Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Du ngoạn Bãi Cát Vàng

Khi nói đến hai chữ Hoàng Sa và Trường Sa thì ai cũng hiểu đó là những quần đảo ở Biển Đông và là lãnh thổ Việt Nam từ nhiều thế kỷ nay. Nhưng nói đến địa danh Bãi Cát Vàng hẳn không khỏi có người còn bỡ ngỡ, nhưng hãy đến rồi khắc biết…

Con thuyền của Công ty Hoàng Long Yến đưa đoàn tham quan chúng tôi rời bến cảng Đà Nẵng ra khơi hướng về đảo Ngọc, cửa ngõ ra vào biển đảo Hoàng Sa Việt Nam. Những con sóng vỗ về, bềnh bồng cho chúng tôi cảm giác lâng lâng, choáng ngợp với cảnh hùng vỹ của núi rừng bán đảo Sơn Trà cùng với vịnh Tiên Sa mênh mông biển trời. Đi và đến rồi mới biết biển đảo quê hương Đà Nẵng – Việt Nam là đẹp vô cùng.

 

 

Lặn ngắm san hô Đảo Ngọc

 

Chiếc thuyền êm ả xuôi dòng sông Hàn qua cầu Thuận Phước, vượt qua bến cảng nước sâu Tiên Sa với hàng chục chuyến tàu muôn phương tấp nập cập cảng với hàng trăm kiện hàng hóa bốc xếp, vận chuyển… đã nói lên sức sống của bến cảng Đà Nẵng lớn như thế nào. Sau gần hai giờ khởi hành, thuyền chúng tôi vượt sóng dừng chân lặn ngắm san hô tại Đảo Ngọc; tại đây chúng tôi lại được dịp vẫy chào những ngư dân vạm vỡ trên các con thuyền, như những chiến sĩ can trường lần lượt ra khơi bám biển đảo Hoàng Sa, đánh bắt hải sản. Thuyền dừng hẳn, neo đậu để chúng tôi trầm mình xuống biển, được trang bị nào mắt kính lặn, áo phao sẵn sàng thế là lao mình, lặn xuống đáy biển nước trong xanh vắt ngắm nhìn những rặng san hô đủ sắc màu như lượn múa vẫy chào.  Còn những người ngồi lại trên thuyền thì rong ruổi thả cần câu cá, đảo nơi đây hoang vắng nên có rất nhiều loại cá nhất là cá mú, cá đối… tay ngang như chúng tôi mà cũng câu được chục cá mú, cá đối để rồi trưa hôm đó nấu bát canh chua ngọt lừ… Thỏa thích với Đảo Ngọc, thuyền chúng tôi vẫy chào tạm biệt cửa ngõ vào ra của Hoàng Sa thân yêu trở về với Bãi Cát Vàng.

 

Bức tranh thủy mạc Bãi Cát Vàng

 

Khi nói đến hai chữ Hoàng Sa và Trường Sa thì ai cũng hiểu đó là những quần đảo ở Biển Đông và là lãnh thổ Việt Nam từ nhiều thế kỷ nay. Nhưng nói đến địa danh Bãi Cát Vàng hẳn không khỏi có người còn bỡ ngỡ. Ngày nay, Bãi Cát Vàng tuy chỉ còn là một địa danh trong lịch sử, nhưng nó có giá trị trong việc chứng minh chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo ở Biển Đông, từ thế kỷ XVII đã được nhà nước phong kiến Việt Nam khai thác và đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của lãnh thổ Việt Nam.

 

Tàu vừa cập bến, cả đoàn chúng tôi đều hò reo. Đẹp quá Bãi Cát Vàng ơi! Cả vùng cát vàng (hạt cát tròn to) ẩn mình dưới ánh nắng mặt trời tạo nên một vừng sáng long lanh bên cạnh là rừng núi, dưới là biển nước trong xanh, một bức tranh thủy mạc đẹp tuyệt trần. Khu du lịch Bãi Cát Vàng thuộc bán đảo Sơn Trà Đà Nẵng là một đặc ân mà thiên nhiên đã hào phóng ban tặng cho Đà Nẵng. Với diện tích đưa vào khai thác hơn 10.000m2, ở đây còn hoang sơ nên bãi biển sạch, nước trong xanh. Hệ thống thực vật phong phú.  Đến với Bãi Cát Vàng, chúng tôi có những trải nghiệm mới lạ, được đắm mình trong dòng nước mát lạnh của hệ thống suối tự nhiên trên bãi, hay thỏa sức vui đùa với làn nước biển trong xanh, du khách dễ dàng nhìn rõ tận đáy, xa xa là các bãi đá nhấp nhô tung bọt trắng xóa khi nhưng con sóng biển đổ xô bờ. Anh em chúng tôi thỏa thích dùng kính lặn, ống thở để ngắm các rặng san hô kỳ vỹ và tự tay bắt các loại ốc biển, bào ngư, ngọc nữ, nhum… Bên cạnh đó, các trò chơi trên biển cũng hết sức phong phú: kéo phao chuối (khách sẽ được ngồi trên phao chuối kéo bằng ca nô cao tốc), đua thuyền thúng, tập quăng lưới bắt cá với ngư dân, bắn cung, bắt vịt, đi cầu khỉ gõ trống…

 

Đoàn cũng có những “kình ngư” Phước Quế (báo Đà Nẵng), Lê Văn Hùng – PV trẻ, Huỳnh Thanh Tân (GV Cao đẳng KTKH)… đã bơi ra xa (cách bờ 150 m) cùng với các lão ngư cất rớ bắt cá mang vào… Chiều về lại may mắn có cơ hội được chiêm ngưỡng voọc chà vá chân nâu (loài quý hiếm chỉ có ở bán đảo Sơn Trà) hay những đàn khỉ, gà rừng… xuất hiện tại khu vực này. Đêm về, trong ánh lửa trại bập bùng anh em chúng tôi hát vang những bản tình ca về biển đảo quê hương… Và hơn thế nữa, khi ở Bãi Cát Vàng  được ngắm nhìn hoàng hôn buông xuống hay ngắm bình minh ló dạng trên  biển cả mới thấy hết cảnh đẹp của thiên nhiên hòa quyện giữa núi rừng và biển khơi. Nếu không nhắc đến ẩm thực nơi đây là điều thiếu sót lớn. Có thể nói chưa nơi nào có được cá mú, cá chình  mực ống, nghêu, sò… tươi rói như ở Bãi Cát Vàng.

