ba Vì vẫn còn có cả hổ và cả một làng săn thú ở chân núi. Hiện ở chân núi vẫn còn di tích Đền Đá Đen, với sự tích kể về một bà mẹ cụt chân và cô con gái. Hàng ngày, cô con gái đi kiếm củi bán lấy tiền để hai mẹ con sinh sống. Một ngày, bà mẹ chờ mãi không thấy con gái về, bèn chống gậy đi tìm. Đến khi thấy xác con gái bị hổ vồ thì bà kiệt sức và chết. Người dân dựng ngôi miếu nhỏ bằng đá đen tại đó để thờ 2 mẹ con nên gọi là Miếu Đá Đen. Năm 1995, có một số người phát tâm xây dựng ngôi miếu thành Đền Đá Đen khang trang như bây giờ. Nhiều người đến Ba Vì, trước khi leo núi đều vào đền thắp nén hương.

Người Pháp khi xây dựng nhà thờ và 9 ngôi biệt thự trên Ba Vì đã mang giống hoa dã quỳ này về trồng nơi đây. Sức sống mãnh liệt đã nhanh chóng biến dã quỳ thành loài hoa bản địa của Ba Vì. Cuối thu, đầu đông, khi sức hút của hoa tam giác mạch Hà Giang đã hơi chùng xuống thì những người ham xê dịch lại được thỏa mắt và ngập tràn cảm xúc khi lên núi Ba Vì với dã quỳ- thứ hoa mê hoặc của đại ngàn. Loài hoa dại này có rất nhiều ở Tây Nguyên, khi thì được gọi là cúc quỳ, lúc thì tên là dã quỳ. Nhìn thoáng, nó vừa giống hoa cúc lại vừa giống hoa hướng dương.

Chân núi Ba Vì của khi trước chỉ toàn thứ cây ổi dại, mâm xôi, xương rồng, hoa muối và lau um tùm. Giờ đây, ngay từ chân núi đã thấy hoa dã quỳ khoe sắc khiến những tay lái mê dốc cua tay áo mê mải vít ga xe máy lên tận cốt 700, nơi đường cụt là chỗ dã quỳ tụ lại cả một quần thể bạt ngàn được gọi là Đồi dã quỳ. Giữa rừng xanh bạt ngàn, dã quỳ hoang dại nhưng đầy kiêu hãnh. 

Vốn đã có kinh nghiệm đến các vùng rừng núi, dân phượt đi Ba Vì  sử dụng ủng nilon, nước bồ kết để chống vắt. Lạc vào thế giới của loài hoa này, dưới chân, phía trước, sau lưng, trên cao đều một màu dã quỳ vàng xen giữa màu xanh của lá, máy ảnh chụp mỏi tay. Nơi này, hoa dã quỳ mọc ở bất cứ đâu. Chỉ một cành dã quỳ rơi từ trên cao xuống cũng thành cây con. Nơi thì dã quỳ nở thành cả vạt đung đưa theo gió. Cũng có khi bắt gặp một bông dã quỳ cô đơn ven đường mòn. Khi đã mệt vì chụp ảnh và ngắm hoa, cũng là lúc hơi lạnh của núi ngấm vào cơ thể, đồ ăn được bày ra và một giấc ngủ trưa ngắn giữa rừng thực sự như món quà quý của thiên nhiên ban tặng. 

Tuy nhiên tại một điểm tham quan thú vị giữa rừng Ba Vì lại khiến cho chúng tôi vô cùng chán nản, đó là khu vực nhà thờ đổ với hình ảnh rác tràn ngập ở sân. Rác này do những người du lịch và cả những người đến đây chụp ảnh cưới với thái độ vô ý thức đã vứt lại. May sao, nhóm “Những người thích đi du lịch” trên Facebook vừa tổ chức được ngày tình nguyện dọn rác cho Ba Vì vào chủ nhật 23-11, trả lại cảnh quan đẹp nơi đây. 

Rời nơi đây, chỉ muốn nói với những du khách đến từ  những đô thị chật chội  các hộp bê tông và khói bụi rằng, nếu bạn đến với  Ba Vì để ngắm dã quỳ, thì chỉ nên để lại dấu chân và mang về những bức ảnh, đừng để lại thêm bất cứ thứ gì, ví dụ như rác.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Làng chài Hàm Ninh tĩnh lặng và hoang sơ

Đến với làng chài cổ Hàm Ninh (Phú Quốc, Kiên Giang), du khách sẽ được khám phá vẻ đẹp của ngôi làng chài cổ đã tồn tại hàng trăm năm, hòa mình với cuộc sống của những ngư dân chất phác và thưởng thức rất nhiều hải sản tươi ngon.

