Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Lãng đãng sương giăng hồ Tuyền Lâm

Nằm cách Trung tâm TP. Đà Lạt chừng 5km, qua thác Datanla trên đèo Prenn, hồ Tuyền Lâm được tạo thành từ dòng suối Tía huyền thoại.

Từ Trúc Lâm Thiền Viện nhìn xuống, hồ Tuyền Lâm thấp thoáng phía sau những rặng thông xanh rì rào với nhiều ốc đảo nhỏ như những viên ngọc bích trên tấm lụa mỏng tang lay động bóng mây soi. Thả bước xuống con dốc nhỏ xuyên qua rặng thông xanh, mặt hồ sẽ dần hiện rõ trong bốn bề bóng núi. 
 


Mỗi sớm mai, mặt hồ được phủ một lớp sương trắng mờ ảo khiến khung cảnh thêm phần huyền bí. Cho đến khi nắng dần lên cao, sương tan, thoảng trong tiếng gió từ rừng thông rì rào là tiếng chim lảnh lót đón ngày mới hân hoan. Du khách đến thăm Hồ Tuyền Lâm có thể nằm dài trên bờ cỏ quanh hồ, ngắm trời mây và tận hưởng bầu không khí thanh khiết tuyệt vời, hoặc lênh đênh trên chiếc thuyền nhỏ ra giữa hồ vừa ngoạn cảnh vừa câu cá. Thi thoảng, một tiếng chuông vọng ra từ Thiền Viện trên đỉnh núi Phụng Hoàng làm cho không gian tĩnh lặng quanh chốn thiền môn có phần siêu nhiên, thoát tục. Tất cả khiến ta thấy dường như không còn nơi nào khác bình yên thi vị hơn nơi này.

Du ngoạn trên hồ, chỉ có tiếng mái chèo khua nước hòa trong tiếng thông reo, chim hót quyện thành vòng quấn quýt tan vào không gian yên ả. Mặt hồ xanh biếc lấp lánh ánh mây trời trên nền nước xanh thẳm và phẳng lặng. Khi đến nơi này, nhiều du khách dành cả ngày trôi dạt với chiếc thuyền câu nhỏ trên mặt hồ, hoặc đi dạo dưới những hàng thông xanh ngay mép nước để cảm nhận không gian thơ mộng, huyền diệu sơn thủy hữu tình.

Xung quanh vùng hồ, những nét văn hóa của các dân tộc thiểu số nam Tây Nguyên, người Lạch, người Mạ vẫn còn nguyên chất núi rừng. Một buổi chiều tà bên đống lửa trại ven hồ, thịt nướng, cơm lam, rượu cần, tiếng cồng chiêng hòa trong điệu múa của những chàng trai, cô gái miền sơn cước sẽ đưa trí tưởng tượng của du khách về với những không gian xưa huyễn hoặc, mộng mơ.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Rừng Trà Sư đón mùa nước nổi

Các cô “tài công” mặc áo bà ba xanh da trời vừa xuống dầm bơi một đỗi, lòng du khách như đã chạm vào không gian yên tĩnh lạ lùng.

 

Tai có thể nghe được hơi thở của tràm phát ra và len sâu theo từng sớ thịt của đất. Đâu đây tiếng cò con hủ hỉ gọi nhau trên tổ ấm pha trộn những âm thanh trong suốt của những chú chim lạ. Màu sắc thay đổi từng lúc trên thảm bèo tai tượng trải dài ngút mắt trên mặt nước dưới chân rừng tràm, khi thì vàng lơ, khi thì xanh thẳm. Nắng đổ từng ô rớt xuống mặt bèo làm ta cảm giác như có bàn tay người họa sĩ vô hình đang tô vẽ lên bức tranh trước mắt. “Không gian này như trở về đôi ba trăm năm trước của miền Tây thuở mới khai hoang”, một ông khách thốt lên khi đang bơi ngược đường đoàn chúng tôi.

 

Quả vậy, chỉ cách tỉnh lộ 984 chưa đầy bốn cây số, mà rừng Trà Sư như tách biệt hẳn thế giới bên ngoài và làm cho du khách dễ có cảm nhận như đang sống với ngày xưa. Khu rừng này hiện thuộc xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Rừng rộng tới 850 héc ta, có hơn 70 loài chim, đặc biệt có hai loài chim quý hiếm ghi trong sách đỏ Việt Nam là giang sen (Mycteria leucocephala) và điên điển (Anhinga melanogaster). Thú thì có 11 loài, nhiều nhất là các loài gặm nhấm và dơi. Riêng dơi có dơi chó, tai ngắn quý hiếm đã được ghi vào sách đỏ. Cá, có khoảng 33 loài, gồm lóc, trê, rô sặc, cá trắng, đỏ man, thác lác cườm… Thực vật thì có trên 140 loài.

 

Nói chung, ở đây không thiếu những loài cá vốn có ở miền Tây Nam bộ trước đây. Trà Sư đúng là khu rừng ngập nước tiêu biểu cho vùng Tây Nam bộ với nhiều loại động vật, thực vật nguyên sơ sinh sôi và phát triển.


“Khoảng 5 giờ chiều mà bơi xuồng len lỏi theo dòng kinh như thế này thì trên đầu có hàng ngàn cánh chim bay về tổ làm náo nhiệt khu rừng”, cô gái bơi xuồng nói.