 

Qua 2 ngày một đêm, chúng tôi cùng với bạn trẻ một số đoàn khác sống với Bãi Cát Vàng đã trải nghiệm và khám phá nhiều điều kỳ thú của cảnh quan thiên nhiên cùng với điều kiện ăn ở, vệ sinh môi trường, an toàn, thân thiện. Trước giờ chia tay về lại đất liền, anh Trần Thanh Vệ,  nguyên GV ở thành phố Huế đã tâm sự: “Mình rất bất ngờ với Đảo Ngọc và Bãi Cát Vàng đẹp vô cùng, nếu không đi tham quan thì tiếc lắm, biết bao giờ mình mới có dịp trở lại…”.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Tháng 9 về Mù Cang Chải

Tháng 9, những người mê du lịch tấp nập lên đường đến với Mù Cang Chải – nơi có mùa lúa chín vàng được cho là đẹp nhất vùng Tây Bắc Việt Nam. Họ đến đây để được chụp những tấm ảnh thời sự nhất về mùa lúa chín trong năm, cũng là để thưởng thức những món ngon mà ở miền xuôi khó kiếm…

“Đổ đèo” Khau Phạ

 

Để đến được với Mù Cang Chải, khách du lịch phải trải qua một đoạn đường dài “đổ đèo” Khau Phạ. Đây là một trong những cung đường đèo quanh co và dốc đứng thuộc hàng bậc nhất Việt Nam vượt qua đỉnh núi Khau Phạ – ngọn núi cao nhất Mù Cang Chải. Đèo Khau Phạ có điểm khởi đầu là đoạn cắt quốc lộ 32 với quốc lộ 279 liền mạch liên tiếp với đèo Chấu phía trước và đèo Vách Kim phía sau.

 

 

Từ TP.Yên Bái, ngược theo quốc lộ 32 chừng 5 giờ đồng hồ, qua xã Tú Lệ, đèo Khau Phạ hiện ra giữa một vùng cao nguyên được bao quanh bởi những dãy núi điệp trùng. Những cung đường đèo quanh co giữa những cánh rừng già còn mang đậm nét nguyên sơ và những triền ruộng bậc thang của các dân tộc Mông, Thái.
 

Cũng như điểm đến Mù Cang Chải, đèo Khau Phạ cũng đẹp nhất vào mùa lúa tầm tháng 9, tháng 10, khi lúa trên chân ruộng bậc thang chín vàng. Đây cũng là thời điểm mà nhiều khách du lịch mạo hiểm chinh phục đèo để thưởng ngoạn cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Theo người dân nơi đây thì những cánh rừng già tại Khau Phạ còn lưu giữ được khá nhiều loại động thực vật quý hiếm như thông dầu, chò chỉ và các loại chim, muông thú quý hiếm khác. Một bên đèo phóng tầm mắt xuống phía xa là mênh mông ruộng bậc thang, là thung lũng huyền ảo hòa quyện với sương và mây mù. Trong suốt chiều dài của đèo có đến vài chục đoạn cua gấp khúc tay áo. Vào những ngày mây mù, đèo đặc biệt nguy hiểm vì con đèo không có rào chắn kiên cố. 

 

Đến hẹn lại về…

 

Mù Cang Chải có 2 mùa khá đẹp mà nhiều bạn trẻ rủ nhau tìm đến. Đó là khoảng tháng 5 – tháng 6, khi những cơn mưa mùa hè bắt đầu trút nước xuống những ngọn núi, dẫn vào các ruộng bậc thang. Nước tràn vào thửa ruộng làm cho đất khô cằn trở nên mềm hơn và nở ra giúp bà con có thể cấy lúa được dễ dàng. Chính vì thế ở các ruộng bậc thang miền núi phía Bắc, lúa chỉ có thể trồng được một vụ. Những bậc thang loang loáng nước trong nắng chiều tạo nên một vẻ đẹp khiến cho bao du khách phải ngỡ ngàng. Sau nữa là khoảng giữa tháng 9 đến hết tháng 10, lúc này toàn bộ Mù Cang Chải sẽ vàng rực một màu lúa, lôi cuốn sự tò mò và quyết tâm đến tận hưởng của nhiểu người. Có những người năm nào cùng tìm về Mù Cang Chải để ngắm lúa và tận hưởng không khí náo nức ở nơi đây.


Khách du lịch đến thăm lúa chín Mù Cang Chải thường gọi điện trước cho một vài hộ dân quen thuộc từ những lần đi trước để biết khi nào thu hoạch lúa. Để đến được đây, họ có thể đi bằng nhiều phương tiện, và chỉ trong khoảng thời gian 2 – 3 ngày là có thể ngao du hết các vùng lúa đẹp. Mặc dù đường sá khó khăn nhưng rất nhiều đoàn đã tổ chức đi tới đây bằng xe máy để thuận tiện cho việc di chuyển đến những điểm đẹp nhất của Mù Cang Chải. Các khu vực có ruộng lúa đẹp được “mách nhỏ” nhau là đoạn đường qua Tú Lệ, đặc biệt là khu vực xã La Pán Tẩn. Tại đây có rất nhiều ruộng lúa bậc thang đẹp với độ cao vừa phải, là điểm nhấn chính của ruộng bậc thang xứ này. Ở đây du khách có thể vượt qua những dãy núi cao để thỏa sức ngắm nhìn bạt ngàn lúa mênh mông trùng điệp. Đi bằng xe máy, khách tham quan có thể dừng lại bất cứ điểm nào để thỏa sức chụp hình và ghi lại khoảnh khắc đẹp nhất của mùa lúa chín. 

 

Xôi gà Tú Lệ được coi là đặc sản rất nổi tiếng của Mù Cang Chải. Ngoài ra, tại Mù Cang Chải còn có nhiều đặc sản thơm ngon khác nữa như món châu chấu trong mùa gặt độ tháng 5 và tháng 9. Cả món cua suối rang muối cũng khá ngon và ấn tượng…
 

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Hấp dẫn du lịch trải nghiệm mùa nước nổi ở Vườn Tràm Chim

Giám đốc Trung tâm Du lịch và giáo dục môi trường Vườn Quốc gia Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp Lê Hoàng Long cho biết, từ tháng 9-12, trong 4 tháng mùa nước lũ đổ về, Vườn tổ chức các chương trình tham quan, trải nghiệm mùa nước nổi với bốn hình thức trải nghiệm: làm ngư dân; tham quan, thu hoạch lúa trời; xem vườn chim sinh sản; chắt chà bắt chuột hoặc đi săn chuột đồng.

Vào mùa nước nổi, trên các cánh đồng lúa trời, sen, súng, cỏ năng, rừng tràm, hàng chục nghìn cánh cò trắng điểm xuyết trên nền tràm xanh tươi tạo thành một khung cảnh tuyệt vời. Các lung sen, đầm năng là nơi quy tụ hàng nghìn con trích mồng đỏ về đây thư thả nhổ những cọng năng tươi non, thỉnh thoảng cất tiếng gáy kèm theo những vũ điệu tuyệt đẹp.

