Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Hòn Tằm – đảo thiên đường giữa vịnh Nha Trang

Người xưa ví von Hòn Tằm như một con tằm xanh giữa nương dâu xanh ngát hướng về biển Đông vì vị trí và hình dáng đặc biệt của hòn đảo này.

Bạn hãy thử tưởng tượng một ngày nào đó khi tia nắng đầu tiên rọi vào tận chiếc giường êm ái đánh thức bạn dậy trong tiếng chim hót lảnh lót trong khu vườn sát bên bungalow. Nhìn ra phía biển, bạn thấy Mặt Trời vàng rực đang từ từ nhô lên giữa biển khơi. Bạn sẽ bật dậy, tung tăng chạy trên bãi cát trắng mịn, hít thở không khí trong lành và tâm hồn lâng lâng mỉm cười đón chào ngày mới hứa hẹn thật nhiều niềm vui tại Hòn Tằm. 

 

 

Người xưa ví von Hòn Tằm như một con tằm xanh giữa nương dâu xanh ngát hướng về Biển Đông vì vị trí và hình dáng đặc biệt của hòn đảo. Giữa Vịnh Nha Trang xanh và êm ả, khí hậu luôn mát mẻ, đầy nắng và gió, hòn đảo nhiệt đới này không chỉ giàu sức sống với biển xanh quyến rũ và cát trắng mịn màng, mà còn được phủ xanh bát ngát bởi rừng nguyên sinh nhiệt đới. Tổng thể thiên nhiên ấy làm bất cứ du khách nào đặt chân lên hòn đảo cũng phải ngây ngất trước vẻ quyến rũ mà tạo hóa đã ưu ái ban cho hòn đảo này. Từ lâu, Hòn Tằm đã nổi tiếng là một địa điểm lý tưởng dành cho du lịch sinh thái tại Việt Nam. 

 

Chỉ một lần đến với Hòn Tằm, du khách sẽ đắm chìm trong trời biển bao la đẹp như huyền thoại và lắng đọng tâm hồn để nhận ra giá trị từng khoảnh khắc thời gian. Hãy đắm mình vào thiên nhiên và tận hưởng cuộc sống tuyệt vời ở chính nơi trời biển bao la giao hòa với nhau này qua tập phim S – Việt Nam sau đây.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Chợ đêm Bến Tre – điểm tham quan, mua sắm về đêm thú vị

(TITC) – Nằm trên tuyến đường Phan Ngọc Tòng và đường Hùng Vương (từ cầu Bến Tre 1 đến đường Nguyễn Huệ), TP. Bến Tre, chợ đêm Bến Tre bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2012 để phục vụ nhu cầu mua sắm, giải trí, giao lưu văn hóa của người dân địa phương và du khách. 

Chợ đêm Bến Tre gồm 183 gian hàng, trong đó có 128 gian thương mại (hàng may sẵn, hàng lưu niệm, hàng thủ công mỹ nghệ…), 11 gian ẩm thực và 44 gian trái cây. Chợ hoạt động từ 17h00 đến 22h00 hàng ngày.

Các gian hàng của khu chợ được bố trí trên 2 trục đường có nhiều nhà hàng, khách sạn lớn từ một đến ba sao của TP. Bến Tre như: nhà hàng Nam Sơn (đường Phan Ngọc Tòng); khách sạn Hàm Luông, Việt Úc, Hùng Vương, Đại An (đường Hùng Vương… cùng nhiều khách sạn khác trong khu vực trung tâm thành phố. Những khách sạn này cách khu chợ đêm khoảng vài trăm mét nên rất thuận tiện cho du khách tản bộ để tham quan mua sắm. Du khách có thể thuê xe đạp tại khách sạn để tự do dạo quanh khu chợ đêm náo nhiệt này. Những mặt hàng được bày bán ở chợ rất phong phú, đa dạng với giá cả phải chăng. Du khách có thể chọn cho mình những món quà để làm kỷ niệm hoặc tặng cho bạn bè, người thân nhân chuyến du lịch về quê hương xứ dừa Bến Tre. Ngoài các mặt hàng thời trang, lưu niệm, chợ đêm còn bày bán rất nhiều loại trái cây tươi ngon do những chủ nhà vườn trực tiếp đem đến bán cùng nhiều món đặc sản của miền quê sông nước Bến Tre. Rất nhiều du khách nước ngoài đến Bến Tre cũng có thú vui tham quan, mua sắm tại chợ đêm. Mặc dù bất đồng ngôn ngữ nhưng với sự hiếu khách và kinh nghiệm của người bán hàng, họ vẫn mua được những món hàng mà mình thích.