 

Mỗi chiếc xuồng nhỏ chở hai người bơi len lỏi quanh co theo những con kinh, hai bên kinh, tràm mọc chen nhau, thân cây cao từ 5-8 mét, có độ tuổi 10 năm trở lên. Các cô gái vừa làm hướng dẫn viên vừa làm “tài công” bơi xuồng điệu nghệ, lâu lâu dừng lại cho khách “chớp” một vài pô hình độc đáo từ những cánh cò đang xòe rộng và buông chân trong tư thế đáp xuống. Lỡ như khách bấm không kịp, cô gái tiếc rẻ và nói: “Em sẽ dừng xuồng chờ những cánh cò kế tiếp cho anh chộp, anh chuẩn bị sẵn sàng đi”.

 

“Các anh có thấy rừng tràm nhú đọt đơm bông không?”. Cô gái không đợi mọi người trả lời rồi nói tiếp: “Rừng đang đón mùa nước nổi về đó”. Cô kể, mùa nước nổi, quang cảnh ở đây đẹp hơn, những vạt bèo che kín hết mặt nước, cả lối xuồng đi. Trời vừa rực nắng, bèo như xanh hơn và màu xanh thay đổi từng lúc theo bóng nắng. Cá vào mùa nước nổi làm ổ đẻ trứng sinh con khắp nơi, chim chóc cũng tăng lên theo từng bầy.

 

Thường mùa nước nổi về từ tháng 8 đến tháng 10 âm lịch; năm nay, có thể về sớm vì ở đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu nước đang “chụp” một số ruộng lúa vụ ba yếu bờ bao. “Nước nổi cao hơn mực nước này chừng hơn nửa mét, rừng lúc ấy đẹp lắm. Các anh nhớ về chơi một lần cho biết”, cô gái áo bà ba xanh lại nhoẻn miệng cười tươi với khách.

 

Tôi bâng khuâng với màu xanh, với hương tràm phả xuống suốt dọc đường bơi hơn nửa giờ. Đoàn khách tấp vô bến và đi bộ một khoảng đường đất che khuất bởi những tán tràm giao nhau. Tôi leo lên đài quan sát, nhìn bốn phía rừng tràm lung linh trong nắng, một quang cảnh tuyệt vời.

 

Bữa cơm rừng trưa hôm đó được nấu với đôi tay khéo léo của chị Tư ở một quán ăn dã chiến. Món ăn dân dã mà ngon quá chừng: lẩu chua lươn, cá rô kho nồi đất, cá lóc nướng trui gói bánh tráng, rau rừng. Bụng đói và hương vị bữa cơm rừng Trà Sư quá tuyệt, lòng người lại như đang mơ màng sống lại với thuở tiền nhân đi mở cõi phương Nam…

 

Vậy mà giá “tua” vô rừng Trà Sư này chỉ có 50.000 đồng/người dù cho du khách đã được khu rừng tắm gội no nê với tiếng rừng tĩnh mịch luôn thì thầm qua kẻ lá.

 

Và giờ đây, từ phía thượng nguồn, mùa nước nổi đang bắt đầu ngầu đục đổ về. Chia tay với rừng, lòng du khách càng bồi hồi với những bông tràm trắng nở bung tròn, tỏa hương thơm dìu dịu. Chợt nghe rạo rực với tiếng thì thầm đâu đây trong lòng mạch đất: “Rừng Trà Sư đang chờ đón mùa nước nổi”.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Gốm Phù Lãng – lắng đọng tình người trong đất

Được du nhập từ thế kỷ XIII, gốm Phù Lãng (xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) nổi bật với ba loại hình truyền thống: gốm dùng trong tín ngưỡng, gốm gia dụng và gốm trang trí.

Sản phẩm của làng gốm Phù Lãng hiện nay rất đa dạng, gần gũi với đời sống của người dân Việt Nam như chum, vại, lọ, bình hoa, ang nước…

 

Gốm Phù Lãng có màu đặc trưng là hồng đỏ gạch và điều tạo nên nét độc đáo của gốm Phù Lãng được lưu giữ qua bao đời nay là sử dụng chất liệu tự nhiên làm men cho gốm; các công đoạn được làm thủ công hết sức tỷ mỷ từ khâu nặn, chuốt đến trang trí, vẽ hoa văn, lên men rồi phơi khô dưới nắng.

Dáng của gốm Phù Lãng mộc mạc, thô phác nhưng khỏe khoắn, chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất với lửa.

 

Gốm được đem phơi dưới nắng cho khô

 

Các sản phẩm gốm Phù Lãng đã được hoàn thiện

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Độc đáo nghề xe lanh dệt vải của người Mông ở Đồng Văn

Người Mông sinh sống trên cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang) vẫn tự hào rằng, họ có hai nghề truyền thống khiến cộng đồng các tộc người sinh sống ở Tây Bắc phải nể phục là nghề xe lanh dệt vải và nghề rèn độc đáo.
 

Nếu như nghề rèn chỉ dành cho đàn ông thì nghề xe lanh dệt vải dành cho phụ nữ và họ đã tạo nên một nét văn hóa thổ cẩm rực rỡ sắc màu giữa ngút ngàn đá xám ngắt của vùng cao nguyên cằn cỗi.

Ông Thào Mý Giàng ở xã Tà Lũng huyện Đồng Văn kể rằng, xưa kia tộc người Mông hay du canh du cư. Khi đi tìm một vùng đất mới thì người phụ nữ Mông bao giờ cũng mang trong người hai hạt giống là hạt ngô và hạt cây lanh. Khi tìm được đất để dựng bản, đàn ông Mông đắp bể làm lò rèn để rèn dao, cuốc, cày; còn phụ nữ thì tìm đất trong đá để gieo hạt lanh, trỉa hạt ngô.