 

Đến với Tràm Chim, không những nghe chim hót trên cây, bạn còn được nghe tiếng cá quẫy đuôi dưới nước, mặt nước rực lên màu vàng hoa điên điển, màu tím hoa súng pha lẫn sắc hồng của những cánh sen, màu xanh mướt của rừng tràm… Đây cũng là mùa đẹp nhất trong năm của Khu Ramsa Tràm Chim.

Du khách bị cuốn hút bởi những sân chim rải rác rộng vài ha nằm trên những vạt rừng rộng mênh mông, hàng chục loài chim nước sinh sống, làm tổ quanh năm như trích mồng đỏ, cồng cộc, le le, diệc, vịt trời… và các đàn cò trắng hàng chục nghìn con.

Để giúp du khách trải nghiệm thực tế, Vườn Quốc gia Tràm Chim tổ chức tuor du lịch trong vườn. Đây là khu du lịch sinh thái đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười thu nhỏ, hấp dẫn khách trong nước và nước ngoài đến tham quan. Vườn là nơi bảo tồn đa dạng sinh học vùng Đồng Tháp Mười và cũng là nơi bảo tồn văn hóa lịch sử, nghiên cứu khoa học của nhiều tổ chức thế giới.

Vườn Quốc gia Tràm Chim tổ chức cho du khách đi tham quan quanh Khu A1 bằng phương tiện thủy hoặc bộ. Du khách được lên đài vọng cảnh dừng chân cao 20m, tham quan chim nước, lúa trời, đầm sen, rừng tràm…

Khu du lịch sinh thái ở Vườn Quốc gia Tràm Chim từ lâu đã nổi tiếng là “ốc đảo xanh” với cảnh quan thiên nhiên quyến rũ, đặc trưng cho vùng đất trũng Đồng Tháp Mười.

Là điểm du lịch hấp dẫn có tiếng ở tỉnh Đồng Tháp, nơi đây còn lưu giữ những đặc thù thiên nhiên của vùng Đồng Tháp Mười. Tỉnh đã đầu tư hàng chục tỷ đồng làm hệ thống đường nhựa, cầu, cống cho xe du lịch đi xung quanh bìa vườn Khu A1 – nơi được xem là lá phổi xanh của Đồng Tháp Mười. Rừng tràm có diện tích gần 3.000ha tràm có tuổi thọ từ 10-20 năm, rừng nguyên sinh với những bưng trấp, lung, bàu đầy sen, súng, lau sậy, cà na, gáo…

 

Đến đây, du khách sẽ choáng ngợp trước sân chim với nhiều loài chim muông bay rợp cả một góc trời. Trên những vạt rừng rộng mênh mông, hàng chục loài chim nước sinh sống và làm tổ quanh năm nhưng nhiều hơn hết vẫn là đàn cò trắng hàng chục nghìn con khiến rừng tràm này được xem là vườn cò lớn nhất hiện nay ở vùng Đồng Tháp Mười.

Giám đốc Vườn Quốc gia Tràm Chim Nguyễn Văn Hùng cho biết hiện đang vào mùa thu hoạch lúa trời, hấp dẫn du khách với trải nghiệm tự thu hoạch lúa trời trong mùa nước nổi. Quần xã lúa trời còn gọi là lúa ma (Oryza rufipogon) hiện được lưu giữ và bảo tồn trên diện tích hơn 800ha.

Vườn có 5 chiếc xuồng chuyên phục vụ du khách trải nghiệm thu hoạch lúa trời. Việc bảo tồn và khai thác lúa trời phải đảm bảo môi trường sinh thái, bên cạnh đó tạo điều kiện du khách có trải nghiệm để hiểu biết sinh kế mùa nước nổi của cư dân vùng Đồng Tháp Mười, biết cách thu hoạch lúa trời của cha ông ta thời xưa.

Ngoài việc thu hoạch lúa trời, du khách còn được tận mắt xem 16 loài chim quý hiếm như Sếu đầu đỏ, Già đẫy lớn, Già đẫy Java , Cò quắm đầu đen, Cò thìa, Đại bàng đen, Te vàng, Choi choi lưng đen, Ngang cánh trắng, Điêng điểng, Cò trắng Trung Quốc, Diệc Sumatra, Bồ nông chân xám, Giang sen, Nhạn ốc, Công đất cùng các loài cá nằm trong sách đỏ Việt Nam gồm cá Còm, cá Mang rổ, cá Duồng, cá Hô…

Muốn tận mắt xem sân chim sinh sản thuộc phân khu A2 (diện tích 2-3ha, nằm cách Trung tâm Du lịch của Vườn khoảng 6km), chỉ mất vài phút đăng ký, du khách sẽ trải qua khoảng 3km đường bộ bằng xe máy hoặc ôtô, sau đó những chiếc tắc ráng đưa du khách xuyên rừng, vào vùng đất đặc biệt của chim. Đây là nơi tập trung các loài chim như cồng cộc, điên điển, cò ốc, cò trắng… và nhiều loài chim quý hiếm.

Tại đây, du khách sẽ chuyển sang xuồng nhỏ (2-3 người/chiếc) bơi nhè nhẹ len lỏi vào rừng tràm, những đồng cỏ xanh ngát. Du khách sẽ tận mắt chứng kiến sự sinh sôi nảy nở của các loài chim, trung bình trên mỗi cây tràm có từ 4-6 tổ, mỗi tổ có từ 2-4 con chim non hoặc trứng.

Thật hấp dẫn khi du khách được tự tay đặt từng ống trúm bắt lươn, giăng từng đoạn lưới, cắm từng cần câu bắt cá hay đem theo len, chỉa rồi chia thành tốp đi bắt chuột đồng trên những đóng chà, săn chuột trên cây vào mùa nước nổi… Sau khi tự tay bắt được từng con cá, lươn hay chuột, du khách được hướng dẫn cách nướng trui, nấu canh chua với rau đồng thật tuyệt.
Đến Vườn Quốc gia Tràm Chim, du khách không chỉ đơn thuần đi du lịch mà là một trải nghiệm, thực sự hòa mình vào khu sinh thái với “trường học thực tế” có các lớp học về hệ sinh thái tràm, về cỏ năng, về động vật…

Anh Lê Hoàng Long cho biết thêm, thời gian tới, ngoài công tác nghiên cứu khoa học, Vườn sẽ thả thêm nhiều loại cá bản địa làm thức ăn thu hút các đàn chim từ nơi khác bay về làm tổ, sinh sản, đồng thời thành lập các tổ cứu hộ, kịp thời đưa những chú chim non bị gió thổi rơi về tổ an toàn… nhằm giữ chân các loài chim bay về trú ngụ.