Nằm trên bờ biển phía Đông “đảo ngọc” Phú Quốc, làng chài Hàm Ninh nép mình dưới chân núi Hàm Ninh và hướng mặt ra biển rộng bao la. Không ai biết ngôi làng này có tự bao giờ, chỉ biết rằng, khi đảo Phú Quốc còn hoang vắng, một số cư dân từ xa đến đây khai thác hải sản, rồi lập làng sinh sống. Khi cửa biển Dương Đông vang tiếng sóng thì Hàm Ninh là bến đậu ghe yên tĩnh và an toàn. Các ghe buồm, ghe bầu từ đất liền đến cập bến ở đây để lên hàng hoá rồi chở hải sản đi. Có lẽ, đó là bởi bờ biển đặc biệt quanh làng chài cổ, dù ra xa vài trăm thước nước vẫn rất nông. Khi nước ròng, bãi cát mênh mông chạy tít ra xa, lúc nước lên, tràn ngập bãi, vào tận mé rừng.

 


Ấn tượng đầu tiên khi mỗi du khách đến đây là được chiêm ngưỡng ngọn núi Hàm Ninh 300m cao ngất ngưởng với những lớp đá chồng đá, dựng đứng rêu phong tạo nên một vùng mây khói hòa giữa màu xanh của núi rừng và biển trời mênh mông Phú Quốc. Đứng trên bãi Hàm Ninh, trông ra có thể thấy rõ quần đảo Hải Tặc, chệch về Đông Nam, hòn Nghệ mờ mờ trên làn nước biển xanh biếc, phía Nam là mũi Ông Đội – mũi đất cuối cùng của đảo. Cuộc sống nơi đây gần như vẫn còn giữ được nguyên nét hoang sơ với nhà tranh vách tre tạm bợ. Trước đây, ngư dân nơi đây sống chủ yếu bằng nghề lặn tìm ngọc trai, bắt hải sâm và giăng lưới ghẹ, nay họ đã có thêm nguồn thu nhập từ việc buôn bán thực phẩm, đồ lưu niệm cho khách du lịch. Trải qua hàng trăm năm, những ngư dân hiền lành, chất phác nơi đây vẫn can trường bám biển. Cuộc sống dẫu còn lắm nỗi nhọc nhằn nhưng họ vẫn yêu thương và gắn bó với nơi này.


Chiều về, du khách thường tản bộ ra cầu cảng dài nhất Phú Quốc mang tên Hàm Ninh để thưởng thức từng cơn gió mát lành và chiêm ngưỡng khung cảnh của biển khi hoàng hôn xuống. Và bất cứ ai đã từng đến nơi này hẳn chẳng thể nào quên được những món ăn đặc sản tươi ngon với giá rẻ ở chợ đêm Dinh Cậu. Món được du khách yêu thích nhất là những con ghẹ vừa bắt lên đem luộc, màu đỏ tươi, thịt chắc nịt, chấm muối tiêu chanh. Nhiều người còn bảo, đến Hàm Ninh mà chưa thưởng thức ghẹ hấp thì chuyến đi coi như chưa trọn vẹn. Khi về, du khách có thể lựa mua những đặc sản của làng chài như hải mã sống ngâm rượu, hải mã chiên giòn, nấm tràm – loại nấm đặc sản chỉ có ở huyện đảo, quả dứa biển và trái mỏ quạ để ngâm rượu thuốc… làm quà cho gia đình, bạn bè.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đón giáng sinh nơi Hạ Long huyền diệu

Trong cái se lạnh của mùa đông, sương giăng thấp thoáng, vịnh Hạ Long hiện ra như bức tranh thủy mặc, nhẹ nhàng mà quyến rũ.

Vẻ huyền bí ấy càng thêm mê hoặc khi được tận hưởng một đêm Giáng sinh lung linh bên bờ vịnh và ngắm nhìn phố biển kiêu sa trong muôn ánh đèn.

 

 

Khám phá Hạ Long, mỗi mùa dường như có một cái thú vị riêng. Nếu trong tiết thu, trời trong xanh, những mảng mây xốp vờn nhẹ trên bầu trời, chỉ cần đứng từ xa đã có thể thấy những hòn đảo hiện lên rõ nét thì mùa đông lại là trải nghiệm hoàn toàn khác. Kẻ lữ hành mùa đông như lang thang trong vẻ đẹp mờ ảo đến mộng mị của làn sương giăng để thám hiểm, để thong dong trên thuyền vén từng bức màn bí mật của tạo hóa.

