Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Xuân về trẩy hội chùa Hương

Đã thành thông lệ từ hàng trăm năm nay, vào những ngày đầu xuân, du khách thập phương lại nô nức về trảy hội chùa Hương. Chuyến hành trình linh thiêng về miền đất Phật là một trong những lễ hội xuân gây tiếng vang lớn nhất ở miền Bắc và trở thành nét văn hóa mang đậm bản sắc Việt.

 

Chùa Hương là cách nói trong dân gian, trên thực tế chùa Hương hay Hương Sơn là cả một quần thể văn hóa – tôn giáo, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, những ngôi đền thờ thần, những ngôi đình thờ tín ngưỡng nông nghiệp… Trung tâm chùa Hương nằm ở ven bờ phải sông Đáy thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, cách trung tâm Hà Nội chừng hơn 50km.


Theo truyền thuyết thì ở vùng “linh sơn phúc địa này” vào thế kỷ đầu tiên đã có công chúa Diệu Thiện tục gọi là chúa Ba ứng thân của Bồ Tát Quán Thế Âm đã vào tu hành 9 năm, đắc đạo thành Phật đi cứu độ chúng sinh. Bởi vậy mà hàng năm, mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách khắp 4 phương lại nô nức về trảy hội.


Ở trong chùa có lễ dâng hương, gồm hương, hoa, đèn, nến, hoa quả và thức ăn chay. Trước ngày mở hội một ngày, tất cả các đền, chùa, đình, miếu đều khói hương nghi ngút, không khí lễ hội bao trùm cả xã Hương Sơn.


Lễ hội chùa Hương là lễ hội kéo dài nhất miền Bắc cũng như cả nước (từ mùng 6 tháng giêng cho tới hết tháng 3 âm lịch). Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng riêng đến 18 tháng hai âm lịch. Do mỗi mùa lễ hội thu hút con số du khách lên tới hàng triệu nên đây là thời điểm mà danh thắng chùa Hương bỗng trở nên đông đúc và ồn ào hơn bao giờ hết. Từ thời nhà Nguyễn, danh sĩ Phan Huy Chú trong một lần về đây vãn cảnh đã từng nói: “Nơi đây là lễ hội vui nhất nước Nam”.

 

Phần lễ chùa Hương thực hiện rất đơn giản, có nghiêng về “thiền”. Nhưng ở chùa ngoài lại thờ các vị sơn thần thượng đẳng với đủ màu sắc của đạo giáo. Đền Cửa Võng là “chân long linh từ” thờ bà chúa Thượng Ngàn, là người cai quản cả vùng rừng núi xung quanh với cái tên là “tì nữ tuý Hồng” của sơn thần tối cao. Chùa Bắc Đài, chùa Tuyết Sơn, chùa Cả và đình Quân thờ ngũ hổ và tín ngưỡng cá thần.


Chùa Trong có lễ dâng hương, gồm hương, hoa, đèn, nến, hoa quả và thức ăn chay. Lúc cúng có hai tăng ni mặc áo cà sa mang đồ lễ chay đàn rồi mới tiến dùng đồ lễ lên bàn thờ. Trong lúc chạy đàn, hai vị tăng ni múa rất dẻo và đẹp mắt. Từ ngày mở hội cho đến hết hội, chỉ thỉnh thoảng mới có sư ở các chùa trên đến gõ mõ tụng kinh chừng nửa giờ tại các chùa, miếu, đền. Còn hương khói thì không bao giờ dứt.

 

Phần hội chùa Hương mang đậm nét thanh tịnh của miền đất Phật, tạo nên sự hài hòa giữa con người và cảnh vật, không gian. Xuôi theo dòng nước, đường vào chùa Hương tấp nập hàng trăm thuyền qua lại. Có lẽ cảm giác ngồi trên những con đò nhỏ, men theo thung lũng suối Yến là thi vị nhất. Tới đây, người ta mới cảm nhận được những nét đẹp của chùa Hương, giống như những lời thơ của thi nhân Chu Mạnh Trinh từng ca ngợi:

 

“Bầu trời cảnh bụt
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kìa non non, nước nước, mây mây
Đệ nhất động” hỏi rằng đây có phải”…

 

Tiếp đó là hành trình vãn cảnh chùa chiền, leo núi, tham quan hang, động. Cuộc leo núi tạo ra trong con người tâm lý kỳ vọng, muốn vươn đến và chinh phục đỉnh cao. Và sự kỳ vọng đó hẳn sẽ làm cho con người thêm phần sảng khoái tin yêu cuộc đời này hơn.