Vừa qua Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã phê duyệt đề án đầu tư cho Vườn Quốc gia Tràm Chim, trong đó đầu tư cho phát triển du lịch sinh thái và dịch vụ môi trường rừng giai đoạn 2013-2020 dự kiến là hơn 14 tỷ đồng./.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Vẻ đẹp Hạ Long

Claudia Tello (quốc tịch Mexico) là một sinh viên ngành sinh học, tuy nhiên, cô lại có niềm yêu thích đặc biệt với du lịch. Trên trang blog cá nhân claudustravels.blogspot.com của mình, cô đã tự nhận mình là một người “nghiện du lịch”, đã từng đi rất nhiều nơi trên thế giới, chia sẻ những bài viết giới thiệu trên nhiều trang web du lịch nổi tiếng.

Bài viết này của cô chúng tôi dịch từ nguyên bản tiếng Anh đăng trên trang web: Hubpages – một trang web chia sẻ kinh nghiệm du lịch với hàng chục triệu lượt người đọc mỗi tháng…

 

 

Vịnh Hạ Long nằm trong khu vực Vịnh Bắc Bộ, thuộc phía Bắc Việt Nam. Đây là một vùng vịnh đẹp hùng vĩ với hơn 3.000 đảo đá đủ hình dạng kích thước mọc lên giữa một vùng nước xanh ngọc bích. Nếu bạn là một người yêu thiên nhiên, nơi đây thực sự là một địa điểm lý tưởng dành cho bạn, một nơi chắc chắn bạn nên đến khi đến thăm Việt Nam.

 

Nhiều núi đá trên Vịnh Hạ Long có những hang động nhỏ bên trong được hình thành dưới tác động của gió và sóng biển kéo dài hàng chục triệu năm.

 

Những hang động này có đủ mọi kích thước, hình dạng khiến cho nhiều người thậm chí không tin rằng nơi này được hình thành hoàn toàn tự nhiên, không có bàn tay con người tác động. Đây cũng là một minh chứng sống động cho thấy thiên nhiên có thể tạo nên những tuyệt tác như thế nào. Không chỉ những hang động mà ngay cả những núi đá, nhũ đá, măng đá… cũng được hình thành hoàn toàn tự nhiên với đủ mọi nét đẹp độc đáo. Thậm chí, với một chút trí tưởng tượng, tôi đã nghĩ rằng có một bàn tay tạo hoá vô hình đã dùng sức mạnh của gió để tạo ra những kỳ quan tuyệt vời này… Những núi đá ở đây nằm hoàn toàn tự nhiên nhưng vẫn tạo thành những vùng tham quan độc đáo đến kinh ngạc: Một cổng vòm xuyên qua ngọn núi, một vùng nước cạn yên tĩnh để chèo thuyền, một bãi cát nhỏ trắng tinh sát vách núi…

 

Khi thăm Vịnh Hạ Long, chắc chắn bạn sẽ được vào thăm một số hang động nổi tiếng trên Vịnh. Những hang động kéo dài từ đỉnh núi xuống tận chân núi, được bao phủ bởi những nhũ đá và măng đá, hệ thống đèn chiếu sáng càng làm cho khung cảnh thêm tráng lệ, như một bức tranh nghệ thuật thực sự!

 

Xen giữa các đảo và núi đá, bạn còn có thể bắt gặp những bãi cát nhỏ nằm ven đảo hay dưới một vách núi. Với một chiếc thuyền nhỏ, bạn có thể tạt vào bãi cát, tận hưởng khoảng thời gian tĩnh lặng vô cùng giữa khung cảnh thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ…

 

Tôi đến Hạ Long vào mùa mưa, cũng may là đúng dịp trời không mưa nhiều, chỉ có sương mù và ít nắng. Đây không phải là dịp tốt nhất để đến Hạ Long; trời không lạnh nhưng cũng không đủ ấm để có thể thoả thích vùng vẫy trong làn nước biển. Tôi nghĩ tháng 4 là thời điểm thích hợp hơn vì khi đó thời tiết rất đẹp và nhiệt độ cũng khá ấm áp. Đây là lúc bạn có thể thấy hết được vẻ đẹp tuyệt vời của Vịnh Hạ Long…

 

Claudia Tello (Lạc Dung dịch)

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Quyến rũ Kon Bin (Quảng Nam)

Bỏ lại những ngột ngạt xô bồ của phố thị, thử đeo ba lô và ngược núi về với ngôi làng nhỏ nằm chênh vênh trên dãy Ngọc Linh (Nam Trà My) tìm cảm giác bình yên bên bếp lửa nhà sàn sẽ là một trải nghiệm không thể nào quên cho những bàn chân ưa khám phá.

“Tỉnh dậy hoàn toàn đơn độc trong một thị trấn xa lạ là một trong những cảm xúc tuyệt vời nhất trên thế giới” – tôi đã nghĩ ngay đến câu nói ấy của Freya Stark khi ngắm nhìn những tia nắng đầu ngày từ nóc Kon Bin. Không thể diễn tả được xúc cảm của kẻ lữ hành khi trước mặt là những chóp núi trập trùng trong sương trắng. Phía hừng đông đẹp đến ngỡ ngàng. Giữa rừng, chỉ có gió xào xạc và những âm thanh của núi, của bình yên. Một ngôi làng trong mơ…

 

 

Từ Tăk Pỏ (xã Trà Mai) – trung tâm huyện Nam Trà My, chúng tôi ngược xe máy lên điểm Trường Tiểu học Ngọc Linh, điểm cuối con đường đang được mở vào trung tâm xã Trà Linh. Từ đây, chỉ có thể gửi xe máy ở dãy hàng tạp hóa san sát nằm ở bìa rừng, rồi cuốc bộ theo con đường độc đạo để đến Kon Bin. Bắt đầu một hành trình gian nan cho những đôi chân chưa quen leo dốc, gùi hàng, bởi đường lên là những con dốc dài mà mỗi bước chân là một lần đầu gối chạm mặt. Nước suối ngọt lịm, mát lạnh đến tỉnh người đủ để quên đi cảm giác mồ hôi tuôn ướt áo. Rồi lại đi. Con đường mòn xuyên qua những vạt cỏ lau cao quá đầu người, thi thoảng lại len lỏi giữa những tán rừng và những ruộng bậc thang xanh ngắt. Ruộng lúa nước của người Xê Đăng trên đỉnh Ngọc Linh không bát ngát như ở Tây Bắc, nhưng màu xanh của ruộng mạ hai bên lối đi đẹp mơ màng. Nghỉ chân dưới những tán cây, ngắm nhìn ruộng bậc thang trải theo sườn núi dốc như một liều thuốc “tăng lực” cho “phượt thủ” tiếp tục hành trình. Thi thoảng, bạn sẽ bắt gặp những đoàn người Xê Đăng gùi hàng thuê lên nóc dừng chân chia nhau từng chút bột “cá c’râu”, loại thuốc bột truyền thống, rầm rì trò chuyện. Khoảng gần 2 tiếng đồng hồ ngược núi như thế, bạn sẽ đến được Kon Bin. Bước chân chợt hẫng khi đỉnh đồi là cả một thảo nguyên xanh rì. Nằm trên vạt cỏ, ngửa mặt nhìn trời xanh mây trắng, có cảm giác cả bầu trời xanh nằm gọn trong lòng bàn tay. Những toan lo của cơm áo thường ngày đã nằm đâu đó dưới chân núi, thật bình yên.