Không chỉ nằm ở vị trí thuận lợi cho các hoạt động giao thương, buôn bán, lại nằm dọc theo dòng sông Bến Tre thơ mộng, chợ đêm Bến Tre còn phù hợp cho việc tổ chức các dịch vụ thương mại kết hợp du lịch, ngắm cảnh vào ban đêm. Đến đây, du khách sẽ cảm nhận được Bến Tre lãng mạn về đêm qua những ánh đèn lung linh ở hai bên bờ sông được nối liền bởi cây cầu Bến Tre xinh đẹp. Sẽ tuyệt vời hơn nếu du khách có dịp đi dạo trên cầu để ngắm nhìn toàn cảnh thành phố khi màn đêm buông xuống và hít thở không khí trong lành của miền quê sông nước.

Chợ đêm Bến Tre là sản phẩm du lịch vừa phục vụ người dân địa phương vừa đáp ứng nhu cầu tham quan, mua sắm và thưởng thức ẩm thực về đêm của du khách trong và ngoài nước. Việc đưa chợ đêm Bến Tre vào hoạt động cũng đã góp phần thúc đẩy phát triển du lịch, nhất là lưu giữ khách ở lại dài ngày tại xứ dừa Bến Tre.

Phạm Phương

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Hấp dẫn chè Huế

(TITC) – Nói đến ẩm thực Huế không thể không nhắc đến chè Huế với thực đơn chè 36 món. Vị ngọt thanh hấp dẫn của các loại chè Huế khiến du khách nếm thử một lần sẽ lưu luyến không quên.  

Chè Huế có từ lâu đời, là đỉnh cao của nghệ thuật chế biến để tạo nên một trong ngũ vị đặc trưng (mặn – ngọt – chua – cay – đắng) của ẩm thực Huế. Chính vì thế, trong cung đình trước đây, chè là món tráng miệng không thể thiếu trong bữa ngự thiện của các vua triều Nguyễn. Bên cạnh chè cung đình, các món chè dân dã bình dị không chỉ là món ăn ưa thích hàng ngày của mọi tầng lớp nhân dân Huế mà còn được người dân dùng để cúng tế nhân dịp lễ, tết như món quà dân dã, ngọt ngào dâng lên các bậc tiền nhân.

Chè Huế có nét đặc sắc riêng về hương vị, màu sắc, độ ngọt, thanh, thơm dịu, béo, bùi hòa quyện… là nhờ vào nguyên liệu đặc trưng và nghệ thuật chế biến tài hoa. Để làm nên những món chè mang đậm phong vị Huế phải trải qua rất nhiều công đoạn công phu, tỉ mỉ, từ chọn nguyên liệu, chuẩn bị gia vị, hương liệu đến khâu chế biến sao cho ly chè đến tay thực khách phải thật thơm ngon, hấp dẫn.

Thành phố Huế có rất nhiều quán chè đủ loại bán cả ngày trên các tuyến đường, vỉa hè, nhưng nổi tiếng nhất là chè Hẻm ở đường Hùng Vương, chè Tý ở đường Trần Phú hay các quán chè ở đường Trương Định, Đông Ba… Nếu thích vị ngọt bùi, thơm mát, du khách có thể chọn chè bắp, khoai mài, đậu xanh, đậu ván… Nếu thích hương vị trái cây thì chè xanh dứa, hạt lựu, môn sáp vàng, bông cau, chuối, mít… là lựa chọn tuyệt vời. Tuy nhiên, đỉnh cao của ẩm thực chè Huế phải kể đến những món chè thanh tao của chốn cung đình xưa như chè hạt sen, nhãn bọc hạt sen, đậu ngự, bột lọc thịt heo quay… Mỗi loại chè đều có một hương vị đặc trưng riêng, không lẫn vào nhau. Người Huế hầu như ăn chè quanh năm, mùa đông chè nóng, mùa hè chè đá.

Chè Huế là một phần không thể thiếu trong đời sống của người dân Huế cũng như văn hóa ẩm thực Huế. Đến nay, ở Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh hay một số thành phố khác trong cả nước đều có những quán chè Huế do chính người Huế chế biến, luôn tấp nập khách đến thưởng thức.

Phạm Phương

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Vàng phơi mùa giáp hạt

Cuối tháng Chín (theo lịch ta), khi đất trời bắt đầu dựng heo may, mặt trời rải những tia nắng màu mật ong lên những thửa ruộng bậc thang vùng miền Tây xứ Thanh, cũng là lúc đồng bào các dân tộc Thái, Mường bắt đầu cho một mùa thu hoạch lúa mới.

Theo Quốc lộ 47, ngược miền Tây xứ Thanh vào một ngày hươm nắng, nắng như nhuộm vàng tất cả những thửa ruộng bậc thang từ những bản làng ven lộ chính đến những bản làng nơi lưng chừng núi xa xôi. Tôi có cảm giác những thảm lúa như được dát vàng, chảy bất tận từ đỉnh trời xuống mãi những bình nguyên xa xôi, nơi những con xuối hòa mình vào dòng Mã Giang cuộn sóng về đông!

