Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Sắc màu văn hóa Yang Bay

Giữa không gian núi rừng, tiếng đàn đá, tiếng mã la vang lên những thanh âm độc đáo như muốn níu giữ bước chân du khách đến với Công viên du lịch Yang Bay.

 

Cách TP. Nha Trang khoảng 40km về phía Tây, Công viên du lịch Yang Bay (xã Khánh Phú, huyện Khánh Vĩnh) thừa hưởng vẻ đẹp của cánh rừng nguyên sinh với thác nước hùng vĩ. Đến đây, du khách được hòa mình vào không gian thiên nhiên rợp mát bóng cây và tiếng chim rừng ríu rít. Để tô điểm cho cảnh sắc núi rừng, những người làm du lịch ở Yang Bay đã khéo léo khai thác những sắc màu văn hóa độc đáo. Bước chân vào cổng khu du lịch, du khách bắt gặp ngay hình ảnh cây Mộc thần sừng sững. Mộc thần  gồm 3 cây: 2 cây cổ thụ  Da và Sanh đan xen, một cây rừng nhỏ mọc trong hộc cây của cây Da. Dân gian truyền miệng rằng đây là nơi cư ngụ của thần Rừng Yang Bay. Ba cây là ba thành viên của gia đình Thần rừng. Đặc biệt Mộc thần có 8 bành rất lớn tượng trưng cho 8 mặt của Thần rừng để trông coi 8 hướng của trời đất. Mộc thần rất linh thiêng nên bà con Raglai hàng ngày trước khi ra vào rừng đều dừng lại thắp hương và cầu khấn. Bà con truyền miệng rằng: Mộc thần 8 mặt (8 bành) ban phúc 8 vấn đề quan trọng trong đời, cụ thể là: sức khỏe, tình duyên, sự nghiệp, học hành, gia đình, tiền bạc, cầu tự,  tâm an. Trước kia, mỗi lần đồng bào đi rừng đều đến bên gốc cây này xin thần linh ban cho những điều may mắn. Còn bây giờ, cây Mộc thần trở thành nơi để du khách gửi những dải lụa cầu may cho bản thân, gia đình.

 

Ấn tượng nhất ở Yang Bay là nét văn hóa bản địa luôn được lưu giữ. “Với mong muốn du khách gần xa biết được những nét đẹp văn hóa của người dân địa phương, từ nhiều năm nay, chúng tôi đã thành lập và duy trì đội văn nghệ người Raglai biểu diễn phục vụ du khách”, ông Nguyễn Phi Trường – Phó Giám đốc Công viên du lịch Yang Bay cho biết. Đội văn nghệ hiện có 11 người chuyên biểu diễn các tiết mục ca múa nhạc mang màu sắc truyền thống dân tộc Raglai: từ những vũ điệu Raglai uyển chuyển, đến câu hát giao duyên mượt mà; từ thanh âm trầm ấm của dàn mã la, đến tiếng réo rắt của bộ đàn đá. Cùng với đó là âm thanh quyện hòa của những loại nhạc cụ được làm bằng tre như: Đàn Chapi, đàn Tơ rưng, đàn Krong put, sáo Ta Cung, sáo Tale Piloy… Những nhạc cụ đơn sơ, mộc mạc đã chuyển tải đến du khách nhiều cảm xúc. “Anh chị em trong đội văn nghệ đều rất yêu thích ca múa, nhất là được biểu diễn những lời ca, điệu múa, tiếng đàn của dân tộc mình. Tại đây, chúng tôi có cơ hội giao lưu, giới thiệu cho mọi người vẻ đẹp trong tâm hồn người Raglai thông qua những lời ca tiếng hát mang âm hưởng núi rừng”, anh Cao Dy – Đội trưởng đội văn nghệ Yang Bay chia sẻ.


Điểm nhấn của văn hóa bản địa ở Yang Bay chính là lễ hội “Huyền thoại Yang Bay” được tổ chức vào trung tuần tháng 7 hàng năm. Yang Bay trong tiếng Raglai có nghĩa là “thác trời” và nó gắn chặt với truyền thuyết kể về mối tình của chàng Cau Sơn – chàng trai hiền lành, chất phác người Raglai với nàng Tiên Út. Trong lễ hội, thông qua hình thức sân khấu hóa, các diễn viên đã tái hiện vẻ đẹp của đồng bào Raglai trong lao động, vui chơi…


Để du khách hiểu rõ hơn về đời sống, sinh hoạt của đồng bào Raglai, trong Công viên du lịch Yang Bay có không gian tái hiện ngôi nhà sàn truyền thống của người dân nơi đây. Tại đây, du khách được xem những công cụ lao động, sản xuất, những bộ trang phục dân tộc, dàn nhạc cụ của người Raglai. Du khách có dịp trò chuyện với những thiếu nữ Raglai để biết thêm những điều thú vị về cuộc sống của người dân địa phương. “Nét đẹp văn hóa nơi đây thực sự tạo cho chúng tôi những ấn tượng đẹp”, chị Nguyễn Phương Nguyên – du khách đến từ Bình Dương chia sẻ. Còn với du khách nước ngoài, họ luôn bị thu hút bởi những điều mới lạ ở Yang Bay. “Cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời. Công viên có nhiều hoạt động văn hóa, biểu diễn văn nghệ mang màu sắc truyền thống, điều này khiến tôi thực sự nhớ mãi”, chị Eremina Yuliya – du khách Nga tâm sự.


Để hướng tới một điểm đến thân thiện dành cho du khách, đồng thời duy trì nét độc đáo của riêng mình, những người làm du lịch ở Yang Bay đang không ngừng nỗ lực để khai thác hiệu quả nét đẹp văn hóa bản địa của đồng bào Raglai. “Hướng tới cộng đồng dân cư ở địa phương, giúp họ có điều kiện cải thiện thu nhập, đồng thời bảo tồn được những nét đẹp trong văn hóa truyền thống được chúng tôi xem là một hướng đi mang tính bền vững”, ông Nguyễn Phi Trường cho biết.  


Trong bối cảnh du lịch văn hóa đang trở thành xu hướng phổ biến, có thể nói, những hoạt động ở Công viên du lịch Yang Bay đang góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch ở Khánh Hòa.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Nam Ô – Một pho sử liệu và văn hóa độc đáo

Nam Ô là một làng thuộc phường Hòa Hiệp Nam, Liên Chiểu, Đà Nẵng. Nằm cạnh quốc lộ 1A và đường sắt Bắc – Nam, cách trung tâm thành phố khoảng hơn 10 km về phía Tây Bắc, Làng Nam Ô hình thành song song với quá trình Nam tiến của nước Đại Việt.