 

Làng Kon Bin đẹp nhất là vào khoảng tầm 3 giờ chiều. Nắng vàng rực nhưng tiết trời cứ dịu như mùa thu. Lạnh. Phần vì Kon Bin nằm ở độ cao hơn một nghìn mét, phần vì lọt thỏm giữa những cánh rừng nguyên sinh. Chừng vài chục nóc nhà của người Xê Đăng bám víu lấy bình nguyên nhỏ trên đỉnh đồi. Trong làng duy nhất tiệm tạp hóa, nhưng lại khá đầy đủ mọi thức từ bánh trái nước ngọt đến cả… bia. Ngay bên cạnh làng cũng là những dãy ruộng bậc thang đều tăm tắp. Khách đến Kon Bin, tha hồ xuýt xoa với những khung hình đẹp, chưa kể từ đồng cỏ còn có thể phóng tầm mắt tìm con đường nhựa ngoằn ngoèo nằm sát chân núi và những ngôi làng khác ở xung quanh. Những người Xê Đăng ở Kon Bin khá rụt rè khi mới gặp khách, nhưng vẫn sẵn sàng bày rượu cần nướng cá suối hát hò suốt đêm, rồi ngủ vùi bên bếp lửa.

 

Hừng đông đỏ rực phía chân trời. Những thung sâu chìm trong mây trắng. Buổi sáng ở Kon Bin trời trong mát, bạn sẽ tỉnh giấc giữa tiếng chim hót, tiếng gió reo và một cánh đồng mây trước mặt. Nếu như Ngọc Linh được mệnh danh là nóc nhà của Nam Trung Bộ thì cánh đồng cỏ ở Kon Bin như một ban công chìa ra phía dưới, một địa điểm không thể tuyệt vời hơn để đón bình minh. Những lo toan muộn phiền như được giũ quên trong khoảnh khắc mặt trời hiện lên từ biển mây trắng ngút ngàn trên chóp núi. Hãy đến đó, ở đó để biết hạnh phúc của những chuyến lữ hành với chiếc ba lô và đôi chân chưa bao giờ muốn dừng lại…

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Suối Yến mùa nước nở hoa

Chùa Hương trên núi Hương Sơn nằm trong quần thể núi đá vôi gồm 99 ngọn núi trùng trùng điệp điệp, chồng lấn lên nhau, tạo thành một quần thể danh thắng với non nước mây trời hòa quyện vô cùng kỳ thú.

Phong cảnh Hương Sơn mỗi mùa đẹp một nét riêng không nơi nào sánh được, như nhà thơ Chu Mạnh Trinh từng viết trong bài “Hương Sơn phong cảnh ca” từ thế kỷ trước để ca ngợi cảnh sắc Hương Sơn – Nam thiên đệ nhất động, với những cảnh đẹp đượm mùi thiền bằng lời thơ vô cùng dung dị và hoa mỹ “Bầu trời cảnh bụt/Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay/Kìa non non, nước nước, mây mây…”.

 

 

Hương Sơn bốn mùa đều đẹp, nhưng có lẽ đẹp nhất vẫn vào mùa thu, mùa không lễ hội. Vãng khách đến Hương Sơn mùa thu sẽ không phải chịu cảnh ồn ào, náo nhiệt và chen chúc của hàng vạn du khách, phật tử thập phương về dự lễ hội. Mùa thu ở Hương Sơn đẹp trong không gian tĩnh lặng, u tịch của chốn thiền môn, của cuộc sống bình dị và sắc màu thiên nhiên trong trẻo, nhẹ nhàng. Mùa trôi đi ở Hương Sơn nhẹ nhàng như tiếng mái chèo khua nước trên dòng Yến Vĩ, chậm mà trong.

Mùa thu là mùa đẹp nhất trên suối Yến, mùa suối nở hoa. Vào những ngày trời trong, nắng vàng trải xuống lòng suối một màu óng ả, lóng lánh bật lên sắc tím hồng của những bông súng nở tràn dọc hai bên suối khiến dòng suối bừng lên rực rỡ. Vào những ngày trời có sương, khi ánh ban mai ló rạng, vén những làn sương mỏng đang cố bám lấy mặt nước trong xanh khiến cho không gian chỗ mờ, chỗ tỏ. Hoa súng cũng chỉ nở vào buổi sớm và sẽ khép cánh khi nắng lên tới đỉnh đầu, bởi vậy, suối Yến mùa thu, đẹp nhất cũng vào lúc sớm mai.

Sớm mùa thu, thong thả mái chèo bên dòng Yến, chớ thấy cảnh sắc nhẹ nhàng, bồng lai mà vội xuôi dòng. Hãy ghé lại những khe nước nhỏ rẽ ngang, ở đó, những nhánh suối được che chắn bằng lớp rào tự nhiên bởi những hàng tràm ít người biết đến. Hoa súng có ngọn không cao, lá lại nằm ngay trên mặt nước, nhìn từ xa, dòng Yến như thực sự nở hoa.

Ở những dòng lạch nhỏ cắt ngang nối vào chân núi, hoa trải dài từng luống, từng đầm tới khi hết nước, hoa súng bám vào chân núi mới thôi. Ở nhiều chỗ, hoa súng soi bóng xuống mặt nước tĩnh lặng nơi vắng mái chèo khiến ta có cảm giác những đầm hoa chụm cuống nở ngược trên mặt nước, trong trẻo như soi trên một tấm gương.

Một bóng thuyền nhẹ trôi trên dòng suối, không gian tĩnh lặng bởi người chèo thuyền chỉ dùng tay gạt nước, vớt những bông súng đầu tiên mới nở vẫn còn e ấp dưới ánh ban mai để tô điểm thêm sắc màu cho cuộc sống.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Bình yên sông Cổ Cò

Đại Nam nhất thống chí viết, sông Cổ Cò (hay còn gọi là Lộ Cảnh Giang) nằm ở vùng đất cuối hai huyện Diên Phước và Hòa Vang. Con sông này chạy từ xã Thanh Châu (Hội An) ra đến phía Tây quần thể Ngũ Hành Sơn rồi nhập vào sông Cẩm Lệ.