 

Mỗi phút giây trôi qua, trước mắt bạn là khung cảnh mới, lúc xa xa ẩn hiện muôn trùng hòn đảo, lúc thật gần vách đá sừng sững uy nghi. Khi đang mải mê lưu luyến giữa sóng nước, lữ khách lại choáng ngợp và kinh ngạc khi phát hiện tiềm ẩn trong lòng các đảo đá ấy là những hang động tuyệt đẹp gắn liền nhiều truyền thuyết thần kỳ. Đặc biệt, hang Sửng Sốt – top 10 hang động đẹp nhất thế giới, sở hữu hàng nghìn nhũ đá muôn hình vạn trạng sẽ quyến rũ bạn từng khoảnh khắc.

 

Chinh phục bậc thang đá cheo leo, một cung điện lộng lẫy mở ra trước mắt trong luồng không khí mát lạnh dễ chịu. Ngăn đầu rộng thênh thang với vô số chùm đèn treo bằng nhũ đá long lanh, chú voi đá, hải cẩu đá, mâm xôi, gấu biển… sống động. Lần bước trên con đường lát đá dài hơn 500m, là các hồ nước trong veo, mát lành. Từng giọt nước tí tách rơi như từng nhịp thời gian đang trôi qua. Một cảm giác nửa mơ nửa thực thật khó diễn tả! Ngăn thứ hai ngập tràn ánh sáng, được ví như “vườn thượng uyển” tuyệt mỹ bởi cây đa cổ thụ, khủng long, bà tiên… cùng tiếng chim muông réo rắt. Cũng hình dáng ấy, nhưng khi nhìn ở góc độ khác nhau, trí tưởng tượng khác nhau, bạn sẽ khám phá nhiều hình dáng thạch nhũ mới lạ cho riêng mình.

 

Sẽ là thiếu sót lớn nếu trong chuyến hành trình bạn không đặt chân chinh phục đảo Ti Tốp – có độ cao khoảng 200m so với mực nước biển. Chinh phục những bậc đá hướng thẳng lên đỉnh núi, phóng tầm mắt ra bốn hướng là hàng nghìn hòn đảo hòa quyện cùng nước biếc, mây trời kỳ ảo như tiên cảnh.

 

Đón Giáng sinh bên bờ di sản Hạ Long, ngoài ánh đèn lung linh, bản nhạc vui nhộn, bạn còn trải qua khoảnh khắc mùa đông thật lãng mạn, ngọt ngào. Trong hơi thở của làn gió biển mát lành, khi cái lạnh len qua từng lớp áo, cảm xúc càng vỡ òa khi biết rằng Giáng sinh đã về trên phố. Giữa đêm đông lạnh giá, không khí tưng bừng của mùa Noel càng quyến rũ khách phương Nam bởi những chiếc áo ấm, sắc màu rực rỡ của các khách sạn lớn trang hoàng cây thông, đèn hoa, ông già Noel, đoàn tuần lộc vui nhộn và hiệu ứng tuyết rơi độc đáo.

 

Hãy lặng yên và lắng nghe âm thanh từ biển khơi để thấy mình đang phiêu du ở cõi tang bồng. Đó là sự giao hòa giữa thiên nhiên và con người trong mùa bình an chào Năm mới sắp đến, là khoảnh khắc đẹp in dấu trong trái tim mỗi người. Để rồi, dù lạc đến phương nào, thì cảm xúc miên man của đêm đông Hạ Long sẽ lưu luyến mãi, như chờ đợi và đón bước chân bạn quay về.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đặc sắc nét văn hóa làng nghề truyền thống người Chăm

Ninh Thuận là một vùng đất có nhiều nét văn hóa riêng trong đó có nền văn hóa Chăm đặc sắc góp phần làm phong phú, đa dạng văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa các dân tộc địa phương Ninh Thuận nói riêng.