Tên gọi Nam Ô chính là cửa ô phía Nam của Đại Việt thời ấy, vì vậy Nam Ô có giá trị lịch sử của quốc gia chứ không chỉ đơn thuần là một tên làng. Nơi đây đã chứa đựng một đời sống tinh thần và tâm linh khá phong phú. Đó là hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, tâm linh có giá trị. Trong khu vực này có các di tích mà dân làng Nam Ô đang giữ gìn như Dinh Âm hồn, Lăng Cá Ông, Miếu Bà Liễu Hạnh…

 

 

Là vùng đất được bao bọc bởi núi, sông hùng vĩ, biển cả bao la, Nam Ô được xem là nơi có phong cảnh hữu tình, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển, xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc địa phương.

 

Theo các cụ cao niên thì trong các trận chiến chống quân Pháp đánh cửa biển Đà Nẵng vào các năm 1858, 1859, 1862, quân lính triều đình của 2 đồn Nam Ô, Cu Đê và dân binh địa phương tử trận rất nhiều, nên triều đình vua Tự Đức sau đó đã có sắc dụ cho các dân xã lập âm linh để tưởng nhớ tử sĩ trận vong. Vua Thành Thái khi lên ngôi đã sắc dụ cho các nơi lập Âm Hồn Đàn để tưởng vọng các tử sĩ đã bỏ mình trong biến cố thất thủ kinh đô 1885. Miếu Âm Linh sau này dân làng mở rộng thờ thập loại chúng sinh, cô hồn phiêu phương và các âm hồn xiêu mồ lạc nấm của chư phái tộc họ trong làng. Điều đó thể hiện tính nhân văn sâu sắc của di tích, phù hợp với tinh thần uống nước nhớ nguồn và tinh thần nhân đạo của dân tộc ta.

 

Lăng Ông Ngư là di tích được xây dựng từ thời Vua Gia Long (1802), chính là văn hóa tâm linh thờ cá ông. Lúc đầu Lăng có kiến trúc như sườn gỗ, tường đá trác vôi vữa, mái lợp lá kè. Đến năm Tự Đức thứ 4 (1851) Lăng được tôn tạo to đẹp hơn. Năm Bảo Đại thứ 10 (1935), Lăng được làm mới, mái lợp ngói âm dương. Từ đó đến nay Lăng được sửa chữa gia cố nhiều lần nhưng vẫn giữ được vẻ cổ kính, tôn nghiêm, nằm trên khuôn viên rộng chừng 360m2, cách mép nước biển khoảng 50m để dân làng tế lễ hàng năm.

 

Miếu Bà Liễu Hạnh gắn với tục thờ mẫu của cư dân Đại Việt trên vùng đất mới, được nhân dân làng Nam Ô lưu truyền nhiều đời. Bà Chúa Liễu Hạnh nằm trong tín ngưỡng đặc biệt của dân tộc là tục thờ “tứ bất tử” (gồm Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh). Tục thờ Bà Chúa Liễu Hạnh là một giá trị văn hóa tinh thần rất đẹp của dân tộc ta.

 

Về mặt cảnh quan tự nhiên, điều thu hút của Nam Ô là một nơi cửa sông Cu Đê tiếp biển, với rạn hay còn gọi là ghềnh đá tuyệt đẹp ẩn hiện trong làn sóng biển, bao bọc một khu rừng nguyên sinh đầy huyền tích của làng.

 

Ghềnh Nam Ô chỉ rộng khoảng hơn 2ha nhưng chứa đầy những huyền tích. Điều kỳ lạ là dân làng Nam Ô đang ở chen chúc nhau với mật độ dân cư rất cao, nhiều kiệt hẻm chỉ đủ cho một người đi nhưng dân cư không bao giờ lấn vào khu rừng thiêng hay chặt phát cây trong rừng. Chính vì vậy, ở ngay gần khu đô thị sầm uất, rừng Nam Ô vẫn giữ được vẻ nguyên sinh với màu xanh bất tận như một lá phổi của cánh Bắc quận Liên Chiểu. Du khách đến đây sẽ được chiêm ngưỡng tuyệt tác của thiên nhiên qua những dải đá ngầm phân bố dày đặc, có đá chồng lên đá, có nơi sâu khoảng vài mét tạo nên khung cảnh khá hoang sơ.

 

Ghềnh Nam Ô xưa kia từng là ngư trường của ngư dân các quận huyện lân cận bởi đây có môi trường khá lý tưởng cho nhiều loài cá trú ẩn, cùng với đó là có nhiều rong tảo nên cung cấp một lượng thức ăn phong phú cho đủ loài cá khác nhau. Ngư dân ở vùng này xem nơi đây như một kho báu để khai thác hải sản.

 

Vào những ngày đẹp trời, bãi rạn nước êm đềm hiền hòa như người thôn nữ e ấp nhưng khi biển động thì từng cơn sóng dội ầm ầm vào những tảng đá to tạo thành cơn thịnh nộ của cuồng phong, sóng biển sẵn sàng hất tung đến vài mét. Những ngày hè oi ả, ghềnh thu hút nhiều bạn trẻ đến đây vui chơi, hẹn hò đôi lứa hay tổ chức picnic cùng đám bạn.

 

Nam Ô còn là làng nghề pháo cổ truyền một thời và hiện tại đây là làng nghề nước mắm nổi tiếng toàn quốc. Nghề pháo ở Nam Ô là nghề cổ truyền thủ công sản xuất ra pháo nổ và pháo hoa.

 

Người dân Nam Ô tôn vinh cụ Cửu Mai là tổ nghề pháo Nam Ô. Cụ Cửu Mai tên thật là Ngô Mai (18?? – 1957) quê gốc tỉnh Quảng Ngãi, là người có rất nhiều tài. Trên đường “hành hóa” qua Nam Ô, nhìn thấy phong thủy nơi đây đầy vượng khí, phong cảnh tuyệt đẹp, sản vật sung túc nên cụ quyết định ở lại. Cụ chữa bệnh cứu người bằng cây thuốc và nước khoáng, biết gọi “âm binh, thiên tướng”, lại biết cách làm pháo nổ, pháo hoa. Dân làng Nam Ô xem cụ như một vị phù thủy, gọi cụ một cách tôn kính là Thầy Ngài.

 

Năm Bảo Đại thứ mười (1934), nhà vua làm đại lễ cưới Nam Phương Hoàng hậu. Nghe tài năng của cụ Mai, vua bèn triệu cụ về kinh đô Huế để dựng giàn pháo hoa kịp trình diễn trong ngày khánh lễ. Giàn pháo đã gây sức hấp dẫn mãn nhãn tuyệt vời cho vua, quan và dân chúng kinh thành. Từ đó vua ban cho cụ Mai hàm Chánh Cửu phẩm nên dân làng gọi cụ là Cửu Mai.