 

 

Những thửa ruộng bậc thang ở đây tuy không quy mô như những thửa ruộng mạn Tây Bắc, nhưng nó mang trong mình một vẻ đẹp riêng bởi thổ nhưỡng, khí hậu, tấm chân tình của đồng bào miền núi và vượt lên tất thảy là mùa vàng ở đây đang góp phần giúp đồng bào dân tộc thiểu số đi qua những cơn đói mùa giáp hạt.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Khám phá những nét rồng tiên trong điêu khắc dân gian

Qua những nét chạm khắc tinh xảo và sắc nét đến từng chi tiết, người nghệ nhân tài hoa đã thổi hồn vào những khúc gỗ, tảng đá vô tri, khiến chúng không còn đơn thuần là đồ vật, mà đã thành những bức phù điêu biết nói, những sứ giả của lịch sử.

Tự ngàn xưa, nhắc đến người Việt là nhắc đến đức tính cần cù chịu thương chịu khó, óc sáng tạo phong phú và đôi bàn tay khéo léo tài hoa. Từ đôi bàn tay ấy, cả một thế giới đa dạng về hình khối, màu sắc của nghệ thuật tạo hình dân gian đã hiện ra và khắc họa sinh động đời sống dân tộc Việt.

 

 

Trong những gam màu của lịch sử, có thể dễ dàng tìm lại những dấu vết còn rất rõ nét của nghệ thuật chạm khắc dân gian là ở trong đình chùa xứ Bắc.

 

Ra đời và phát triển nở rộ trong giai đoạn thế kỉ XVI và thế kỉ XVII, trải qua một thời kì dài khi thịnh lúc suy trên con đường phát triển của dân tộc, những màu sắc dân gian đó không hề bị lu mờ bởi những biến cố lịch sử, mà vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” tồn tại cho đến tận hôm nay. Chúng là những chiếc chìa khóa vô cùng quý giá để dẫn dắt chúng ta cùng tìm về những tinh túy mà ông cha ta dày công vun đắp.

 

Qua những nét chạm khắc tinh xảo và sắc nét đến từng chi tiết, người nghệ nhân tài hoa đã thổi hồn vào những khúc gỗ, tảng đá vô tri, khiến chúng không còn đơn thuần là đồ vật, mà đã thành những bức phù điêu biết nói, những sứ giả của lịch sử. Chúng kể cho ta câu chuyện đời sống thường nhật của người xưa thật mộc mạc và gần gũi. Đó là hoa lá chim muông được cách điệu ngộ nghĩnh, là cảnh sinh hoạt thường nhật những khi đi cấy đi cày, khi hội hè đình đám, là đôi trai gái đùa vui trong đầm sen đã xô đổ những thành lũy bảo thủ kiên cố của thời kì phong kiến để vươn tới thế giới tự do của tình yêu và khát vọng.

 

Những bản khắc ấy là những “tài liệu không chữ” quý giá phản ánh quá trình giao thoa và tiếp biến các giá trị trong mọi mặt của đời sống từ kinh tế, chính trị cho đến văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo trong lịch sử Việt.

 

Để khám phá những di sản quý giá đó, công chúng quan tâm có thể tham gia trải nghiệm tour du lịch thứ 11 của “Tôi xê dịch” mang tên: “Điêu khắc dân gian – Những nét rồng tiên” tổ chức ngày 12/10/2014 (6h00-18h00) tại Đình Làng Thổ Hà (Bắc Giang) và Chùa Phật Tích (Bắc Ninh) để cùng nhau lật mở các bí ẩn thú vị dưới mái đình cổ kính, hiểu được ý nghĩa của vẻ đẹp giản dị mà lộng lẫy trên những cột, những kèo…

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Nhà dài M’nông

Mỗi gia tộc M’nông sống trong một bon thường làm chung một nhà dài. Nhà dài chứa từ năm, mười hộ cho đến hàng chục hộ, mỗi hộ đều có kho lúa và bếp nấu ăn riêng, của cải tài sản cũng phải quản lý riêng biệt từng hộ.

Không gian nhà ở

 

Theo quan niệm của đồng bào M’nông, làm nhà dài có nhiều cái lợi: không tốn phên che vách hông, vào mùa mưa đi lại từ hộ này sang hộ khác không bị mưa ướt, bà con dòng họ được sống chung trong một mái nhà, chết sống có nhau, đói rét giúp nhau. Gia đình gốc, tức là thế hệ đầu tiên ở giữa, cai quản các hộ thành viên, những gia đình mới tách hộ ở hai bên.

 

 

Cách bố trí không gian trong ngôi nhà dài theo một trật tự được quy định: Kho lúa làm trên gác, phía dưới làm bếp nấu ăn, hai bên làm sạp ngủ, phía trên làm sạp dài liền nhau cả dãy nhà, phía dưới làm sạp từng hộ, để khoảng trống chừng bốn sải để làm cửa và có chỗ để giã lúa khi trời mưa.