Hạt ngô nuôi sống người Mông bằng các món như mèn mén, ngô đồ; còn hạt cây lanh sẽ cho sợi lanh để họ dệt nên như chiếc váy thổ cẩm để làm đồ mặc.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Làng Cù Lần: Bí ẩn giữa rừng thông cao nguyên Lâm Đồng

Nằm cách thành phố Đà Lạt chừng 20km, Khu du lịch làng Cù Lần (xã Lát, huyện Lạc Dương, Lâm Đồng) nằm lọt thỏm trong một thung lũng rộng gần 30ha và được bao phủ bởi màu xanh của bạt ngàn rừng thông. Thêm vào đó, chút không khí lành lạnh của cao nguyên càng làm say lòng du khách phương xa.

Đến làng khu du lịch Cù Lần, du khách có thể cưỡi ngựa dọc theo con đường đèo hoặc thử cảm giác mạnh trên những chiếc xe địa hình băng rừng, vượt suối.

Nơi đây từng ngôi nhà sàn nằm sát nhau như một bản làng nguyên sơ cùng những vật dụng sinh hoạt lao động thường ngày của cư dân.

Một người dân bản địa ở đây kể lại với chúng tôi rằng, nơi đây chính là trung tâm của bà con dân tộc K’ho sinh sống từ nhiều thế kỷ trước. Ngôi làng được chia thành nhiều khu vực nhỏ với nhiều dịch vụ riêng.

Cái tên làng Cù Lần được đặt theo tên loài cù lần rất hiền lành, trước đây có rất nhiều ở khu vực này. Nhờ bàn tay của những người có tâm huyết trong nghề du lịch “tô vẽ” thêm một số khu vực để tạo thành một khu du lịch nhằm phục vụ nhu cầu tham quan, khám phá của du khách.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Khám phá những điểm tham quan nổi tiếng tại quần thể danh thắng Tràng An

(TITC) – Nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 90km về phía nam, quần thể danh thắng Tràng An là Di sản thế giới hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận, bao gồm ba vùng được bảo vệ liền kề nhau là khu di tích lịch sử văn hóa cố đô Hoa Lư, khu danh thắng Tràng An-Tam Cốc-Bích Động và rừng nguyên sinh đặc dụng Hoa Lư. Với những giá trị đặc sắc về thẩm mỹ, địa chất – địa mạo và văn hóa, quần thể danh thắng Tràng An là một trong những khu du lịch hấp dẫn và độc đáo của cả nước, mỗi năm đón hàng triệu lượt khách tới tham quan.  

Đền vua Đinh

Điểm đến đầu tiên trong hành trình khám phá quần thể danh thắng Tràng An làkhu di tích lịch sử văn hóa cố đô Hoa Lư thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư. Hơn 1.000 năm trước, sau khi bình định 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng và chọn Hoa Lư làm kinh đô của nước Đại Cồ Việt. Kinh đô Hoa Lư tồn tại 42 năm (968 – 1010) qua ba triều đại: Đinh -Tiền Lê – Lý. Năm 1010, Vua Lý Thái Tổ lên ngôi đã dời đô ra Thăng Long, Hoa Lư trở thành cố đô và được đổi tên thành phủ Trường Yên.

Khu vực cố đô Hoa Lư có tổng diện tích gần 315ha, bao gồm 10 đoạn tường thành nối liền các dãy núi đá tạo nên thành trong (thành Tây) và thành ngoài (thành Đông) được nối thông với nhau bởi nhánh sông Sào Khê. Phía bắc cố đô giáp sông Hoàng Long, phía đông giáp dãy núi Hang Quàn, phía nam giáp dãy núi Hang Luồn, phía tây giáp dãy núi Cổ Giải. Hệ thống núi đồi trùng điệp, sông suối chằng chịt bao quanh chính là hệ thống phòng thủ thiên nhiên vững chắc bảo vệ kinh thành. Tại đây có nhiều di tích lịch sử đặc sắc như: chùa Cổ Am, chùa Nhất Trụ, chùa Thủ, chùa – động Am Tiên, đền thờ công chúa Phất Kim, đình Yên Trạch, miếu thờ Phù Dung công chúa, phủ Kình Thiên, phủ Đầu Tường, phủ Đông Vương, hang Quàn, hang Bim,…, trong đó tiêu biểu là đền vua Đinh và đền vua Lê.  

Đền vua Đinh thờ Đinh Tiên Hoàng (968 – 979) thuộc địa phận làng Trường Yên Thượng, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, cách chân núi Mã Yên khoảng vài trăm mét về phía nam. Được xây dựng vào khoảng thế kỷ 17, đến nay, ngôi đền này vẫn giữ được vẻ uy nghi trầm mặc, lúc nào cũng nghi ngút khói hương. Các lối đi, trụ cổng, tường gạch đều in dấu vết thời gian với những lớp rêu phong cũ kỹ cùng những khu vườn um tùm, xum xuê cây trái. Đền có kiến trúc theo kiểu “nội công, ngoại quốc”, gồm 3 tòa: Bái đường thờ công đồng, Thiêu hương thờ Tứ trụ triều Đinh và Chính cung thờ Vua Đinh Tiên Hoàng cùng các hoàng tử. Ði hết chính đạo, qua hai cột trụ lớn là đến sân rồng, giữa sân có một long sàng bằng đá xanh nguyên khối dài 1,8m, rộng 1,4m, xung quanh chạm nổi hình hoa lá, con vật tinh xảo với đôi nghê đá chầu hai bên rất sống động.