 

Tiếp đó, đúng lúc vạn mành trùng tu lăng Ngư Ông của làng Nam Ô, cụ Mai phát tâm hiến cúng một giàn pháo hoa và những tràng pháo cho lễ lạc thành. Dưới sự chỉ dẫn của cụ, một giàn pháo tuyệt đẹp đã kịp trình làng cho lễ lạc thành ngày 21/5 năm Giáp Tuất. Sự kiện đặc biệt này đã thu hút đông đảo dân chúng đến xem. Tất cả mọi người có mặt đều ngỡ ngàng trước một cảnh kỳ vĩ lung linh của màu sắc pháo trên bầu trời mà trong đời lần đầu tiên được thấy. Đêm pháo hoa đó đã đặt nền móng khởi sinh nghề pháo cho làng Nam Ô.

 

Đến năm 1994, vì yếu tố môi trường, an ninh và kinh tế, Thủ tướng Chính phủ có chỉ thị cấm sản xuất, buôn bán và đốt pháo. Tuy nghề pháo không còn nhưng người dân nơi này vẫn không quên người đã truyền nghề cho mình để sản xuất những dây pháo thương phẩm có chất lượng, từng vang bóng một thời…

 

Qua một ngày tham quan thỏa thích, du khách có thể ghé vào một quán bình dân trong làng để thưởng thức món gỏi cá Nam Ô đầy mặn mà pha lẫn hương vị cay nồng tuyệt đỉnh của ẩm thực xứ Quảng.

 

Gỏi cá với rau tươi các loại được cuốn trong bánh tráng mỏng và chấm nước chấm, ăn cùng với bánh tráng nướng hoặc có thể trộn chung thành món “lẩu thập cẩm” thì ngon tuyệt. Bởi vậy, một thực khách đã tả vị ngon của gỏi cá Nam Ô: “Thịt cá ngọt mát. Nước chấm đậm bùi. Vị riềng, ớt cay thơm quyện với hương vị các loại lá. Ăn kèm khế chua và chuối xanh chan chát… Vị ngon như ngấm vào chân răng, đầu lưỡi, chạy thẳng xuống đến dạ dày…”.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Bản tình ca mùa thu Tây Bắc

Nghĩ đến Tây Bắc, du khách thường chọn Sa Pa (Lào Cai) như một điểm dừng chân lý tưởng, nhưng hành trình của chúng tôi lại đi theo cung đường mới, phía Tây của Tây Bắc, qua bốn tỉnh Yên Bái, Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình.

 

Mùa thu trên từng hoa lúa

 

Điểm bắt đầu là Mù Căng Chải (Yên Bái). Không nhộn nhịp, dập dìu du khách như Sa Pa, Mù Căng Chải mang trọn nét nguyên sơ, tinh khôi của núi rừng Tây Bắc. Chúng tôi nhanh chóng bị hút hồn bởi những thửa ruộng bậc thang nối nhau vắt ngang qua những triền đồi; nhìn từ xa giống như những dải lụa xanh ngắt, vàng óng xen lẫn, tạo thành nhiều hình dạng khác nhau.

 

Con đường chinh phục Tây Bắc luôn quanh co, uốn lượn. Qua mỗi khúc quanh, cảnh sắc liên tục thay đổi khiến du khách náo nức, mắt như không dám chớp bởi sợ bỏ lỡ một cảnh đẹp nào đó. Dù sáng, trưa hay chiều, tối, mây trắng luôn bồng bềnh trên những đỉnh núi và sà xuống lưng chừng đồi. Thỉnh thoảng lại có dòng thác nhỏ trắng xóa đổ xuống khe núi, bên dưới chân núi là dòng suối uốn quanh mềm mại. Dọc hai bên đường, những dải hoa cúc dại trắng tinh khôi và hàng loạt những loài hoa dại khác thi nhau khoe sắc.

 

Ở địa phận Mường La (Sơn La), du khách còn được chiêm ngưỡng công trình thủy điện Sơn La lớn nhất Đông Nam Á (công suất 2.400MW, sản lượng điện bình quân hàng năm trên 10,2 tỷ kWh). Con đập ngăn dòng đã biến sông Đà hùng vĩ với dòng chảy cuồn cuộn, màu nước “lừ lừ chín đỏ” thành một hồ nước mênh mông xanh thẳm với lưu vực rộng đến 43.760km2. Những thảm lúa mượt mà dọc hai bên sườn đồi cùng mặt hồ phẳng lặng tạo nên bức tranh thủy mặc khổng lồ đẹp đến nao lòng.

 

Có lẽ không nơi nào phù hợp hơn để du khách cảm nhận trọn vẹn nhất không khí của mùa thu như ở Tây Bắc. Nắng vừa đủ vàng cho hoa thêm biếc, nước thêm trong… Và đặc biệt, với Tây Bắc, không chỉ mũi, phổi mà từng tế bào trên cơ thể của bạn cũng được “thở”.

 

Chếnh choáng say

 

Giai điệu ngọt ngào nhất của bản tình ca Tây Bắc chính là hình ảnh của các thiếu nữ vùng cao. Du khách vùng xuôi đến đây dù chưa nếm men rượu vẫn không khỏi có chút chếnh choáng trước vẻ duyên dáng của thiếu nữ Thái với má thắm, môi hồng, mắt lúng liếng, miệng cười duyên. Hầu hết phụ nữ Thái có dáng người cao ráo, thanh mảnh, bộ váy áo truyền thống ôm sát người càng làm tôn lên vẻ uyển chuyển, thanh tao. Đặc biệt, không chỉ nấu ăn giỏi, họ còn hát múa rất hay.

 

Dừng chân ở bản Noong Chứn, thành phố Điện Biên hay bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình), chúng tôi được tận mắt xem phụ nữ Thái chuẩn bị bữa ăn với gần chục món như xôi đồ, cá nướng, gà nướng, thịt băm nướng lá chuối, lợn gác bếp, nộm da trâu… Những phụ nữ vừa làm bếp đó nhanh chóng hóa thân thành các diễn viên múa thết đãi du khách bữa tiệc tinh thần mang đậm nét văn hóa bản địa. Điệu múa thổ cẩm khoe vẻ đẹp tinh tế của hoa văn dệt qua chiếc khăn, là cách để họ khoe sự khéo léo của mình đến… phía đàng trai. Điệu múa mời rượu chào mừng khách đến nhà, thể hiện lòng hiếu khách của gia chủ…

 

Cô gái Mông lại mang nét đẹp khỏe khoắn, khoáng đạt với làn da rám nắng và bước chân thoăn thoắt trên những sườn đồi. Chiếc váy xòe thổ cẩm đầy sắc màu tung tăng theo từng bước chân. Các cô luôn đem theo tấm vải và kim chỉ để thêu váy mọi lúc mọi nơi. Khi tụ tập nơi đầu hè, khi xuống chợ hay dọc theo đường đi, bên những thửa ruộng; vừa đi đôi tay vẫn liên tục điều khiển các mũi kim. Để thêu xong một chiếc váy, có thể mất đến đôi ba tháng. Chiếc váy như một bản hòa ca của các sắc màu và hoa văn; màu nào cũng nổi song vẫn rất hài hòa. Không được cởi mở như phụ nữ Thái, cô gái Mông thường e thẹn nhìn du khách cười và ngập ngừng trả lời khi được hỏi.