 

Kho lúa của mỗi hộ đặt cuối dãy nhà, nối đuôi nhau. Mỗi kho lúa đều có thang riêng để lên xuống khi cần lấy lúa. Hai bên cửa kho lúa có đặt hai bồ lúa to đựng lúa giống và đựng lúa tiết kiệm, khi lúa trong kho đã hết mới lấy lúa trong bồ ra ăn.

 

Ngay cửa ra vào có một bếp lửa dành cho đàn ông và khách. Bếp lửa phía dưới kho lúa dành cho đàn bà con gái nấu ăn. Ngoài ra còn có bếp lửa trong phòng ngủ dành cho đàn bà có con nhỏ. Trong nhà bố trí giường và sạp ngủ cho các thành viên như ông bà, cha mẹ, con gái, con trai, chủ và khách. Trên đầu giường thường để ngay ngắn một hàng ché rượu cần lớn. Phía trên vách còn treo thêm một hàng ché nhỏ, bầu gạo và nồi nấu cơm. Dưới mái nhà ngay cửa ra vào là nơi cất ná và chà gạt. Hai bên cửa ra vào sát giường cha mẹ ngủ bố trí một cái sạp để bầu nước, ngay dưới sạp là nơi chất củi.

 

Dụng cụ, đồ dùng sinh hoạt cũng được bố trí theo đúng quy định trong nhà. Bộ cồng chiêng treo sát vách phía trên hàng ché lớn, túi cá nhân treo vào cột nhà. Những vật quý của gia đình thường được giữ trong một chiếc gùi có nắp đặt phía trên đầu nằm của ông bà hoặc cha mẹ. Chén đĩa và thức ăn để trên sạp, gần chỗ con gái và ông bà ngủ. Cối và chày giã lúa cất phía ngoài hai bên cửa ra vào. Những chiếc gùi và nia treo trên bếp lửa. Bàn thờ hồn lúa đặt phía sau kho lúa, ngay cửa ra vào, phía sau nhà có trồng ngải hộ thân. Mỗi khi uống rượu hoặc khi có lễ cúng, trước khi ăn uống phải phết rượu và máu lợn, gà, trâu, bò vào đá bếp, bàn thờ tổ tiên, bàn thờ đầu dê, đầu vịt và bụi ngải trồng phía sau nhà để cho các Thần phù hộ gia đình.

 

Bảo tồn nhà ở truyền thống dân tộc M’nông

 

Tập quán cư trú trong ngôi nhà dài tồn tại từ rất lâu đời của đồng bào M’nông, Mạ, S’tiêng ở tỉnh Đắk Nông, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Bình Phước. Đây là nét đặc trưng của kiến trúc của cư dân sinh sống trên cao nguyên. Khi thực hiện cuộc sống định canh định cư, tách hộ, nhà dài của người M’nông và các dân tộc khác dường như bị quên lãng, nhà ngắn của gia đình cá thể trở nên phổ biến ở các buôn làng.

 

Tuy nhiên, với nét kiến trúc và tập quán cư trú độc đáo, một số nhà dài đã được phục hồi nguyên mẫu. Tại khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng các tỉnh Tây Nguyên, khu du lịch sinh thái Buôn Đôn, khu du lịch Thác Bảy Nhánh, các làng du lịch bên Hồ Lắc (Đắk Lắk)… nhà dài truyền thống của dân tộc M’nông được phục dựng, là công trình kiến trúc vừa làm nơi lưu trú cho du khách vừa phục vụ tham quan, tìm hiểu, khám phá nét văn hóa cổ xưa của đồng bào.

 

Hiện nay, tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội) đã phục dựng một vài ngôi nhà truyền thống của người M’nông bên cạnh các loại hình kiến trúc của dân tộc khác. Đây là cách làm hiệu quả để bảo tồn kiến trúc dân tộc M’nông, giữ gìn những yếu tố văn hóa truyền thống độc đáo của các dân tộc bản địa vùng Trường Sơn – Tây Nguyên.

 

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Huffington Post ca ngợi món Cao Lầu của Việt Nam

(TITC) – Tạp chí Huffington Post của Mỹ đã có bài viết ca ngợi món Cao Lầu của Hội An là một trong những món ăn độc đáo nhất trong kho tàng ẩm thực phong phú của Việt Nam.

Bài báo miêu tả món ăn trông có vẻ kỳ lạ với sợi mì dai, thịt lợn, rau sống, mì khô chiên giòn và giá đỗ tươi, nhưng chính những thành phần này lại tạo nên một trong những món ăn tiêu biểu của Việt Nam có tên gọi là Cao Lầu – xuất xứ từ Hội An (một thành phố cổ nổi tiếng của Miền Trung Việt Nam).