Đền vua Lê

Cách đền vua Đinh khoảng 200m về phía bắc là đền vua Lê thờ Lê Đại Hành (980 – 1005) thuộc làng Trường Yên Hạ, xã Trường Yên. Ðền cũng được xây theo kiểu “nội công ngoại quốc” bao gồm 3 tòa: Bái đường, Thiêu hương và Chính cung nhưng qui mô nhỏ hơn đền vua Ðinh. Nét đặc biệt của đền vua Lê là nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc gỗ thời Hậu Lê (thế kỷ 17) được lưu giữ gần như nguyên vẹn với những nét chạm khắc tinh xảo. Tại đây, các nhà khoa học đã tìm thấy di tích nền cung điện cũ cùng một số đồ gốm sứ cổ.  

Về thăm khu di tích lịch sử văn hóa cố đô Hoa Lư là dịp để du khách chiêm ngưỡng các công trình kiến trúc độc đáo, ghi dấu thời kỳ mở nước huy hoàng, độc lập, tự chủ của đất nước Đại Cồ Việt từ nghìn năm về trước.

Rời khu di tích lịch sử văn hóa cố đô Hoa Lư 4km về phía nam, du khách sẽ đếnkhu danh thắng Tràng An có diện tích 6.172ha thuộc địa phận các xã Trường Yên, Ninh Xuân, Ninh Hải, Ninh Hòa (huyện Hoa Lư); Gia Sinh (huyện Gia Viễn) và xã Ninh Nhất, phường Tân Thành, phường Ninh Khánh (TP. Ninh Bình) để thưởng ngoạn bức tranh thiên nhiên mê đắm lòng người và có những phút giây thanh tịnh, thư giãn với không gian văn hóa tâm linh đặc sắc.

Khu danh thắng Tràng An

Được ví như một “Hạ Long trên cạn”, Tràng An hấp dẫn du khách bởi hệ thống núi đá vôi và hang động tự nhiên đa dạng. Nhiều dãy núi đá vôi vách dựng đứng ôm trọn cả thung lũng, dưới chân các dãy núi có rất nhiều hàm ếch, cửa hang là dấu tích sự xâm thực của nước biển. Đến Tràng An, du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng bởi hệ thống gần 50 động xuyên thủy nối liền 31 thung ngập nước như một trận đồ bát quái vừa kỳ ảo vừa biến hóa khôn lường. Điều làm nên nét quyến rũ trong các hang là hệ thống nhũ đá tự nhiên cùng dòng nước mát lạnh, men theo những lối mòn hằn sâu trên vách hang, tạo thành những dòng chảy uốn lượn.

Khu danh thắng Tràng An còn là nơi có hệ sinh thái động thực vật đa dạng được ví như một “bảo tàng địa chất ngoài trời” với khoảng hơn 310 loại thực vật bậc cao, nhiều loại rêu tảo và nấm; 30 loài thú, hơn 50 loài chim, hàng chục loài bò sát, trong đó có một số loài thú quý hiếm như: sơn dương, chim phượng hoàng…

Đến đây, du khách còn có dịp tham quan các di tích văn hóa lịch sử đặc sắc như: đền Trình (phủ Đột) thờ hai vị tướng nhà Đinh; đền Trần được xây bằng đá xanh nguyên khối, trạm trổ hoa văn tinh xảo, thờ trung vương tướng Trần Quý Minh – viên tướng trấn ải Sơn Nam thời Hùng Vương thứ 18; Phủ Khống – nơi thờ 7 vị quan trung thần triều Đinh, gắn với truyền thuyết khi Vua Đinh Tiên Hoàng băng hà…

Nằm trong khu danh thắng Tràng An, chùa Bái Đính (thôn Sinh Dược, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn) là điểm du lịch tâm linh hấp dẫn không chỉ quy tụ nhiều tăng ni phật tử khắp nơi mà còn thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế đến hành hương, vãn cảnh.

Chùa Bái Đính

Chùa Bái Đính là một trong những ngôi chùa lớn nhất Việt Nam, tọa lạc trên khuôn viên rộng 700ha với hơn 20 hạng mục công trình kiến trúc, bao gồm khu chùa cổ và khu chùa mới. Khu chùa cổ nằm ở lưng chừng núi Đính, lấy động núi làm chùa thờ Phật. Khu chùa mới nằm ở phía tây bắc núi Đính, có kiến trúc hoành tráng, đồ sộ, mang đậm bản sắc Á Đông, bao gồm các hạng mục kiến trúc xây dựng trên địa hình từ thấp lên cao theo đường chính đạo: cổng Tam quan, hành lang La Hán, tháp chuông, điện thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, điện Pháp Chủ và trên cùng là điện Tam Thế.