 

Đậm đà hương vị thiên nhiên

 

Ẩm thực Tây Bắc mang đặc trưng hương vị của thiên nhiên. Đến nơi nào chúng tôi cũng được thưởng thức món xôi đồ, từ loại nếp nương thơm trồng trên vùng núi cao suốt sáu tháng. Lúa ở đây được tạo nên từ những dưỡng chất của đất trời trong lành, vậy nên xôi có vị ngọt bùi rất đặc trưng.

 

Người Tây Bắc rất thích ăn món nướng hoặc gác bếp. Họ có cách kết hợp những loại gia vị của rừng ướp vào thịt, cá để khi nướng lên tạo ra một mùi thơm và hương vị độc đáo. Gia vị chủ đạo cho các món như pa pỉnh tộp (cá nướng gập), gà nướng, thịt băm nướng lá chuối, lợn gác bếp… là hạt mắc khén (chỉ có ở núi rừng Tây Bắc) và lá thì là. Không chỉ vậy, trước khi ướp, các gia vị muối, ớt đều được rang lên để tạo mùi thơm. Còn gì tuyệt vời hơn trong tiết trời lành lạnh của mùa thu, ngồi trên nhà sàn thưởng thức món nướng và nhấp chén rượu ngô cùng bạn bè.

 

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Khám phá làng lụa Hà Đông giữa lòng Hà Nội

Người Sài Gòn ai cũng biết đến bài “Áo lụa Hà Đông” của Nguyên Sa với hai câu thơ nổi tiếng “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát. Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”. Dệt nên những tấm lụa mềm mại ấy là những nghệ nhân làng lụa Vạn Phúc, cách trung tâm Hà Nội chỉ 10km.

 

Làng lụa Vạn Phúc (nay thuộc phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, Hà Nội) là một làng nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng từ ngàn năm trước, được công nhận kỷ lục “Làng nghề dệt lụa tơ tằm lâu đời nhất còn duy trì hoạt động đến ngày nay” do Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam trao tặng. Đây là điểm tham quan rất nổi tiếng tại Hà Nội, mỗi tháng đón từ 3.000 đến 5.000 khách du lịch.

 

 

Chúng tôi đến thăm làng lụa Vạn Phúc vào một chiều đầu thu. Trước cổng làng, nép mình dưới tán cây cổ thụ xanh rì là tảng đá màu trắng xám đầy vẻ nguyên sơ với dòng chữ: “Làng lụa Vạn Phúc” cách điệu mềm mại như lụa.

 

Bước qua cánh cổng làng uy nghi sừng sững, nắng chiều thu vàng hoe hoe kẻ loang lổ lên màu gạch đỏ au, như nét màu nghịch ngợm của đứa trẻ lên năm, chúng tôi như lạc vào thế giới của sắc màu. Dọc hai bên đường, những gian hàng lụa san sát, như một cuộc tụ hội của sắc màu: xanh, đỏ, tím, vàng, nâu, đen, trắng… Sắc màu rực rỡ của những tà áo thướt tha, những chiếc khăn mềm mại, những chiếc túi thanh lịch và long lanh ánh mắt, tươi rói nụ cười của những cô bán hàng.

 

Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn còn giữ được ít nhiều nét cổ kính của làng quê xưa với hình ảnh cây đa cổ thụ, giếng nước, sân đình, buổi chiều họp chợ dưới gốc đa trước đình.

 

Cánh cổng tre đậm nét Việt dẫn vào khu giới thiệu, nơi đưa khách du lịch đến gần hơn với lụa Vạn Phúc, với hai câu đối: “Chấn hưng nghiệp Tổ kết tinh hoa/Hòa hợp âm dương sinh bảo vật” thể hiện niềm tin, sự quyết tâm gìn giữ, bảo tồn nghề truyền thống của ông cha truyền lại. Trong khu giới thiệu trưng bày mô hình một khung dệt lụa cổ có từ đầu thế kỉ 19 là công cụ lao động đem lại sự phồn thịnh của làng nghề Vạn Phúc suốt bao nhiêu thế kỉ. Trên từng thanh gỗ in hằn những vết chân thời gian, được đặt uy nghiêm trong lầu tứ trụ nâng đỡ mái lợp ngói mũi hài, uốn cong bốn góc mềm mại, chạm trổ phượng long, rèm tre rủ bốn phía. Hiện nay những khung dệt máy thay dần cho những khung dệt thủ công vì thế khung dệt lụa cổ ấy như ôm vào lòng mình bao thăng trầm của làng lụa Vạn Phúc.

 

Du khách không chỉ đắm mình vào những màu sắc tươi rói của lụa với đủ thứ mặt hàng đa dạng, đẹp mắt như quần, áo, túi, ví, khăn, gối hay những tấm lụa nguyên bản,… trong gian hàng trưng bày mà còn được lắng nghe âm thanh rộn ràng của khung cửi, tiếng lách cách của con thoi, những âm thanh đã trở thành nhịp điệu cuộc sống nơi đây. Chúng tôi được một nghệ nhân giới thiệu về quy trình hoạt động của chiếc máy dệt lụa, chị vừa thoăn thoắt tay làm vừa hồ hởi: “Công việc này đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn thận, chịu khó. Khi khung dệt chạy, lúc nào cũng phải có người túc trực bên để khi sai lỗi thì chỉnh sửa kịp thời để có được một tấm lụa đẹp, đảm bảo chất lượng.”

 

Được chạm tay lên tấm lụa mềm mịn, mát rượi, óng ả như đánh thức mọi giác quan, lòng chợt nhớ hai câu thơ của nhà thơ Nguyên Sa trong bài thơ “Áo lụa Hà Đông”: “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát/ Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”. Hoa văn trang trí trên vải lụa rất đa dạng và tinh tế như mẫu Song hạc, mẫu Thọ Đỉnh, mẫu Tứ Quý… khiến cho các bộ trang phục trở nên duyên dáng, sống động. Dường như những nghệ nhân đã gửi cả cái tình đằm thắm vào từng đường kim, mũi chỉ.