 

 

Lần ngược trở lại lịch sử, Huffington Post đưa độc giả về khoảng thời gian từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19 khi Hội An là trung tâm mậu dịch lớn của Việt Nam, là một thương cảng sầm uất và quan trọng của vùng biển Đông Nam Á, nơi tàu thuyền ngoại quốc ghé qua để giao thương, và cũng là nơi cư ngụ tạm thời hoặc lâu dài cho người nước ngoài, nhất là người Trung Quốc và Nhật Bản. Khi phù sa sông Thu Bồn bồi đắp khiến cho tàu thuyền không thể cập cảng Hội An được nữa, dần dần hoạt động giao thương tại cảng thị này bị ngưng trệ. Nhưng niềm vui đã quay trở lại từ đầu những năm 1990 khi ngành Du lịch bắt đầu đưa thành phố này phát triển trở lại. Năm 1999, Hội An được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, và đến nay Hội An đã là một trung tâm du lịch nổi tiếng của Việt Nam và thế giới.

 

“Những đền thờ, miếu mạo mang dấu tích của người Hoa hay chùa Cầu với ảnh hưởng của kiến trúc Nhật Bản và các ngôi nhà, biệt thự mang kiến trúc Pháp xen lẫn nhau trong lòng phố cổ khiến cho Hội An thêm lung linh, cổ kính và quyến rũ”, tác giả bài báo thể hiện sự ngưỡng mộ. Đồng thời nhấn mạnh rằng bên cạnh nét độc đáo của những công trình kiến trúc mang âm hưởng của sự giao thoa văn hóa, một yếu tố quan trọng khác khiến du khách rất hào hứng khi đến với Hội An chính là ẩm thực.

 

Bài báo cho rằng Hội An, thành phố với hơn 120.000 dân, là nơi tập trung nhiều thể loại hương vị cả trong nước lẫn thế giới. Từ những quán ăn đường phố đến các nhà hàng nổi tiếng, mọi lúc mọi nơi, du khách không phải lo việc thiếu nơi thưởng thức ẩm thực. Du khách đến đây có thể thưởng thức những đặc sản độc đáo của phố Hội như: Cơm Gà (cơm được nấu với nước luộc gà, gà được xé nhỏ rồi trộn với hành tây và rau răm); bánh Bao, bánh Vạc (nhân làm bằng tôm và thịt lợn trộn với hành tỏi băm nhuyễn); và đặc biệt là Cao Lầu.

 

Thích thú với món ăn này, Huffington Post mô tả tỉ mỉ thành phần của Cao Lầu gồm có mì sợi dày và dai, thịt lợn, rau và sợi mì chiên giòn. Khi thưởng thức món mì này có người liên tưởng đến món mì soba của Nhật Bản, trong khi thịt lợn được thái lát mỏng và được chế biến theo phương pháp truyền thống Trung Quốc gọi là xá xíu. Kèm theo một ít rau sống, giá đỗ tươi và sợi mì cắt nhỏ đem phơi khô rồi chiên giòn trộn lẫn vào món ăn tạo nên âm thanh thú vị khi nhai lẫn với nhau.

 

Đi sâu vào cách thức chế biến, mì sợi để làm món Cao Lầu là tâm điểm của món ăn và cũng là thành phần chính để tạo nên sự độc đáo cho món ăn. Dường như chỉ có một số ít người biết chính xác công thức để chế biến loại mì này, câu chuyện về cách chế biến là cả một huyền thoại. Đầu tiên, nước để chế mì sợi phải được lấy từ nước giếng cổ Bá Lễ (giếng nằm nép mình ở một con hẻm nhỏ trong lòng phố cổ và ít người biết đến) rồi trộn với tro củi lấy từ đảo Cù Lao Chàm (đảo ngoài khơi của Hội An), sau đó mới đem ngâm gạo.

 

Quy trình làm Cao Lầu cũng tách rời nhau. Công thức là một bí mật, chỉ một số gia đình ở Hội An biết. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người cố gắng ghi chép lại công thức của riêng mình. Trong số đó, năm 2012, nhà văn David Farley của tạp chí AFAR đã đến Hội An để tìm hiểu về món ăn này. Ông được xem lại quy trình chế biến món Cao Lầu trong một gia đình ở Hội An. Những điều Farley khám phá ra là sợi mì được đem hấp, không luộc như hầu hết các loại mì khác. Và gia đình chế biến Cao Lầu ở Hội An mà Farley có dịp đến xem không sử dụng nước giếng cổ Bá Lễ mà chỉ dùng nước giếng đào bên cạnh nhà, tro để trộn nước ngâm gạo cũng được lấy ở địa phương chứ không phải từ đảo Cù Lao Chàm.

 

Bài báo khẳng định dù rằng ngày nay món Cao Lầu có được chế biến với nước giếng cổ và tro Cù Lao Chàm hay không không quá quan trọng. Điều quan trọng là món ăn này vẫn giữ được hương vị truyền thống, đậm đà bản sắc văn hóa của một đô thị cổ. Sự kết hợp giữa các thành phần nguyên liệu, cũng như câu chuyện bí ẩn thú vị phía sau mỗi công đoạn chế biến đã tạo nên sự hấp dẫn kỳ lạ cho món ăn độc đáo này của Hội An.