Chùa Bái Đính lưu giữ nhiều kỷ lục Việt Nam như: bộ tượng Tam Thế bằng đồng lớn nhất (gồm 3 tượng, mỗi tượng cao 7,2m, nặng 50 tấn); bộ tượng An Nan – Ca Diếp bằng đồng lớn nhất (mỗi tượng cao 9m, nặng 30 tấn); tượng Phật Thích Ca bằng đồng dát vàng cao và nặng nhất (cao 9,5m, nặng 100 tấn); tượng ông Khuyến Thiện và Trừng Ác bằng đồng nặng nhất (mỗi tượng nặng 12 tấn); tượng Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn bằng đồng lớn nhất (cao 9,57m cả bệ, nặng 80 tấn); đại hồng chung lớn nhất (nặng 36 tấn); giếng Ngọc lớn nhất (đường kính 30m, sâu 10m); nhiều cây bồ đề nhất (100 cây được trồng dịp Đại lễ Vesak 2008). Ngoài ra, chùa Bái Đính còn sở hữu ngôi Bảo tháp cao nhất Đông Nam Á (13 tầng); tượng Di Lặc bằng đồng lớn nhất Đông Nam Á (cao 10m, nặng 80 tấn) và hành lang La Hán dài nhất châu Á (500 tượng, mỗi tượng cao 2-2,5m, nặng 2-2,5 tấn, toàn bộ hành lang có chiều dài 1.052m).

Khu danh thắng Tam Cốc – Bích Động

Đến quần thể danh thắng Tràng An, du khách đừng bỏ lỡ cơ hội khám phá khu danh thắng Tam Cốc – Bích Động, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư với tổng diện tích 350,3ha. Tam Cốc nghĩa là ba hang, gồm: hang Cả, hang Hai và hang Ba nằm dọc theo dòng sông Ngô Đồng. Hang Cả xuyên qua một quả núi lớn, dài 127m, cửa hang rộng trên 20m; hang Hai cách hang Cả gần 1km, dài 70m; hang Ba gần hang Hai, dài 45m. Đi thuyền thăm ba hang, du khách sẽ có cảm giác mát lạnh và được ngắm nhìn thạch nhũ từ trần hang rủ xuống lô nhô óng ánh như những khối châu ngọc kỳ ảo.  

Từ Tam Cốc, du khách tiếp tục đi thăm Bích Động ở thôn Đam Khê. Năm 1773, cụ Nguyễn Nghiễm (thân sinh của đại thi hào Nguyễn Du) đến thăm động, nhìn toàn cảnh núi, động, sông nước, đồng ruộng, bầu trời ở đây đều phủ một màu xanh ngắt nên cụ đã đặt cho động một cái tên rất đẹp và mộng mơ là Bích Ðộng (có nghĩa là Ðộng Xanh). Bích Ðộng được mệnh danh là “Nam Thiên đệ nhị động” (động đẹp thứ nhì ở trời Nam). Ðến đây, du khách sẽ có dịp thăm chùa Bích Động nằm trên sườn núi, ẩn hiện giữa những cây đại thụ xanh biếc, gồm 3 tòa Hạ – Trung – Thượng.

Đến khu danh thắng Tam Cốc – Bích Động, du khách còn có cơ hội thăm nhiều di tích văn hóa lịch sử độc đáo khác như: đền Thái Vi, Cố Viên Lầu, hang Múa, động Tiên, thung Nắng, thung Chim…

Ngồi thuyền vãn cảnh, hòa mình với thiên nhiên sơn thủy hữu tình luôn đem lại những ấn tượng sâu sắc cho du khách. Với rất nhiều điểm tham quan hấp dẫn, hành trình khám phá quần thể danh thắng Tràng An chắc hẳn sẽ là một trải nghiệm vô cùng tuyệt vời đang chờ đón du khách.

Phạm Phương

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Kỳ thú ghềnh đá Bàn Than-Biển Rạng (Quảng Nam)

Huyện Núi Thành (tỉnh Quảng Nam) có hai địa danh mà bất cứ du khách nào đến đây đều rất thích là biển Rạng (xã Tam Quang) và ghềnh đá Bàn Than (xã Tam Hải).
 

Hai địa danh này cách nhau chưa đầy 6km và đều nằm ở phía đông thị trấn Núi Thành khoảng 10km.

Không giống những nơi khác, biển Rạng không đông đúc, không ồn ào, nó bình lặng, thơ mộng, huyền ảo như một nàng công chúa vẫn còn đang ngái ngủ, đưa nhẹ cánh tay vén tấm rèm trắng đón những tia nắng mặt trời long lanh đầu tiên trong ngày. Yếu ớt, nhẹ nhàng nhưng lại lung linh đến mê hồn như chính cái tên của nó.

Biển Rạng có nghĩa là một khung cảnh đẹp đẽ nhất, tuyệt vời nhất, rạng rỡ nhất trước những tia nắng bình minh đầu tiên rọi xuống thế gian. Dường như nơi đây là một món quà thiên nhiên vô giá được đặt tại đó để làm sinh sôi, nảy nở cho những mối tình cảm đẹp đẽ của con người.

Cái tên Bàn Than, theo như lời các cụ trong làng nói thì Bàn ở đây có nghĩa là mặt bàn, bằng phẳng, còn Than để chỉ màu đen. Trên vùng biển này có rất nhiều những tảng đá màu đen có mặt bằng phẳng, trong ánh nắng mặt trời nó lại lấp lánh đen tuyền như than chứ không bị xám xịt, nên người dân trong làng gọi là biển Bàn Than.

Nơi mũi đá Bàn Than có rất nhiều khối đá khổng lồ có hình thù kì dị, mà trông xa như những con cá mặt quỹ, hình cá voi, thủy quái… dạt vào bờ. Bởi vậy, Bàn Than được mệnh danh là bức tranh thiên tạo, trên nền xanh của nước biển nổi lên những vách đá sắc đen như than với những vân, đường nét kỳ lạ, bãi đá chông chênh phía dưới bọc lớp rêu thẫm màu.