Trong dân gian còn lưu giữ nhiều câu chuyện lịch sử thú vị về sông Cổ Cò, như đời Chúa Nguyễn Phúc Chu, năm 1695 nhà sư Thích Đại Sán – vị cao tăng của Trung Hoa đến kinh thành xứ Đàng Trong. Khi rời Phú Xuân vào Hội An để đáp thuyền về nước, ông xuôi theo dòng Cổ Cò, nhìn thấy núi Tam Thai trước mắt (tức Ngũ Hành Sơn) đã xuống thuyền lên núi vọng cảnh. Trước đó, năm 1307, Huyền Trân Công chúa cũng ngược dòng sông này trên đường từ Chiêm Thành về Đại Việt.

 

 

Vào thế kỷ XVII, XVIII, Hội An là Trung tâm mậu dịch quốc tế của xứ Đàng Trong, nằm trên con đường tơ lụa của Trung Hoa, Nhật Bản với các nước phương Tây. Dưới triều Nguyễn, từ Minh Mạng đến Tự Đức, việc giao thương giữa Đà Nẵng và Hội An vẫn được tiến hành trên sông Cổ Cò. Tuy nhiên, sau năm 1891 con đường này ngày càng ít người qua lại vì những trận bão lụt thường xuyên xảy ra đã đưa cát từ biển vào làm cho dòng sông bị vùi lấp chỉ còn một đoạn ngắn.

 

Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một tấm bia đá trong đợt khảo sát những dấu vết của sông vào năm 2002. Tấm bia được dựng tại xã Hóa Khê Đông xưa (nay là phường Hòa Hải) ngay trên bờ sông, ngày 6 tháng 6 năm Khải Định (1922). Tấm bia ghi lại việc đắp đê ngăn mặn sông Cổ Cò.

Trước khi bị bồi lấp, dòng sông Cổ Cò có nhiều ghe mành, thuyền buồm đi về tấp nập, tránh sóng to gió lớn trên mặt biển. Trên bờ sông bên hòn Dương Hỏa Sơn có bến Vịnh, từng là nơi thuyền vua cập bến mỗi khi đến vãn cảnh Non Nước Ngũ Hành Sơn. Ở đây vẫn còn lại di tích “Bến Ngự” và “Cồn Ngự” ở gần hòn Kim Sơn. 

 

Trên bờ sông Cổ Cò dưới ngọn Hỏa Sơn có Miếu Ông Chài, là trạm thu thuế các tàu buôn qua lại  trên sông Cổ Cò giữa Hội An – Đà Nẵng trước đây. Miếu Ông Chài là một ngôi miếu nhỏ, còn tương truyền câu chuyện rằng trước đây có hai cha con hành nghề chài lưới ở Hỏa Sơn đến đây trú ngụ sau một ngày đánh cá trên sông. Con gái ông chài là người đẹp tuyệt trần. Một lần, khi ông xuống bến lấy nước thì nhìn thấy cô con gái tắm rửa dưới thuyền lộ rõ thân hình trắng đẹp dưới ánh trăng, lòng trỗi dậy ham muốn sắc dục. Không thể làm điều lỗi đạo, ông đã lấy dao cắt đi phần “hiếm” của cơ thể rồi sau đó vì mất máu mà chết. Biết được câu chuyện này, nhóm bạn hành nghề chài lưới tổ chức ma chay và lập miếu thờ ông.

 

Ngày nay, Cổ Cò khá bình yên, trong lành với cảnh những ngư dân tay tung chài, lưới đánh bắt cá mỗi sớm mai hay khi chiều xuống, giữ lại nét bình yên vốn có của một dòng sông. Thời gian gần đây, dòng sông Cổ Cò đã được đưa vào tour du lịch đường sông của một số đơn vị lữ hành, tạo nên sự phong phú trong sản phẩm du lịch tại Đà Nẵng.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Làng cổ Thổ Hà – Dấu ấn văn hóa Bắc Bộ

Cách Hà Nội khoảng 48km, làng cổ Thổ Hà thuộc xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, được coi là mảnh đất “địa linh nhân kiệt,” nổi tiếng trong cả nước với làng gốm và quần thể kiến trúc cổ thuần Việt mang đậm dấu ấn của cư dân đồng bằng Bắc Bộ.

Thổ Hà – Làng nghề vang bóng một thời

Nói đến Thổ Hà, người ta không thể không nhắc đến gốm. Không khó để nhận ra dấu tích của nghề gốm từng “vang bóng một thời” với gốm ẩn hiện trên những nóc nhà, vách tường, chum vại quanh làng…

 

Nghề gốm ở Thổ Hà phát triển rực rỡ từ thế kỉ 14. Đây là một trong ba trung tâm gốm sứ cổ xưa nhất của người Việt, bên cạnh Phù Lãng (Quế Võ, Bắc Ninh) và Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội). Theo gia phả làng nghề và những mẫu hiện vật khảo cổ được tìm thấy thì Thổ Hà là một trong những chiếc nôi của nghề gốm sứ. Sản phẩm của làng nghề này đã có thời nổi danh khắp thiên hạ. Từ lúc có nghề gốm đến đầu những năm 90 của thế kỷ 20, cả làng chỉ sống bằng nghề gốm.

Gốm Thổ Hà mang những nét đặc sắc riêng hiếm có: độ sành cao, không thấm nước, tiếng kêu như chuông, màu men nâu đỏ mịn màng, ấm áp và gần gũi. Gốm có độ bền vĩnh cửu dù được chôn trong đất, ngâm trong nước. Làng chỉ làm đồ gốm gia dụng, những chum vại, tiểu sành, chĩnh chõ nổi tiếng một thời. Những mảnh gốm xưa còn sót lại trên các bức tường vẫn nguyên hình vẹn trạng, hồn gốm như còn đọng mãi.

Nhờ có nghề làm gốm mà cuộc sống của người dân trước đây hơn hẳn những nơi khác. Sự hưng thịnh của nghề gốm đã giúp người dân xây dựng một quần thể kiến trúc đình, chùa, văn chỉ, cổng làng, điếm bề thế uy nghi.

Đầu những năm 1990, cũng giống như bao làng nghề truyền thống khác, Thổ Hà rơi vào tình trạng sản phẩm làm ra không bán được và mai một dần. Không đứng vững được với nghề gốm, nhiều người dân trong làng chuyển sang làm nghề khác để mưu sinh. Đến năm 1992, hầu hết nhà kho, xưởng gốm được thanh lý, nghề gốm Thổ Hà gần như mất hẳn sau gần sáu thế kỷ tồn tại. Giờ đây người ta nhắc tới Thổ Hà bằng cái tên mới: Làng làm bánh đa nem.

Thổ Hà – Quần thể kiến trúc cổ thuần Việt

Thổ Hà còn nổi tiếng với những kiến trúc cổ từ nhà cửa đến cổng làng, khu giếng cổ đều được làm bằng gạch nung và sành đắp nổi không tráng men. Đặc biệt nơi đây còn hiện hữu ngôi chùa cổ kính và ngôi đình bề thế – một kiệt tác của kiến trúc cổ truyền Việt Nam.