Nằm ở Cực Nam Trung Bộ, thời kỳ Vương quốc Champa cổ, Ninh Thuận và Bình Thuận thuộc châu Panduranga của Champa. Đặc biệt, Ninh Thuận là một trong những địa bàn sinh sống của người Việt cổ. Các nhà khảo cổ đã phát hiện được ở Nhơn Hải của Ninh Thuận các mộ cổ chôn cùng với đồ đá, đồ sắt thuộc nền văn minh Sa Huỳnh cách đây khoảng 2500 năm. Ninh Thuận còn là nơi gìn giữ được nhiều di sản quý báu của nền văn hoá Chămpa, bao gồm chữ viết, dân ca và nghệ thuật múa, trang phục và nghề dệt thổ cẩm, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc.

 

 

Người Chăm ở Ninh Thuận vốn được biết đến với rất nhiều nghề truyền thống. Tuy nhiên, trải qua thời gian, nghề truyền thống cũng dần mai một, cho tới nay chỉ còn nghề làm gốm, nghề dệt và một số làng làm nghề thuốc Nam được giữ gìn và phát triển.


Ba làng nghề truyền thống của người Chăm được công nhận chính thức gồm 2 làng dệt là Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ và làng gốm Bàu Trúc. Trong đó, làng dệt Mỹ Nghiệp và làng gốm Bàu Trúc nằm trong chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề và nghề truyền thống của người Chăm cũng là điểm khai thác du lịch văn hóa.


Làng gốm Bàu Trúc nằm ở ven quốc lộ 1A, thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, cách thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 10km về hướng nam. Đây là một trong hai làng gốm cổ xưa nhất Đông Nam Á. Làng gốm Bàu Trúc còn được coi như một bảo tàng mang đặc tính gốm truyền thống của dân tộc Chăm. Ở nhiều nơi, người ta dùng bàn xoay để nặn gốm, còn các nghệ nhân gốm Chăm vẫn dùng đôi tay khéo léo để tạo nên những tác phẩm tuyệt vời với mẫu mã phong phú. Nghề làm gốm ở đây rất công phu, trong đó, vật liệu đóng một vai trò rất quan trọng. Đó là một loại đất sét đặc biệt được lấy bên bờ sông Quao, đem về đó đập nhỏ và trộn với cát mịn nhào nhuyễn. Lượng cát được trộn vào tuỳ thuộc theo kích thước và công dụng của mỗi loại sản phẩm. Do đó gốm Bàu Trúc hoàn toàn khác so với gốm của những nơi khác. Các hoa văn trang trí trên gốm Bàu Trúc là những đường khắc vạch hình sông nước, chấm vỏ sò và hoa văn thực vật; có cả hoa văn móng tay trên vai cổ gốm rất mộc mạc, gần gũi, nhẹ nhàng. Sản phẩm gốm được nung lộ thiên ở nhiệt độ khoảng từ 500 – 6000C trong vòng 6 giờ, sau đó được lấy ra để phun màu (loại màu này được chiết xuất từ trái dông, trái thị ở trên rừng) rồi được tiếp tục nung lại trong vòng 2 giờ. Vì vậy, gốm Bầu Trúc có màu đặc trưng vàng đỏ, đỏ hồng, đen xám, vệt nâu, tạo thành các sản phẩm gốm độc đáo, mang theo vẻ “lung linh của nền văn hóa Chămpa”.

 

Ngày nay gốm Bàu Trúc phát triển thêm dòng gốm mỹ nghệ được ứng dụng chế tác phong phú hơn phục vụ du lịch và đời sống thẩm mỹ ngày càng cao của đông đảo dân chúng trong cuộc sống hiện đại nhưng vẫn giữ được dáng vẻ và nét đặc sắc riêng.

 

Nghề làm gốm cổ truyền Bàu Trúc đang được đệ trình hồ sơ công nhận di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

 

Nghề dệt thổ cẩm của đồng bào người Chăm tập trung ở hai xã Phan Hòa, Phan Thanh của huyện Bắc Bình, cách thành phố Phan Thiết khoảng 80km về hướng Bắc. Ngày nay, nghề dệt thổ cẩm vẫn còn giữ nhiều nét truyền thống như: những hoa văn, màu sắc đặc trưng được dệt trên loại khung dệt dài (Jih Dalah) chỉ có ở người Chăm, dệt ra những sản phẩm khổ hẹp dùng trong lễ nghi, tôn giáo. Hoa văn và hoa văn thổ cẩm Chăm là một đề tài phong phú thể hiện bản sắc văn hóa tộc người rõ rệt. Đó là một nền nghệ thuật dân gian độc đáo với óc thẩm mỹ, tư duy đơn giản mà khúc chiết, giàu có, liên quan đến yếu tố tín ngưỡng dân gian và dấu ấn tôn giáo của người Chăm.