Phạm Thanh (theo Huffington Post )

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ: Nơi tôn vinh giá trị lịch sử dân tộc

Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là công trình xây dựng chào mừng kỷ niệm 60 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2014), được khởi công xây dựng từ tháng 10/2012 và mở cửa đón khách ngày 5/5/2014. Đây là điểm dừng chân mỗi khi du khách đến Điện Biên, là không gian sống động về chiến thắng chấn động địa cầu.

Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ được thi công xây dựng từ tháng 10/2012, có diện tích trên 22.000m2. Sự hoành tráng trong thiết kế cùng với thủ pháp trưng bày độc đáo sẽ khiến người xem như được trở về để chứng kiến chặng đường 9 năm kháng chiến chống Pháp khi đi xuyên suốt không gian trưng bày của Bảo tàng.

 


Khu nhà chính được thiết kế hình chiếc mũ nan có mắc lưới để gài vật ngụy trang, giống như của chiến sĩ Điện Biên năm xưa, gồm một tầng hầm và một tầng nổi.


Tầng hầm sẽ là nơi đón tiếp khách tham quan, khu hành chính và không gian học tập tương tác; tầng nổi sẽ là không gian trưng bày cố định, không gian panorama (toàn cảnh) và bộ phận làm việc.


Bảo tàng rộng hơn 7.000m2, trưng bày gần 1.000 hiện vật và hình ảnh được chia làm 4 nội dung gồm: Chặng đường 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, từ 9/1945-9/1953; diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ; sự giúp đỡ của nhân dân thế giới đối với chiến dịch Điện Biên Phủ; tác động của Chiến thắng Điện Biên Phủ đối với thế giới; phòng tôn vinh.


Ngoài ra, toàn bộ phía trong tầng 2 của nhà bảo tàng sẽ được thiết kế bức tranh panorama, là một hạng mục rất quan trọng trong chuỗi nội dung trưng bày của Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, dự kiến hoàn thành vào năm 2016.


Đây là bức tranh tròn đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam nhằm tái hiện một cách chân thực nhất chiến trường Điện Biên Phủ.


Toàn bộ Đề cương trưng bày trong Bảo tàng gắn với những sự kiện liên quan đến chiến dịch Điện Biên Phủ, trong đó điểm nhấn là “56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”, tôn vinh gương hy sinh của các anh hùng Tô Vĩnh Diện, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót…


Nhiều hiện vật mô tả công tác mở đường, kéo pháo, vận chuyển lương thực của quân và dân trong chiến dịch như chiếc xe cút kít của dân công Trịnh Đình Bầm với 1 phần bánh xe được làm từ bàn thờ tổ tiên, chiếc xe có thể chở tới 280kg/chuyến lương thực, nhờ vậy chỉ trong vòng 4 tháng, với quãng đường gian khổ 20km, cụ Bầm đã chuyển được hơn 12 tấn lương thực phục vụ chiến trường.


Đó là những hiện vật, kỷ vật minh chứng cho sự thần kỳ mà quân và dân Việt Nam đã làm nên trong chiến dịch Điện Biên Phủ, bằng những vũ khí, phương tiện thô sơ nhưng đã đánh bại vũ khí, phương tiện tối tân của thực dân Pháp trong kháng chiến.


Đặc biệt, nhiều hiện vật mới đã được đưa vào trưng bày tại Bảo tàng, là những hiện vật trước đây được trưng bày ngoài trời cùng với những hiện vật mà tỉnh Điện Biên trưng tập được trong cuộc vận động cựu chiến binh Điện Biên Phủ hiến tặng thời gian vừa qua như Bức tranh “Xuân trong hầm pháo” của Họa sĩ Phạm Thanh Tâm; con dao đa năng của Thiếu úy Nguyễn Dũng Chi thu được tại hầm De Castries; Sơn pháo 75 ly của Anh hùng Phùng Văn Khầu; khẩu pháo 105 ly đã bắn loạt ở trận đánh đầu tiên tại Him Lam, mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ…


Trong Bảo tàng cũng dành nhiều không gian để tôn vinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp – vị Tổng Tư lệnh chiến dịch Điện Biên Phủ bằng nhiều hình thức trưng bày, triển lãm.

 

Trong những ngày đầu tiên mở cửa, Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã đón rất nhiều du khách trong và ngoài nước, nhất là các cựu chiến binh, cũng như các em học sinh, sinh viên đến tham quan, tìm hiểu những kiến thức lịch sử về Chiến thắng Điện Biên Phủ năm xưa và sự nhạy bén, tinh thông, tài tình của vị Đại tướng – Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam Võ Nguyên Giáp. Nhiều cựu chiến binh trở lại nơi đây đơn giản chỉ để sống lại những kỷ niệm gian khổ hào hùng của một thời trai trẻ.


Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ sẽ cuốn hút du khách bởi đây là một trong những điểm nhấn làm nên sức hấp dẫn độc đáo và riêng có ở Điện Biên.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Chùa Xiên Cán – lộng lẫy kiến trúc Khmer của Bạc Liêu

Đến thăm Bạc Liêu, du khách ai cũng muốn một lần đến thăm Chùa Xiêm Cán, một công trình kiến trúc tuyệt đẹp của người Khmer và cũng là điểm du lịch tâm linh nổi tiếng của địa phương này.

Là ngôi chùa thuộc hệ phái Phật giáo Tiểu thừa của đồng bào dân tộc Khmer nhưng cái tên Xiêm Cán của chùa xuất phát từ tiếng Tiều (tiếng của người gốc Triều Châu, Trung Quốc hiện đang sinh sống nhiều ở Bạc Liêu) có nghĩa là “giáp nước” bởi địa hình vùng đất này trước đây bên cạnh bãi bồi ven biển.

 


Theo con đường rợp bóng những cây nhãn cổ thụ thuộc xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu, chùa Xiêm Cán hiện ra trong mắt chúng tôi với một kiến trúc độc đáo, nổi hẳn lên bầu trời xanh trong một ngày đầy nắng.

Chùa quả thực không hổ danh là một trong những ngôi chùa Khmer lớn nhất và lộng lẫy nhất trong hệ thống chùa Khmer ở Nam Bộ.

Ấn tượng đầu tiên là cổng chùa nằm về hướng Đông với những đường nét, kiến trúc hết sức đa dạng và có một màu vàng đất dịu mắt, mang đậm sắc thái Khmer. Phía trên là hình ba ngọn tháp, mô phỏng theo kiểu kiến trúc Angkor của người Campuchia và tượng hình rắn nhiều đầu được chạm trổ công phu. Ngoài ra, bao quanh chùa nối với cổng là bức tường rào chạm khắc rắn thần và nhiều hoa văn sặc sỡ, đẹp mắt.

Từ cổng vào trung tâm chùa Xiêm Cán khoảng 100m, du khách sẽ đi qua một khuôn viên rộng đầy những cây sao, cây dầu cao vút, xếp thẳng hàng và tỏa bóng mát rượi.

Lúc này, du khách dễ dàng cảm nhận được không gian trang nghiêm và thanh bình của một ngôi chùa cổ được xây dựng từ năm 1887.

Theo quan niệm của người Khmer, chánh điện thường quay về hướng Đông vì họ cho rằng con đường tu hành của Phật đi từ Tây sang Đông. Tọa lạc trên nền gạch cao 1,5m với ba bậc cấp cùng một hành lang bao quanh, chánh điện chùa Xiêm Cán có góc mái của mỗi đỉnh đều được đắp khúc đuôi rắn dài, uốn cong, mềm mại.

In lên nền trời xanh là cấu trúc mái theo nhiều tầng lớp chồng lên nhau, tạo ra khoảng không gian cao vút, hòa với đỉnh nhọn như một chóp tháp. Trên các nếp mái lại đắp các tượng rồng Khmer, đầu rồng dạng kép, thân rồng nằm xoãi và đuôi rồng thì uốn cong ngược lên như những ngọn lửa. Chính sự kết hợp giữa đầu, thân và đuôi rồng tạo nên hình ảnh những chiếc ghe ngo – tài sản chung của đồng bào dân tộc Khmer ở mỗi phum, sóc (đơn vị cư trú của người Khmer ở nông thôn – PV) và được bảo quản chu đáo tại chùa.

Bước vào chánh điện, du khách cần bỏ mũ nón, đi chân không để tỏ lòng tôn kính. Tại đây, cao hơn hết là một bàn thờ Phật với một tượng Phật to lớn, đặt trên các tượng Phật khác ở nhiều tư thế khác nhau – biểu hiện cho các thời kỳ hóa thân của Phật.

Điều đặc biệt trong chánh điện chùa Xiêm Cán chính là các phù điêu, bích họa trang trí nhiều màu sắc trên vách, trên trần và các cột. Riêng các bích họa kể lại cuộc đời của Phật và truyện Reamker (phiên bản Campuchia của trường ca Ramayana, một sử thi Ấn Độ nổi tiếng) đều đã để lại nhiều cảm xúc cho du khách viếng thăm chùa và càng khâm phục những nghệ nhân tạo nên các bích họa đó.

Phía bên ngoài, đối diện chánh điện là cột trụ biểu với hình tượng của con rắn 5 đầu, dùng để thắp nến vào những ngày lễ. Ở đây muốn ngụ ý rằng giáo lý Phật pháp sẽ soi sáng cho nhân loại, giúp mọi người sống hướng thiện như chính loài rắn được thuần hóa nhờ tấm lòng từ bi hỷ xả của Đức Phật.