Cổng làng Thổ Hà có kiến trúc đẹp, bề thế và cổ kính, được làm từ đôi bàn tay của những nghệ nhân dân gian của làng, thể hiện sự thịnh vượng của nghề gốm xưa kia. Đây là một trong những chiếc cổng làng đẹp nhất ở vùng hạ và trung lưu sông Cầu.

Cổng nằm ở ngay đầu làng phía trước đình, bên tả là hồ nước rộng, bên hữu có cây đa hàng trăm năm tuổi, đây là những nét rất đặc trưng mang đậm dấu ấn văn hóa của cư dân đồng bằng Bắc Bộ với hình ảnh cổng làng, cây đa, bến nước, sân đình cùng với những vòm cổng, những khu miếu thờ, từ chỉ, đình, chùa… Ngoài ra trong làng vẫn còn lưu giữ được một số ngôi nhà cổ xây dựng cách đây trên 100 năm, tiêu biểu cho các ngôi nhà cổ thuộc đồng bằng Bắc Bộ.

Đình Thổ Hà là một ngôi đình nổi tiếng của xứ Kinh Bắc, được xây dựng vào năm 1692, thời vua Lê Hy Tông. Đó là một công trình kiến trúc quy mô trên một khu đất rộng 3.000m2 với một nghệ thuật điêu khắc độc đáo. Đình đã từng được chính quyền Pháp xếp hạng trong Viện bảo tàng Bác Cổ Đông Dương. Ðình thờ Thành Hoàng là Lão Tử và tổ sư nghề gốm Ðào Trí Tiến. Đây là ngôi đình cổ thứ hai ở Bắc Giang (sau đình Lỗ Hạnh được xây dựng năm 1576).

Đình Thổ Hà tiêu biểu cho không gian tâm linh, văn hóa của người Việt với nét kiến trúc đặc trưng. Ðình có quy mô lớn, kết cấu kiến trúc tương đối hoàn chỉnh. Các mảng chạm khắc thể hiện phong cách thời Lê rõ nét, độc đáo. Ðề tài thể hiện trên các cấu kiện kiến trúc chủ yếu là “tứ linh, tứ quý” hoa lá cách điệu, chim thú và con người. Con rồng ở đình Thổ Hà được chạm ở nhiều bộ phận: đầu dư, bẩy, kẻ, cốn, ván nong, câu đầu với các đề tài rồng ổ, rồng mẹ cõng rồng con, rồng và thiếu nữ…

Ngoài các cấu kiện kiến trúc cổ, hiện đình còn lưu giữ được chín tấm bia cổ. Qua những thư tịch cổ, bia đá cổ là những minh chứng cho sự cổ kính của ngôi đình này. Bởi vậy, không ngẫu nhiên mà các nhà khoa học lại xem đình Thổ Hà là một bông hoa về nghệ thuật kiến trúc cổ Việt Nam. Năm 1962, đình Thổ Hà đã được xếp hạng là Di tích kiến trúc – nghệ thuật cấp quốc gia.

Chùa Thổ Hà có tên là “Đoan Minh Tự.” Niên biểu chính thức của chùa chưa được tìm thấy. Căn cứ dòng chữ ghi trên đôi rồng đá ở cửa chùa thì năm Giáp Thân 1580 đời nhà Mạc mua rồng đá, năm Canh Thân 1610 chùa được tu sửa lại. Như vậy, chùa phải được xây dựng từ trước đó.

Chùa xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc, có quy mô lớn, bao gồm cổng tam quan, gác chuông và tiền đường. Tam quan chùa nằm sát sau đình. Gác chuông và tiền đường được chạm trổ lộng lẫy với các đề tài rồng mây, hoa lá. Thời gian kháng chiến, quả chuông to trong gác chuông được lấy để đúc vũ khí. Trong chùa có tượng Phật tổ Như Lai to lớn và tượng Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen.

Từ tòa Tam Bảo theo hai dãy hành lang vào tới Động Tiên, là một công trình kiến trúc hiếm có. Động tiên đã ghi lại đầy đủ hình ảnh Thích Ca từ lúc mới sinh ra, lúc trưởng thành và khi lìa bỏ kinh thành vào động tu hành đến đắc đạo. Tiếp theo đi qua sân rộng tới nhà Tổ, nơi đây thờ Sư Tổ và các vị sư đã trụ trì chùa. Chùa Thổ Hà được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa năm 1996.

Văn chỉ làng Thổ Hà được xây dựng vào thế kỷ 17 (theo tấm bia còn lưu giữ thì được xây dựng vào năm Vĩnh Thịnh thứ 5, năm 1680) thờ Khổng Tử, Tứ Phối, 72 vị tiên hiền… Nơi đây được coi là cái nôi của nền học thức Thổ Hà. Đây cũng là địa điểm thu hút khá đông du khách đến tham quan, nhất là vào mùa thi cử, các sĩ tử đều đến đây thắp hương, lễ bái với tấm lòng thành kính. Văn chỉ làng Thổ Hà được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa ngày 28/2/1999.

Vẻ đẹp cổ kính ở những khu kiến trúc cổ, làng cổ cùng với những nghề thủ công truyền thống in đậm hồn quê Thổ Hà đã và đang tạo sức hấp dẫn lớn đối với du khách trong và ngoài nước, với những người nghiên cứu về kiến trúc và mỹ thuật, những nghệ sĩ và nghệ nhân đến tham quan và tìm cảm hứng./.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Mùa thu lên Thánh địa Trúc Lâm

Nằm trong Khu di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt tại Đông Triều, Ngoạ Vân tự thuộc thôn Tây Sơn, xã Bình Khê (Đông Triều) có địa thế rất đẹp về cảnh quan và phong thuỷ: Lưng tựa vào núi là đỉnh Ngoạ Vân (hay còn gọi là núi Bảo Đài) bốn mùa mây phủ, hai bên là hai dãy núi làm tay nga, phía trước có ngọn núi nhỏ làm tiền án, xa hơn về phía nam là những thung lũng lớn có dòng sông Cầm đỏ nặng phù sa uốn lượn mềm mại…

Am Ngọa Vân

Ngoạ Vân am, nơi kết thúc trọn vẹn quá trình tu luyện và hoá Phật của Đức vua Trần Nhân Tông và trở thành thánh địa của Phật giáo Trúc Lâm chính là nơi mà ai cũng ước ao được một lần đặt chân tới. Đến đó để được chiêm bái tượng Điều ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông nằm theo thế sư tử, an nhiên viên tịch trong Ngoạ Vân am cổ kính nằm chênh vênh trên tảng đá lớn ở phía sau chùa Ngoạ Vân quanh năm mây mù bao phủ. Đến đó để còn được chiêm bái khung cảnh bồng lai như trong bài thơ thiền cổ có tên “Đăng Bảo Đài sơn” của Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông: “Địa tịch Đài du cổ/ Thì lai xuân vị thâm/ Vân sơn tương viễn cận/ Hoa kính bán tình âm/ Vạn sự thuỷ lưu thuỷ/ Bách niên tâm ngữ tâm/ Ỷ lan hoành ngọc địch/ Minh nguyệt mãn hung khâm”. (Dịch là: “Đất vắng lâu đài thêm cổ xưa/ Xuân sang vừa đó mới theo mùa/ Gần xa, thấp thoáng mây lồng núi/ Nắng rợp mơ hồ một ngõ hoa/ Nước đẩy nước trôi đời vạn sự/ Tâm nghe lòng nhủ một mình ta/ Nâng ngang sáo ngọc bên thềm vắng/ Đầy ngực trăng trong toả ánh ngà”.  