Hiện nay ở làng dệt thổ cẩm Phan Hòa vẫn còn những chiếc khung dệt cổ truyền bằng gỗ Gõ, gỗ Trắc được đóng cách đây hàng trăm năm. Các giàn cán bông, cung bắn bông, xa quay kéo sợi vẫn còn thông dụng. Bông hái về phơi khô, cán lấy hột, dùng cung bắn cho bông bung ra trải thành lớp mỏng, lấy thanh tre cuộn lại thành con bông rồi móc vào xa quay kéo sợi. Muốn sợi chắc không bị đứt, bị xù lông khi dệt thì đem ngâm nước cơm, sau đó chải sợi, phơi khô, đánh ống. Nếu muốn sợi có màu lục thì nhuộm với cây tràm, màu đỏ nhuộm với lá trâm bầu, màu đen từ cây buông, màu vàng từ cây trừng…

 

Khi dệt, người thợ mắc sợi trên khung rồi ngồi trước khung đưa tay lòn con thoi qua lại và dùng sao dệt dập sợi tạo tiếng kêu lách cách nắt nhịp đều đều rất vui tai. Muốn tạo mô típ hoa văn, người thợ lành nghề có thể “bắt bông” cách điệu với những họa tiết mang đậm bản sắc văn hóa Chăm. Từ bốn hoa văn cổ truyền xanh két, vàng cúc, trăng, đen đi trên nền đỏ, người thợ có thể tạo ra các loại sản phẩm như túi xách, ví, khăn, dây thắt lưng… thích hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng và du khách.


Theo các nguồn sử liệu, thư tịch cổ, nghề dệt vải đã sớm ra đời trong cư dân văn hoá Sa Huỳnh và phát triển rộng hầu hết khắp nơi trong vương quốc Champa để đảm bảo nhu cầu may mặc, trang trí làm đẹp của cộng đồng dân cư và phục vụ yêu cầu của cung đình và tôn giáo Chăm.


Những giá trị đặc trưng cơ bản vốn có của nghề dệt truyền thống Chăm được thể hiện đầy đủ trên mọi phương diện, mọi lĩnh vực, gắn liền với đời sống tâm linh, phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, sinh hoạt lao động và sinh hoạt văn hóa, góp phần tạo nên diện mạo, bản sắc riêng của của dân tộc Chăm trên mảnh đất Ninh Thuận hôm nay.


Có thể nói, sản phẩm làng nghề của người Chăm ngày càng phát triển phong phú, đa dạng và rất được ưa chuộng, đặc biệt trên thị trường du lịch để làm quà tặng, sử dụng trong đời sống hàng ngày, trưng bày mỹ thuật, trang trí nội thất…/.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Thành Nhà Mạc Lạng Sơn

Thành Nhà Mạc Lạng Sơn nằm trong khu vực phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn đã được xếp hạng Di tích lịch sử Quốc gia và được đầu tư, tôn tạo nhằm phục vụ khách du lịch và người dân quanh vùng tham quan, vãn cảnh.

 

Dấu tích của thành Nhà Mạc Lạng Sơn hiện nay còn lại gồm 2 đoạn tường dài khoảng 300m, mặt thành rộng khoảng 1m, xây bằng những khối đá lớn giữa hẻm núi, từ chân núi dẫn lên cổng thành hơn 100 bậc tam cấp được xây dựng để tạo thuận lợi cho du khách lên tham quan. Vào tới trong thành là một khu đất trống rộng hàng trăm m2; bao xung quanh ngoài những đoạn tường thành có 3 đỉnh núi cao hàng chục mét. Để du khách lên các đỉnh núi thăm quan, ngắm cảnh là hàng trăm bậc thang được xây dựng uốn lượn, do vậy đây là một địa điểm lý tưởng để cho du khách và người dân tham quan, vãn cảnh.

Vào những ngày lễ, tết, ngày nghỉ lượng du khách về đây tham quan tương đối đông, một phần do vị trí của di tích thuận tiện nằm trong quần thể Di tích núi Tô Thị, Động Tam Thanh, Nhị Thanh, một phần vì sự độc đáo của danh thắng này nên không chỉ du khách phương xa mà các bạn trẻ trong vùng và người dân sinh sống xung quanh danh thắng cũng chọn nơi đây là điểm dã ngoại, tập thể dục để được thưởng thức không khí trong lành.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

TIN MỚI NHẤT