 

Mỏm đá ông Đụn – bà Che, hai mỏm đá nổi tiếng nhất ở ghềnh Bàn Than. Nơi đây gắn với câu chuyện dân gian cảm động về những người ngư dân vùng Tam Hải (Việt Cường/Báo ảnh Việt Nam)

 

Những lớp đá được nước biển bào mòn tự nhiên như các lớp sóng xô ra vùng biển Rạng.

 

Ghềnh đá Bàn Than thuộc địa phận làng chài Tam Hải, cách thành phố Tam Kỳ khoảng 40km

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Ngắm đèn lồng lung linh phố cổ Hội An

Cứ khi chiều buông, những ánh nắng cuối ngày dần tắt là phố cổ Hội An bắt đầu lung linh trong ánh đèn lồng…

Những chiếc đèn lồng rực rỡ lung linh ở phố cổ Hội An (thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam) là hình ảnh gắn liền với đô thị cổ – di sản văn hóa thế giới và trở nên quen thuộc với du khách tới thăm. Đèn lồng là một phần tạo nên hình thức, không gian phố cổ và tạo nên hồn phố cổ Hội An.

 

 

Hầu như nhà nào ở khu phố cổ Hội An cũng treo đèn lồng, đặc biệt là những cửa hàng, nhà hàng. Đèn lồng được treo ở ngoài để trang trí, để thu hút khách và được dùng cả ở trong nhà như một phương tiện chiếu sáng cùng các loại đèn khác, đôi khi là chủ đạo.

 

Đèn lồng ở Hội An phong phú và đa dạng, nhiều mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, hoa văn… Tùy từng kiến trúc hay tính chất trang trí mà treo loại đèn phù hợp. Đèn lồng Hội An không chỉ là phương tiện trang trí hay chiếu sáng thuần túy; mà là một phần của cuộc sống, là linh hồn phố cổ. Đèn lồng luôn xuất hiện trong các nghi lễ, lễ hội và cuộc thi đèn lồng là một phần hoạt động trong các dịp lễ hội ở Hội An.

 

Đi từ khu phố cổ phía bắc, dọc đường Bạch Đằng theo bờ sông Hoài, qua cầu An Hội tới phố Nguyễn Phúc Chu (thuộc đảo An Hội) ở bờ phía Nam, du khách sẽ thấy một góc bên sông rực sáng. Đây là nơi tập trung những cửa hàng bán đèn lồng. Đèn lồng được bán nhiều ở các cửa hàng bên trong khu phố cổ, nhưng du khách vẫn thích tới đây mua vì ấn tượng của không gian và dễ lựa chọn.

 

Đèn lồng được làm từ nhiều loại vật liệu như tre, gỗ, kim loại… làm khung, các loại vải, lụa, giấy… bọc ngoài. Về cấu tạo và hình thức vẫn là những chiếc đèn lồng truyền thống nhưng đều được chiếu sáng bằng bóng điện (thay vì nến) cho tiện sử dụng và an toàn phòng hỏa.

 

Du khách tới Hội An sẽ ấn tượng và giữ mãi hình ảnh đẹp về phố cổ và dòng sông Hoài lung linh thơ mộng, không quên mua một vài chiếc đèn lồng làm kỷ niệm./.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Mùa hoa Tam giác mạch “mời gọi” du khách nơi cao nguyên đá

Mọi năm vào đầu tháng 9 là hoa tam giác mạch đã nở rộ, năm nay gần giữa tháng 9 rồi mà hoa tam giác mạch mới thấy lác đác nở vài nơi…

Sớm nhất có lẽ là Phố Là, bà con trồng hoa xuyên qua hè, hoa nở mùa hè tuy không đượm màu như mùa đông nhưng vẫn đẹp lung linh. Hoa tam giác mạch ở Phố Là đã nở trong tháng 8, không có lý do gì hoa tam giác mạch nơi khác lại nở muộn đến vậy.

 

 

Thông thường, cứ khi gió thu về là hoa tam giác mạch lại vào mùa, một vẻ đẹp như hẹn trước nhưng sao cú làm người ta phải trông ngóng, một vẻ đẹp của lạnh giá, mong manh, yếu ớt, thẹn thùng mà đắm say.

 

Mọi năm vào đầu tháng 9 là hoa tam giác mạch đã nở rộ, năm nay gần giữa tháng 9 rồi mà hoa tam giác mạch mới thấy lác đác nở vài nơi. Nhưng năm nay hoa tam giác mạch nở muộn, khiến người yêu hoa, yêu cao nguyên đá khắc khoải mong chờ.

 

Thông thường, cứ khi gió thu về là hoa tam giác mạch lại vào mùa, một vẻ đẹp như hẹn trước nhưng sao cú làm người ta phải trông ngóng, một vẻ đẹp của lạnh giá, mong manh, yếu ớt, thẹn thùng mà đắm say.

 

Mọi năm vào đầu tháng 9 là hoa tam giác mạch đã nở rộ, năm nay gần giữa tháng 9 rồi mà hoa tam giác mạch mới thấy lác đác nở vài nơi. Nhưng năm nay hoa tam giác mạch nở muộn, khiến người yêu hoa, yêu cao nguyên đá khắc khoải mong chờ.

 

Những năm vào thời đỉêm này, không chỉ ở một nơi duy nhất mà đồng loạt khắp các thửa ruộng bậc thang, những kẽ đá, sườn núi ở Hoàng Su Phì, Xín Mần, Sủng Là, Phó Bảng…. dập dìu những chùm hoa tam giác mạch nở và bay bay theo gió.