Theo một số nhà nghiên cứu nhận định, đây là khung cảnh rất thực ở núi Bảo Đài vào lúc chớm xuân. Bởi Yên Tử thời Trần chắc chắn còn là miền đất hẻo lánh, núi rừng xa xôi; không rõ toà đài trong bài thơ này có từ bao giờ, có phải cũng là một hành cung đời Trần, vì đất quạnh nên trông có vẻ cổ kính hơn và vì thời tiết lúc đó mới đầu xuân, nhiều mây, nắng mưa bất chợt, cho nên núi và mây trở nên mờ ảo như xa lại như gần, còn ngõ hoa thì chỗ râm chỗ nắng… Và con đường mà các bậc tiền nhân đã đi xưa ấy nay đã được mở rộng, đổ bê tông phẳng lỳ, xe ô tô có thể vào tới tận phủ Am Trà. Cùng với đó, tuyến đường hành hương tiếp theo lên đến chùa Ngoạ Vân cũng đã được mở rộng, kè bậc đá để nhẹ nhàng nâng bước chân du khách hành hương về đất Phật…

Đường lên Ngoạ Vân đã được mở rộng, kè bậc đá

Không ồn ào náo nhiệt như ở “Kinh đô Phật giáo” Yên Tử (TP Uông Bí), con đường hành hương từ hồ Trại Lốc thuộc xã An Sinh đi dọc suối Phủ Am Trà qua khu Thông Đàn để lên đến chùa Ngoạ Vân, từng đoàn người vẫn lặng lẽ trải bước hành hương leo núi trên con đường của Đức vua – Phật hoàng và các bậc tiền nhân đã đi hơn 700 năm về trước. Tất cả như đang lắng nghe lời kinh Phật phát ra từ chiếc đài cassette của các cụ già đi phía trước đang hoà cùng với tiếng róc rách của dòng suối Phủ Am Trà dưới nắng thu và gió núi của rừng già.

Có lẽ trong tâm mỗi du khách đã đặt chân tới nơi này thì đây không chỉ là cuộc leo núi đơn thuần. Họ đang lắng mình trải nghiệm với Ngoạ Vân am, để có được những khám phá bất ngờ nơi đất Phật linh thiêng. Chùa Ngoạ Vân đang được trùng tu, tôn tạo trên nền cũ của chùa cổ thời Lê trung hưng ở phía dưới. Ở trên ngôi chùa hiện tại, phía sau Phật hoàng tháp, nơi lưu giữ một phần xá lỵ của Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông là khoảng sân của ngôi chùa Ngoạ Vân hiện tại đã rộng hơn, bởi các công trình tạm bằng gỗ được dựng lên trước đây như nhà tăng ni, nhà khách, nhà ăn, nhà bếp, bể nước… nay đã được di chuyển xuống phía dưới. Đồng thời, đã có cả các thùng đựng rác được đặt quanh những lối đi. Có được điều đó là nhờ sự nỗ lực cố gắng của các em học sinh và giáo viên toàn ngành Giáo dục huyện Đông Triều trong thời gian qua…

Lên Ngoạ Vân am – Thánh địa Trúc Lâm trong những ngày đầu thu này, cùng khách thập phương hân hoan chiêm bái nơi cõi Phật, chợt thấy lòng mình thanh thản, bình yên hơn…

Nguyễn Xuân 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

“Lạc” vào “Đà Lạt” ở Khu du lịch Hồ Nam

Ngại đi du lịch xa vào những ngày cuối tuần nhưng vẫn muốn “đổi gió” cho tuần mới đầy năng lượng. Khu du lịch sinh thái Hồ Nam là địa chỉ mới lạ đang được nhiều du khách tìm đến.

Không chỉ gần gũi với thiên nhiên hoang sơ vốn có mà tại đây còn cho ta cảm giác như đang đứng giữa khung cảnh Đà Lạt thoáng đãng.

 

 

Nằm cách TP.Thủ Dầu Một chưa tới 10km, Khu du lịch sinh thái Hồ Nam (khu phố Phước Thái, phường Thái Hòa, TX.Tân Uyên) khá thuận tiện cho du khách gần xa ghé thăm. Vừa đi qua cổng chào, chạy xe chầm chậm xuống con dốc uốn lượn du khách như đắm mình vào toàn bộ khung cảnh nơi đây. Cảm giác không khác gì Đà Lạt là mấy, có thiếu chăng là cái se lạnh không mang từ Đà Lạt về tới Bình Dương mà thôi!

 

Điểm đặc biệt tại Khu du lịch Hồ Nam là có được diện tích mặt hồ rộng lớn, hơn 10 ha. Mang lại luồng không khí trong lành, gió mát cây xanh luôn rợp bóng quanh hồ. Vài ba chiếc cầu vắt ngang, uốn lượn nên thơ là nơi lý tưởng để nhiều cặp cô dâu chú rể tới chụp ảnh cưới. Cũng nhờ có diện tích mặt hồ rộng nên khi đến đây, du khách có thể chơi đạp vịt hay câu cá giải trí. Bạn chỉ cần thuê cần câu hoặc mồi cho cá, nếu mang theo cần câu riêng thì chỉ mất thêm tiền thuê theo giờ. Thích thú hơn khi câu được bao nhiêu cá du khách sẽ mang hết về nhà chứ không cần cân kg trả tiền lại cho khu du lịch. Nếu không có nhiều thời gian tham quan tại đây du khách cũng có thể ngồi trên nhà hàng nổi, vừa phóng tầm mắt xa xa theo những rặng tràm tít tắp ven hồ vừa thưởng thức nhiều món ăn đặc sản đồng quê.

 

Muốn tận hưởng vẻ đẹp về đêm ở Khu du lịch Hồ Nam, du khách có thể cùng gia đình hay bạn bè lựa chọn những căn nhà lưu trú ẩn khuất dưới tán cây. 21 căn nhà lưu trú đang được gấp rút hoàn thành đưa vào sử dụng trong tháng tới.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

TIN MỚI NHẤT