 

Đền thờ Tổ Nghề trầm mặc, mái ngói đỏ au dẫu qua bao mưa nắng như thắm mãi sự tôn kính, lòng biết ơn đối với cha ông đã gây dựng lên làng nghề Vạn Phúc. Tương truyền rằng Tổ nghề là bà Lã Thị Nga, con một gia đình hào phú ở Cao Bằng, một lần theo chồng là Cao Biền đi kinh lí ở ấp Vạn Bảo, thấy đất đai trù phú, bà xin ở lại ấp dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa. Trong hậu cung của đền thờ vẫn bày những thúng sơn, thước sơn, kéo bằng sắt, vạch bằng ngà là những đồ dùng của thợ may. Hàng năm cứ vào ngày mùng 10 tháng 8 và 25 tháng chạp âm lịch, làng Vạn Phúc lại nô nức lễ hội giỗ tổ.

 

Cây cầu gỗ cong cong màu son đỏ bắc qua con suối nhỏ róc rách chảy dẫn sang đền thờ chủ tịch Hồ Chí Minh nép mình bên um tùm cây cối. Khu giới thiệu như hình ảnh thu nhỏ của làng Vạn Phúc, lưu giữ những nét xưa giữa ồn ào phố thị. Dạo quanh những con đường nhỏ giữa làng, chúng tôi đặt chân vào không gian linh thiêng của chùa Vạn Phúc khi bóng tối đã mỏng mảnh như khói loãng dần trong hoàng hôn. Theo lời kể của một người trong làng, ngôi chùa là nơi hàng trăm thợ thủ công làng Vạn Phúc và gần 600 thợ vùng nam Hoài Đức đấu tranh đòi cải thiện đời sống cho nhân dân lao động, tố cáo tội ác của thực dân Pháp vào ngày 6/2/1937. Đây là cuộc đấu tranh công khai đầu tiên của nhân dân Vạn Phúc trong thời kì cao trào cách mạng dân chủ 1936-1939. Vì thế ngôi chùa không chỉ là một địa chỉ tâm linh mà còn mang đậm dấu ấn lịch sử. Giữa hồ nước xanh thăm thẳm, tượng Phật Bà Quan Âm bằng đá trắng ngự trên đài sen hướng ra con đường chạy qua trước cổng làng.

 

Chúng tôi còn được thăm đình làng Vạn Phúc, miếu làng, chợ làng,… những nét vẽ đơn sơ, cổ kính phác họa lên hình ảnh một làng nghề truyền thống giữa lòng thủ đô.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Du thuyền trên sông Tranh

Thử một lần du thuyền trên lòng hồ sông Tranh (Bắc Trà My) để cảm nhận vẻ đẹp nguyên sơ giữa sắc nước mây trời.

 

Khởi đầu Bến Cá (thôn Tư, xã Trà Tân), đi giáp hết một vòng quanh hồ du khách mất khoảng 1 giờ đồng hồ ngồi ghe máy, dù thời gian hơi lâu nhưng bù lại sẽ được chiêm ngưỡng cảnh đẹp hoang sơ với những ngọn đồi lúp xúp cây bụi cùng những ngọn núi mờ xa, tất cả hiện hữu như một bức tranh tĩnh lặng đầy màu sắc. Trên chuyến hành trình, thỉnh thoảng bạn sẽ bắt gặp vài thân cây khô gầy guộc đứng chỏng chơ giữa lòng hồ hay những vạt đồi bạc trắng, dấu vết còn lại của một thời chặn dòng tích nước, nhấn chìm bao cánh rừng nơi đây xuống đáy. Tuy nhiên, điểm tạo nên nét sinh động giữa lòng hồ chính là những lồng nuôi cá của người dân thả trên sông và những con thuyền nhỏ nhoi cắm sào hững hờ ven bến dưới chân đồi. Hiện nay trên lòng hồ có khoảng 10 hộ dân nuôi cá bè với trên 100 lồng cá các loại như diêu hồng, rô phi, trê…. Nếu thong thả du khách có thể ghé vào bè mua vài con cá diêu hồng hay trắm cỏ nhờ gia chủ chế biến thưởng thức tại chỗ để cảm nhận hương vị thơm ngon đặc trưng của núi rừng mà không phải nơi nào cũng có được.

 

Hồ thủy điện Sông Tranh có diện tích mặt nước rộng lớn hơn 2400ha nên đi thuyền luôn mang đến cho du khách những cảm xúc thú vị, bất chợt nhận ra cái bé nhỏ hữu hạn của con người trước thiên nhiên vô cùng. Còn với những nhà lữ hành, dù Thủy điện Sông Tranh không kỳ vĩ như Thủy điện Hòa Bình hay Sơn La ở miền Bắc nhưng du lịch hồ thủy điện Sông Tranh vẫn sẽ là điểm nhấn hấp dẫn để đưa khách hành trình ngược núi tìm về địa danh đã trở nên quá “nổi tiếng” trong nước với các sự cố rò rỉ và động đất để làm lên những tour “du lịch mạo hiểm” ăn theo đầy ngoạn mục. Chắc chắn sẽ ít du khách bỏ qua cơ hội được tham quan chân đập cao hàng vài chục mét hay xuống những căn hầm vận hành máy nằm sâu dưới lòng đất để thấy được sức mạnh phi thường của bàn tay và khối óc con người khai phá tạo dựng lên.

 

Một chuyến hành trình du ngoạn trên hồ không nhiều tốn kém nhưng sẽ mang lại nhiều trải nghiệm bất ngờ thú vị. Chỉ cần đến bến đò Bến Cá, nơi luôn có những chiếc ca nô của người dân sẵn sàng đưa khách tham quan hồ với giá phải chăng, và họ – những hướng dẫn viên nhiệt tình sẽ mang đến sự hài lòng cao nhất cho bất kỳ ai muốn được trải nghiệm cảm xúc phiêu bồng non nước nơi đây.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Làng cổ bên dòng Ô Lâu

Làng cổ Phước Tích (xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế) còn lưu giữ khá nguyên vẹn những yếu tố gốc của làng cổ vùng văn hóa Huế và miền Trung.

Ngôi làng để lại ấn tượng ngay với khách tham quan bởi vẻ cổ kính, đậm chất làng quê miền Trung, với những mái nhà cổ rêu phong ẩn mình trong những tàng cây xanh mát và không khí yên bình. Đường vào làng là con đường độc đạo, được lát gạch hoặc trải bê tông khang trang, sạch sẽ. Hai bên đường là hai hàng chè tàu xanh mướt, được cắt tỉa gọn gàng, uốn lượn theo trục đường làng, ngõ xóm và ngăn cách khuôn viên từng nhà.