 

Đi dọc theo những con đường vào các bản ở Hà Giang, đâu đâu cũng rực lên một màu hồng đẹp lung linh, con người sẽ khó có thể dứt ra được khi đã chìm đắm vào vẻ đẹp của chúng.

 

Khi mới nở, hoa tam giác mạch có mầu trắng, sau đó hồng lên rồi xậm lại, hoa đẹp nhất là thời kỳ bắt đầu kết hạt, trên một thảm hoa lúc này có đủ các sắc mầu, những đám nương rộng ta như có cảm giác choáng ngợp trong mầu sắc, lâng lâng trong xúc cảm. Mỗi mùa hoa về lại mang đến cho du khách những cảm nhân mới mẻ, mang đến cho vùng đất này một không gian một màu sắc khác nhau.

 

Là loài hoa đặc trưng của vùng cao nguyên đá Hà Giang, tam giác mạch không chỉ có giá trị du lịch lớn mà còn có công dụng như một loại thực phẩm, loại thuốc. Là cây họ nhà lúa, hoa tam giác mạch có nhiều công dụng khác nhau: Hạt tam giác mạch được dùng làm bánh, nấu rượu, ngày nay chủ yếu tam giác mạch được dùng để chăn nuôi gia súc, ngoài ra còn dùng làm vị thuốc trong đông y. Nó dường như là là vật cứu đói cho cả làng khi mùa cũ đã qua, vụ mới chưa tới vì chúng có tuổi đời ngắn, trồng sẽ nhanh được thu hoạch ngay.

 

Khách du lịch đến với hoa. Nhiều người lần đầu tiên được biết thế nào là hoa tam giác mạch mặc dù hôm trước mình đã tả cho họ nghe khá kỹ về loài hoa này nhưng khi đứng trước thảm hoa họ vẫn ngỡ ngàng trong phấn khích. Họ say mê với hoa, làm duyên cùng hoa. Có người còn lưỡng lự mãi không muốn về.

 

Những địa điểm nổi tiếng có hoa tam giác mạch đẹp du khách có thể tìm tới là Hoàng Su Phì, Xín Mần, Phó Bảng, Phố Cáo, Sủng Là, Đồng Văn, Lũng Cú, Ma Lé… Dọc quốc lộ 4C, hay còn được gọi là cung đường Hạnh Phúc, du khách sẽ được chiêm ngưỡng bạt ngàn là hoa tam giác mạch dưới các thung lũng, chiền đồi hay ngay bên vệ đường.

 

Nếu đi từ Hà Nội, bạn có thể ra bến xe Mỹ Đình bắt xe khách đi tới thành phố Hà Giang. Khi đã tới thành phố, bạn sẽ bắt tiếp xe khách hoặc đi xe máy tới các địa điểm cần tìm. Nếu đi bằng xe máy, du khách sẽ được ngắm trọn vẹn cả một bức tranh đầy màu sắc hay những màn sương mờ ảo sáng sớm phủ lên những cánh đồng hoa tuyệt mỹ dọc đường đi.

 

Ngoài ra, hiện nay cũng có rất nhiều công ty du lịch đang chào bán tour ngắm hoa tam giác mạch tại vùng cao nguyên đá này.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Quảng Ngãi – điểm đến hấp dẫn với nhiều bãi biển sạch đẹp

Quảng Ngãi được nhắc đến với các bãi biển sạch, đẹp và có giá trị để phát triển thành khu du lịch nghỉ dưỡng hấp dẫn như các bãi biển Khe Hai, Nho Na, An Cường, Thanh Thủy (huyện Bình Sơn), Mỹ Khê (thành phố Quảng Ngãi), Minh Tân (Mộ Đức), Sa Huỳnh (Đức Phổ).
 

Ngoài ra, tại huyện đảo Lý Sơn có một số bãi biển rất sạch đẹp, du khách đã đến một lần khó quên là các bãi biển phía Đông đảo (đảo Lớn) và bãi biển quanh đảo Bé (xã An Bình). Những bãi biển trên đã và đang trở thành thương hiệu du lịch biển đảo của Quảng Ngãi.

 

Một góc Lý Sơn nhìn từ đỉnh núi Thới Lới. (Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm/Vietnam+)


Bãi biển Mỹ Khê trước đây thuộc thôn Cổ Lũy, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, từ tháng 4/2014 được nhập vào thành phố Quảng Ngãi, cách trung tâm thành phố Quảng Ngãi 14km về phía Đông-Bắc. Bãi biển Mỹ Khê nằm bên tuyến quốc lộ 24B, cách cảng Dung Quất 16km và gần sát cảng Sa Kỳ, cách khu chứng tích Sơn Mỹ 3km. Hằng năm, du khách đến bãi biển Mỹ Khê ngày càng đông.

Bãi biển Mỹ Khê là bãi tắm lý tưởng với không gian mênh mông, bãi cát mịn, thoai thoải, được che chắn kín đáo, bãi tắm biển chạy dài 7km, phía sau là rừng dương xanh thẳm, bên cạnh là con sông Kinh – rừng dừa nước huyền thoại, trong những năm chiến tranh là căn cứ địa cách mạng của cán bộ, du kích của huyện và xã Tịnh Khê.

Các du khách đến bãi biển Mỹ Khê, ngoài việc nghỉ ngơi, tắm biển và hít thở bầu không khí trong lành, du khách còn có dịp đến tham quan Khu chứng tích Sơn Mỹ – nơi trưng bày những hình ảnh, hiện vật về vụ giặc Mỹ thảm sát 504 người dân vô tội gây chấn động cả thế giới, thăm Đền thờ Anh hùng dân tộc Trương Định tại xã Tịnh Khê, thăm mộ Cụ Huỳnh Thúc Kháng, nguyên Quyền Chủ tịch nước tọa lạc trên đỉnh núi Thiên Ấn.