Ngoài ra, chùa Xiêm Cán còn được bố trí khá hài hòa với Sala, tăng phòng, am, tháp cốt; trong đó, Sala là nhà hội của sư sãi và các tín đồ Phật giáo Khmer dùng để bàn bạc, chuẩn bị trước khi lên chánh điện hành lễ. Sala cũng được trang trí các tiết họa, các bích họa trên vách và trên trần. Xung quanh chánh điện là rất nhiều tháp để cốt của người quá cố. Đây là đặc trưng để nhận ra các ngôi chùa Khmer từ bên ngoài khi các ngọn tháp nhọn cao vút, xếp xen kẽ với nhau.

Không chỉ là nơi thực hiện các hoạt động tôn giáo, chùa Xiêm Cán cũng như các ngôi chùa Khmer khác ở Nam Bộ còn là trung tâm văn hóa, giáo dục của phum, sóc, lưu giữ các tập truyện kể dân gian xưa và nay hoặc các vốn văn hóa truyền thống. Tại đây, trẻ em trước tuổi trưởng thành (18 tuổi) được đưa đến chùa khoảng 3 năm để học chữ Khmer, chữ Pali, dạy kinh… và tìm hiểu được những bản sắc văn hóa của dân tộc mình./.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Kỳ thú suối Nước Vàng

Suối Nước Vàng là một địa danh du lịch kỳ thú ở Bắc Giang, nhưng chưa nhiều người biết tới. Con suối này thuộc địa phận xã Lục Sơn, huyện Lục Nam (tỉnh Bắc Giang), nơi giáp ranh với tỉnh Quảng Ninh. Đây là một điểm tham quan cùng trên tuyến đường du lịch Suối Mỡ và khu sinh thái Vũng Tròn-thác Ba Tia của huyện Sơn Động.

Nguồn gốc của dòng suối Nước Vàng là một câu chuyện nhuốm màu sắc Phật giáo. Người ta bảo rằng, du khách đến Tây Yên Tử như được lạc vào vùng thiên nhiên kỳ thú cùng với lòng thành kính dâng lên Phật hoàng Trần Nhân Tông. Ngày xưa, màu vàng là tượng trưng cho sự sang trọng của vua chúa. Sau khi vua Trần Nhân Tông bỏ ngai vàng lên dãy Phật Sơn tu luyện đã trở thành huyền thoại trong Phật giáo Việt Nam nói chung, thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói riêng. Từ đỉnh núi Phật Sơn linh thiêng, nơi Phật hoàng mở thiền viện, tu luyện có chảy ra một dòng suối rất đặc biệt với màu nước vàng óng ánh.

 

 

Đến được Lục Sơn đã rất gian nan rồi, nhưng tìm được con suối Nước Vàng huyền diệu lại càng khó khăn hơn. Có những lúc, chúng tôi phải dừng xe gắn máy lại để đẩy, dắt bộ. Thậm chí, đã có người bỏ cuộc quay xe tìm vội ra quán nước giải khát ở trung tâm xã, chấp nhận “chào thua” trên hành trình tìm suối Nước Vàng. Để đi hết suối Nước Vàng, du khách phải đi bộ 5km đường rừng. Có lẽ vì những lý do ấy mà cho đến hôm nay, suối Nước Vàng vẫn chưa nhiều người biết tới. Chúng tôi đã quyết định đi dọc dòng suối để cảm nhận vẻ đẹp hoang sơ của nó. Trên đường đi, chúng tôi đã bắt gặp những cảnh đẹp thiên nhiên kỳ thú. Thỉnh thoảng, mọi người lại sung sướng hò reo vì bắt gặp những thác nhỏ với nhiều vũng nước có thể tắm để cảm nhận sự mát lạnh thuần khiết. Trên đường đi còn thấy những khóm cây mọc ở vách núi và những tảng đá mang hình thù kỳ lạ, bắt mắt. Tất cả như hòa cùng với tiếng chim hót, tiếng suối chảy róc rách, làm cho lữ khách cảm thấy bớt mệt mỏi hơn.

 

Khi lên tới thác Giót, một khung cảnh tuyệt đẹp hiện ra trước mắt khiến chúng tôi vô cùng ngạc nhiên, thích thú. Đến đây, ai cũng thỏa thích hòa mình vào những tia nước đổ xuống từ độ cao 40m. Vượt qua con thác này, chúng tôi đặt chân tới một nơi cũng rất tuyệt vời mà ở đó có thể dựng lều trại ngủ qua đêm. Dân bản địa gọi nơi đó là Lái Cỏ (một bãi cỏ rộng mênh mông). Những ngày bình thường, mây mù giăng kín làm hạn chế tầm nhìn nên cũng có người gọi là “Sân Trời”. Còn những ngày nắng đẹp trời quang mây thì từ đây, du khách có thể nhìn thấy cảnh làng mạc nhỏ bé dưới chân núi và phía xa xa mờ mờ ảo ảo là đỉnh thiêng Yên Tử-Quảng Ninh.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

TIN MỚI NHẤT