 

 

Nhìn từ trên cao hoặc qua bản đồ, dòng Ô Lâu như một dải lụa xanh bao quanh 3 mặt làng Phước Tích. Các nhà thờ họ và đình làng đều hướng mặt ra sông Ô Lâu. Ông Lương Vĩnh Viễn, 71 tuổi, hướng dẫn viên, người làng Phước Tích cho biết, từ khoảng nửa cuối thế kỷ XV, ông Hoàng Minh Hùng từ Nghệ An cùng 12 dòng họ di cư đến vùng đất này lập làng, bắt đầu làm nghề gốm. Từ trục đường chính bên dòng Ô Lâu, người xưa đã xây dựng 12 bến nước để thuận tiện cho việc đưa gốm xuống thuyền mang đi các nơi tiêu thụ.

 

Hiện nay làng Phước Tích có 19 dòng họ, 117 hộ với 327 nhân khẩu. Người làng Phước Tích không làm nông nghiệp. Con cháu người làng Phước Tích học hành đỗ đạt và lập nghiệp khắp nơi. Vì vậy, khách đến làng Phước Tích vào những ngày bình thường chỉ gặp phụ nữ và người già. Điều đó cũng góp phần làm nên khung cảnh rất đỗi thanh bình, êm ả cho ngôi làng cổ này. “Mỗi dòng họ trong làng có một nhà thờ họ riêng. Khi có việc họ, con cháu lại tụ tập về đứng chật sân, tràn cả ra đường làng. Như họ tôi đây (họ Lương Vĩnh – PV) có đến gần 300 người. Việc họ xong, con cháu đi hết, làng lại trở về với nếp sống thanh bình, tĩnh lặng”, ông Lương Vĩnh Viễn nói thêm. Làng tuy vắng vẻ là thế nhưng tình hình an ninh trật tự rất tốt. “Mùa hè, người làng Phước Tích ngủ chẳng cần đóng cửa vào ban đêm. Ai có để quên xe máy ngoài đường thì sáng ra vẫn ở đó”, ông Lương Vĩnh Viễn giới thiệu đầy tự hào về làng mình.

 

Theo anh Nguyễn Ngọc Nam, cán bộ Ban quản lý di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ Phước Tích, làng có hơn 30 căn nhà cổ, được xây dựng từ khoảng những năm 1850 – 1870, trong đó 24 căn còn khá nguyên vẹn. Các ngôi nhà cổ ở làng có 2 kiểu kiến trúc: 3 căn, 2 chái và 1 căn, 2 chái (nhà vuông), trên lợp ngói liệt dày, hệ thống cột kèo chắc chắn. Trước mỗi ngôi nhà cổ thường có bình phong, hồ cá cảnh mà theo quan niệm của người xưa là để chắn gió và các thứ ô tạp không vào được. “Nếu không có việc gì quan trọng, cửa chính của các ngôi nhà cổ luôn đóng, chỉ mở cửa phụ hai bên. Theo quan niệm xưa, phụ nữ sống trong các ngôi nhà này phải ở phòng dưới, lúc ăn uống ít khi được ngồi cùng mâm với nam giới và khi đi qua gian giữa thì phải cúi đầu”, ông Lương Vĩnh Viễn giải thích.

 

Hiện nay, hoạt động du lịch ở làng cổ Phước Tích đã được chuyên nghiệp hóa. Thế nhưng, dịch vụ du lịch của làng còn khá đơn điệu. Khách đến thăm làng chủ yếu mới được tham quan nhà cổ, lò gốm và cùng trải nghiệm làm rồi thưởng thức các loại bánh Huế như: bánh lá, bánh nậm, bánh lá gai, bánh su sê… Nhưng có lẽ đấy là nếp sống vốn có của một ngôi làng cổ mà du khách thích khám phá.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Thung lũng Bắc Sơn, thiên đường màu xanh

Thung lũng Bắc Sơn là một địa điểm có cảnh sắc tuyệt đẹp tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

 

Mới đây, cánh đồng lúa chín tuyệt đẹp của Bắc Sơn đã được trang web nổi tiếng chuyên tư vấn du lịch Whenonearth giới thiệu trên trang web với nhiều lời ca ngợi, thán phục bởi vẻ đẹp của thắng cảnh này.

 


Whenonearth đã dùng mỹ từ “Thiên đường màu xanh hiếm có trên trái đất” để miêu tả và ca ngợi cánh đồng lúa trong thung lũng Bắc Sơn.


Là một huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn, cách Thủ đô Hà Nội 160km về phía bắc. Từ Hà Nội đi theo quốc lộ 3 tới Thái Nguyên rồi theo quốc lộ 1B, di chuyển thêm gần 80km là tới Bắc Sơn. Bởi là một huyện vùng cao, người dân nơi đây chủ yếu là đồng bào dân tộc Tày, do đó những nét truyền thống của ông cha xưa như: tục nhà gái chăng dây đón rể ngày cưới; những trò chơi dân gian ném còn, đánh đu…vẫn được người dân giữ gìn khá nguyên vẹn. Những ngôi nhà sàn giống nhau cùng quay về hướng Đông Nam của người dân nơi đây càng khiến cho vẻ đẹp của thung lũng Bắc Sơn trở nên độc đáo hơn. Cuộc sống tại vùng đất này luôn bình yên, người dân hiền hòa và đặc biệt là cảnh sắc thiên nhiên vô cùng ấn tượng.


Nếu chỉ đi trên con đường qua thị trấn nằm giữa thung lũng, sẽ khó để chiêm ngưỡng cảnh sắc của toàn bộ thung lũng. Để có thể ngắm nhìn thung lũng Bắc Sơn trọn vẹn, du khách phải leo lên những đỉnh núi cao. Nếu như may mắn đến với Bắc Sơn đúng mùa lúa chín, chắn chắn cảnh sắc nơi đây sẽ khiến bất kỳ ai cũng muốn trở lại để có thể chiêm ngưỡng lần thứ 2.

 

Được bao bọc bởi những dãy núi đá vôi, Bắc Sơn hiện ra trong mây khói mờ ảo với vẻ đẹp mê hoặc, kỳ vĩ của núi, của mây, của những đồng lúa xanh mướt hút tầm mắt..