Còn đối với bãi biển Sa Huỳnh, Sa Huỳnh nằm ở cực Nam tỉnh Quảng Ngãi, thuộc xã Phổ Thạnh, Phổ Châu, huyện Đức Phổ, cách thành phố Quảng Ngãi 60 km về phía Nam. Địa danh Sa Huỳnh xã xưa người dân nơi đây gọi là Sa Hoàng, có nghĩa là cát vàng. Sở dĩ, phải viết thành Sa Huỳnh, vì chữ “Hoàng” trùng tên Chúa Nguyễn Hoàng thời Nguyễn.

Sa Huỳnh là bãi biển sạch đẹp vào bậc nhất tỉnh, nơi đây còn nổi tiếng là vựa muối quan trọng không những của tỉnh Quảng Ngãi mà ở miền Trung. Lâu nay, Sa Huỳnh được biết đến là di chỉ khảo cổ học với “Văn hóa Sa Huỳnh,” bãi biển này nằm sát quốc lộ 1A.

Bãi biển Sa Huỳnh nổi tiếng có màu cát vàng thật đẹp, bãi biển có hình cong cong lưỡi liềm, kéo dài gần 6 km, không có bãi đá ngầm, đây là bãi biển lý tưởng cho những chuyến du lịch biển với hoạt động như bơi lội, vui chơi trên bãi biển.

Phía Nam bãi biển Sa Huỳnh còn có bải biển và ghềnh đá Châu Me (Phổ Châu), phía Đông-Bắc có Đảo Khỉ… thu hút nhiều du khách vào các ngày nghỉ cuối tuần nhất là vào các ngày lễ, tết.

Đến với Sa Huỳnh hôm nay, du khách còn có thể dành thời gian đi tham quan khu Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh. Đến với Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh ngay tại Sa Huỳnh, du khách sẽ được giới thiệu tóm lược về một chặng đường phát triển rực rỡ với nhiều thành tựu trong nhiều lĩnh vực của nền văn hóa Sa Huỳnh- một trong ba cái nôi cổ xưa về văn minh trên lãnh thổ Việt Nam.

Văn hóa Sa Huỳnh cùng với Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Óc Eo (Đồng Nai) đã tạo thành tam giác văn hóa của Việt Nam. Vì vậy đến đây bạn nên tìm hiểu văn hóa bản địa Sa Huỳnh, một nét không thể thiếu được trong chuyến du ngoạn.

Biển Khe Hai hay còn gọi là biển Thiên Đàng thuộc xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn, cách thành phố Quảng Ngãi 35 km về phía Bắc, tiếp giáp với biển Rạng (Quảng Nam). Bãi biển Khe Hai có bãi cát trắng mịn, rặng phi lao ngút ngàn bên bờ biển xanh. Phía tây có dãy bàn Than chạy dài từ bờ rồi lấn ra biển tạo thành một vòng cung. Phía Đông sát bờ biển có ốc đảo Hòn Ông, Hòn Trà.
 

Ngoài những bãi biển tuyệt đẹp ven bờ, du khách có thể đi tàu cao tốc từ cảng Sa Kỳ đến thăm đảo Lý Sơn – một huyện đảo đang “hot” nhất hiện nay. Tại đây, ngoài việc đi tắm biển tại các bãi biển phía Đông đảo (xã An Hải) hoặc đi tàu ra đảo Bé (xã An Bình) cách đảo lớn khoảng 3 hải lý, nơi đây có nhiều thắng cảnh đẹp nguyên sơ, bãi biển trong xanh khó có nơi nào sánh được, nhất là mùa hè du khách xuống tắm nhìn những đàn cá bơi trong làn nước xanh, những rặng san hô tuyệt đẹp.

Du khách còn đi tham quan các danh lam thắng cảnh như chùa Hang 300 tuổi, chùa Đục nằm dưới chân miệng núi lửa, tượng Phật bà cao 27m nhìn ra đảo Bé, và cả những kiến trúc cổ độc đáo ở đền thờ Lăng Chánh, đình làng An Hải, đình làng An Vĩnh- nới hàng trăm năm nay người dân Lý Sơn hằng năm vẫn tổ chức Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa; đến “mục sở thị” cột cờ Tổ quốc trên đỉnh núi Thới Lới sẽ nhìn tổng quát cả đảo Lý Sơn với các làng quê và các cánh đồng trồng hành, tỏi của “Vương quốc tỏi”; thăm hàng chục ngôi nhà cổ; thăm tượng đài và nhà trưng bày Hải đội Hoàng Sa Bắc hải ngay tại Trung tâm huyện…

Điều đặc biệt, đối với du khách trong những năm gần đây đến tham quan, nghỉ mát, tắm biển tại các bãi biển sạch đẹp ở Quảng Ngãi như đã nêu trên, hầu như các đoàn còn dành thời gian chiêm ngưỡng Nhà máy lọc dầu Dung Quất – nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam đang hoạt động sát bờ biển Thanh Thủy.

Du khách đứng trên đồi cây Sấu nhìn về phía Nam thấy bao quát quần thể Nhà máy lọc dầu, Nhà máy Polypropylene, thấy cả đô thị Vạn Tường và cả vùng biển phía Đông đến tận đảo Lý Sơn…/.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

TIN MỚI NHẤT