Địa hình Bắc Sơn bằng phẳng thuận lợi cho việc tưới tiêu nên lúa được trồng 2 vụ và thường thu hoạch muộn hơn đa số các vùng khác từ nửa tháng tới một tháng. Lúa ở Bắc Sơn được trồng không cùng thời điểm nên có ruộng thu hoạch trước, ruộng thu hoạch sau tạo thành những mảng màu đặc sắc. Đặc biệt, người nông dân ở Bắc Sơn thường thu hoạch bằng máy nên tốc độ thu hoạch rất nhanh và tạo thành những hình thù rất lạ mắt trên đồng ruộng.

 

Mặc dù đẹp nhất vào mùa lúa chín, khoảng từ tháng 7 đến cuối tháng 11, khi đó những bông lúa chín vàng nhuộm một màu vàng ruộm, óng ả lên cả vùng thung lũng rộng lớn, song thực tế du khách có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp ấn tượng của vùng đất này vào tất cả các mùa trong năm, mỗi mùa Bắc Sơn khoác lên mình một màu sắc khác  Nếu đến Bắc Sơn vào thời điểm khi lúa mới cấy, toàn bộ không gian sẽ hiện ra một màu xanh mướt của nước, của mạ non, thật đúng như lời ví von của Whenonearth – “Thiên đường màu xanh hiếm có trên trái đất”.


Cảnh sắc Mỹ Sơn còn được tô điểm bởi những con sông, con kênh nhỏ uốn lượn cắt ngang, chạy dọc những cánh đồng trong thung lũng. Núi, mây, sông, nước, ruộng lúa, những mái nhà sàn…tất cả hòa quyện tạo thành bức tranh đông quê hoàn hảo mang tên Việt Nam.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Vườn Quốc gia Xuân Sơn điểm đến hấp dẫn của ngày cuối thu

Nằm trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Vườn Quốc gia Xuân Sơn bắt đầu trở thành một điểm đến mới của dân thích du lịch phía Bắc. Bởi nơi đây vẫn giữ được vẻ nguyên sơ, hoang dã; khí hậu quanh năm mát mẻ.

Cách Hà Nội chỉ khoảng 120km, Vườn quốc gia Xuân Sơn như mời gọi dân du lịch bụi, ưa thám hiểm bởi cái “danh là một trong số 15 vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam, nơi có môi trường sạch sẽ, mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm từ 22-23 độ C. Và lý thú hơn nữa là một ngày ở đây có đủ tiết trời của 4 mùa: buổi sáng mát mẻ của mùa Xuân, buổi trưa ấm áp của mùa Hè, buổi chiều hiu hiu như mùa Thu, buổi tối trời se lạnh đặc trưng của mùa Đông.

 

 

Từ Hà nội đi qua Sơn tây theo đường 32 tới Thanh Sơn, chạy tiếp tới ngã ba có cái cầu đi Phú Thọ thì trước cầu rẽ trái là lối đi Cổ Tiết, chạy theo đường QL xuyên qua khu rừng trồng phi lao và cả chè bạn sẽ nhìn thấy biển chỉ đường tới “Vườn Quốc Gia Xuân Sơn”. Nếu đi xe máy, bạn có thể len lỏi trong những con đường nhỏ để thâm nhập sâu vào rừng. Rồi nếu không kìm được cái khát khao được khám phá, được tự mình mò mẫm trong rừng xanh thì hãy tìm nơi gửi xe để rồi bắt đầu một cuộc trekking kỳ thú. Tuy nhiên, nếu đã có ý định sống trong rừng thì hành trang theo mình cũng cần đẩy đủ để sẵn sàng hoang dại một vài ngày và chớ quên những dụng cụ phòng thân cũng như đồ sơ cứu cần thiết.

 

Bên cạnh sự đa dạng về hệ sinh thái, Vườn quốc gia Xuân Sơn còn cuốn hút với hệ thống suối thác, từ những con suối hiền hòa, những thác nước nhỏ cho đến những đèo dốc núi cao với những con thác bạc đổ nước trắng xóa. Dân du lịch còn truyền nhau sự kỳ bí của khu rừng quý sau những chuyến thám hiểm 16 hang động đá với thạch nhũ đẹp rủ xuống thành muôn hình kỳ lạ. Động Tiên là một hang ngầm trong lòng núi đá cẩm thạch dài 10km. Trong hang có đường thông gió lên thẳng đỉnh núi, làm cho không khí trong lành mát dịu. Hồ nước có nhiều loài cá lạ hấp dẫn. Các hang Thổ Thần, hang Na, thác nước Lưng Trời cũng có sức quyến rũ du khách với vẻ đẹp kỳ vĩ.

 

Rải rác quanh vườn quốc gia là các bản người Mường, người Dao vẫn còn nguyên văn hoá cổ truyền. Đa, nên bạn cũng dễ dàng xin được “home stay” tại các gia đình bản địa để trải nghiệm đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân tộc như đan lát đồ dùng, dệt thổ cẩm, hay những buổi sinh hoạt văn hóa như đâm đuống, múa xòe, thưởng thức những món ăn miền sơn cước….

 

Cứ mỗi bước khám phá vườn quốc gia, lại là những cảm giác đầy lý thú khi được thoả chí tưởng tượng, cảm nhận và trải nghiệm những hấp dẫn núi rừng, hang sâu, dễ khiến những bước chân lữ hành phải chùn lại, nghiêng mình trước vẻ đẹp mà tạo hoá đã dành tặng Xuân Sơn.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Du lịch Cúc Phương, hành trình trở về với thiên nhiên

Chỉ cách Hà Nội 120 cây số về phía Tây Nam, Vườn Quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình) như một bảo tàng thiên nhiên, lưu giữ hệ động, thực vật trên hệ núi đá vôi phong phú bậc nhất ở nước ta.

Đến Cúc Phương, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những cây cổ thụ ngàn năm, những loài thực vật tồn tại từ lâu đời, những loài chim quý hiếm tuyệt đẹp…

 

 

Nghe tiếng Cúc Phương đã nhiều, từ rất lâu khi còn ngồi trên ghế nhà trường với những giờ sinh học, địa lý… Ấy vậy mà mới gần đây chúng tôi mới chọn nơi đây là địa điểm du lịch vì nghĩ rằng, Cúc Phương… kém hấp dẫn, so với các bãi biển đầy nắng gió, những thành phố hiện đại tha hồ có chỗ ăn, chỗ chơi, chỗ mua sắm… Song, khi đến với Cúc Phương chúng tôi mới biết mình lầm! Với hệ sinh thái phong phú, Cúc Phương rất phù hợp với những người thích nghỉ dưỡng, tham quan, đắm mình vào khung cảnh thiên nhiên hoang sơ; chứ không phải là những người đi du lịch để tìm nơi hát karaoke hay vũ trường sôi động. Ở Cúc Phương, thú vị nhất là hoạt động cắm trại và đi bộ trên những con đường mòn nhỏ, tìm đến những loài cây quý hiếm trong khu rừng rậm rạp. Bên cạnh đó là các hoạt động khác như chạy xe đạp xuyên rừng, tham gia một khóa du lịch ngắm chim, tìm về hang động người xưa hay đi bộ xuyên rừng già. Đơn giản hơn nữa là ngồi thư giãn đung đưa nhịp chân trên chiếc xích đu ngay trước khu nhà nghỉ và mở một bữa tiệc nho nhỏ trong không gian xanh mướt. Người lớn có thể dạy cho con trẻ học về thiên nhiên, cho chúng biết về thế giới sinh vật như các loài côn trùng, các loài cây và những loài hoa dại.

 

Nghe được lời khuyên của những người đã từng đến Cúc Phương nên chúng tôi đi du lịch vào thời điểm đẹp nhất, từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Như bao du khách khác, chúng tôi chọn tuyến đi trải nghiệm đầy đủ với thăm Động Người Xưa đầu tiên, rồi tham quan Bảo tàng động vật quý hiếm. Sau bữa tối là chương trình giao lưu đốt lửa trại, liên hoan văn nghệ và ngủ đêm tại nhà sàn giữa rừng. Sáng ngày hôm sau, sẽ đi khám phá một số điểm du lịch độc đáo khác như: Vườn thực vật Cúc Phương, trung tâm du khách Cúc Phương, trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương, cây đăng cổ thụ, cây chò ngàn năm, bản người Mường, đỉnh mây bạc, hồ Yên Quang-động Phò Mã, Hang Con Moong, Động Trăng Khuyết…

 

Hiện nay, Vườn quốc gia Cúc Phương có ba khu vực lưu trú, ăn uống và vui chơi giải trí hoàn thiện, bao gồm: Khu cổng Vườn, khu Hồ Mạc và khu Trung tâm, du khách có thể nghỉ chân tại các phòng nghỉ hiện đại, tiện nghi, vệ sinh khép kín hay nhà sàn tập thể, phòng nghỉ đơn giản với giá cả phải chăng. Nếu khách du lịch thích tự túc, bạn cũng có thể chuẩn bị những đồ ăn sẵn mang đi theo suốt cuộc hành trình của mình như: Cơm nắm, muối vừng, xôi, cơm lam… hoặc có thể thưởng thức những món ăn vừa ngon vừa rẻ ở nơi đây. Nếu như đi du lịch vào mùa mưa nên chuẩn bị cho mình và cả đoàn những loại kem bôi chống các loại côn trùng, vì vào mùa mưa trong rừng rất lắm loại côn trùng có thể “làm phiền” chuyến du lịch của bạn.

 

Kết thúc chuyến đi hai ngày tới Cúc Phương, chúng tôi biết rằng, mình sẽ còn quay lại nơi đây cùng với gia đình và bạn bè. Để chia sẻ với nhau những phút giây trải nghiệm với thiên nhiên Cúc Phương, sau những khoảng thời gian làm việc mệt mỏi cũng như cuộc sống thành thị xô bồ. Nếu bạn chưa có dịp được đến với Cúc Phương, thì còn chờ gì nữa? Hãy xách ba lô lên và bắt đầu cuộc hành trình trở về với thiên nhiên.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Mì Quảng – đậm đà hương vị miền Trung

(TITC) – Mì Quảng là đặc sản nổi danh không chỉ ở vùng đất Quảng Nam mà còn phổ biến ở cả khu vực miền Trung.  

Mì Quảng có nhiều loại khác nhau như mì gà, tôm, thịt, trứng, bò, sứa, cá lóc…, mỗi loại mang một hương vị đặc trưng riêng, không lẫn vào đâu. Hòa quyện cùng sợi mì trắng ngà, mềm mại là vị thanh ngọt và béo của nước hầm xương, mà người dân địa phương vẫn quen gọi là nước lèo hay nước nhưng.

Sợi mì Quảng làm từ loại gạo không dẻo, hàm lượng bột cao nhưng phải đảm bảo độ kết dính. Gạo được ngâm ít nhất trong vòng 1 tiếng, sau đó cho vào cối xay mịn, tráng thành những lá mì mỏng, xếp chồng lên nhau và thái sợi. Để những sợi mì không dính, phải dùng dầu phụng (hay còn gọi là dầu lạc) phi thơm với củ nén đập dập thoa lên bề mặt của lá mì.

Nước lèo được chế biến từ nhiều loại nguyên liệu khác nhau tùy từng loại mì. Với mì Quảng truyền thống thì nguyên liệu chính là tôm và thịt heo tươi. Tôm sau khi bỏ đầu, làm sạch thì được ướp cùng với thịt. Một ít tôm được để riêng, giã nát rồi cho vào nước lèo tạo vị ngọt tự nhiên. Tôm và thịt sau khi ướp sẽ được chao bằng dầu phụng cho đủ độ thấm và nấu với nước lèo. Nếu là mì gà thì để có một nồi nước lèo ngon, phải lọc thịt nạc của gà để ướp rồi đem xào. Xương và những phần còn lại của gà cho vào nồi nước ninh kỹ. Để tạo váng màu đỏ sóng sánh cho nước lèo, người ta xào hạt điều với mỡ rồi cho vào nồi nước, chờ khi nước sôi già mới đổ thịt gà đã xào vào và nêm gia vị vừa ăn.

Bên cạnh đó, việc chuẩn bị rau sống và các loại phụ liệu khác cũng là một công đoạn không thể thiếu. Rau dùng cho mì Quảng bao gồm 9 loại là cải non, xà lách tươi, húng lủi, quế xanh, giá trắng, rau răm, ngò rí, hành hoa và hoa chuối thái mỏng. Đặc biệt, đậu phộng rang và bánh tráng mè nướng giòn sẽ làm tăng thêm hương vị độc đáo cho mì Quảng. Bên cạnh bát mì còn có một chén nước mắm chanh, tỏi, ớt để nêm cho vừa ăn.

Đến với Quảng Nam, đâu đâu du khách cũng đều có thể dễ dàng tìm đuợc một quán mì Quảng. Có những quán vách nứa mái tranh bên sườn núi, có quán nằm yên ả bên những cánh đồng xanh mướt, có quán lại lọt thỏm giữa phố thị ồn ào. Mì Quảng hiện diện trong bữa ăn của người dân địa phương như là một thói quen cũng như là thứ đặc sản dùng để tiếp đãi khách và bạn bè phương xa. Chính điều này là một nét hấp dẫn riêng níu chân du khách mỗi khi có dịp ghé thăm mảnh đất này. 

Phạm Phương

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

TIN MỚI NHẤT