 

Trong quần thể chùa Hương có con đường lên động Hương Đài khá quanh co, thuyền phải đi sâu vào trong các hẻm núi, theo những lối mòn, leo qua khoảng hơn trăm bậc đá thì tới cửa động. Từ đây có thể phóng tầm mắt bao quát cả một vùng thắng cảnh Hương Sơn trùng điệp núi non. Trên vách núi, những gốc mơ cổ thụ bám chặt vào đá, khung cảnh nơi này hoang sơ hơn so với dọc hai bên bờ dòng suối Yến.


Không mất quá nhiều thời gian, chỉ tầm từ sáng sớm tới chiều là du khách hoàn toàn có thể khám phá hầu hết những nơi đẹp và linh thiêng nhất của chùa Hương. Vậy là đủ cho một chuyến hành trình tìm về sự bình yên, tự tĩnh lặng và thâm trầm chốn thiền phật.


Xuân mới đang về và vẫn như bao năm cũ, mỗi người con Việt Nam hay cả những người con xa xứ lại háo hức lên kế hoạch về miền đất Phật, để dâng lên nén hương tỏ lòng thành kính, để hòa mình vào thiên nhiên trời đất bao la, thả hồn bền dòng suối Yến thơ mộng và tìm cho riêng mình khoảng lặng bình yên trong tâm hồn.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Hấp dẫn bãi tắm Bình Minh, Quảng Nam

Cách trung tâm huyện Thăng Bình về phía đông gần 10km, xã Bình Minh ngoài những tiềm năng lớn về khai thác, đánh bắt hải sản còn có một bãi tắm đẹp và thơ mộng. Nhiều du khách đến đây đều có chung nhận xét, đây là bãi tắm lý tưởng, nếu biết đầu tư khai thác sẽ là điểm đến hấp dẫn và đầy triển vọng.

(Ảnh minh họa)

 

Không những chỉ có một bãi tắm, hơn 9km bờ biển của Bình Minh, chỗ nào cũng có thể xây dựng thành bãi tắm với bờ biển dài, còn nguyên vẻ đẹp hoang sơ, là tiềm năng to lớn để địa phương kêu gọi đầu tư, phát triển du lịch sinh thái gắn với nghỉ dưỡng…

 

“Mực cát” vùng lộng

 

Bãi tắm chính của Bình Minh được huyện Thăng Bình đầu tư vào năm 1998 với các hạng mục gồm nhà để xe, khu tắm nước ngọt và công trình vệ sinh. Sau khi đầu tư, huyện giao lại cho UBND xã Bình Minh sử dụng để khai thác phục vụ du khách. Qua 15 năm từ khi hình thành, du khách trong và ngoài tỉnh đã biết đến bãi tắm Bình Minh. Cứ mỗi mùa hè, lượng khách đến tắm và thưởng thức các món đặc sản tươi ngon của vùng bãi ngang ngày càng đông. Đây là bãi tắm tuyệt đẹp với bãi cát trắng mịn màng, bờ biển thoai thoải, đặc biệt là làn nước ở đây trong xanh như ngọc. Ai lần đầu đến biển, nhìn làn nước trong xanh với bãi cát trắng mịn, làn gió nồm thổi mơn man cũng có một cảm giác muốn đắm mình vào biển, được vẫy vùng trong làn nước mát rượi để quên hết những mệt nhọc…

 

Không chỉ giữ nguyên vẻ đẹp hoang sơ, bãi tắm Bình Minh được biết đến với nhiều món hải sản tươi ngon, đặc biệt là mực cơm Bình Minh. Đây là loại hải sản được khai thác gần bờ và chỉ riêng vùng biển ngang mới ngon. Loại  mực này được ngư dân Bình Minh khai thác ở vùng biển lộng, gọi theo ngư dân là “mực cát” vì loại hải sản này sống ở vùng biển gần bờ trong những khu vực có cát, cũng loại mực cơm nhưng khi khai thác ở những khu vực đáy biển có bùn thì không ngon bằng. Khi đánh bắt được mực cơm, ngư dân cẩn thận dùng các dụng cụ bảo quản riêng cho mực, giữ mực không va chạm nhiều, giữ nguyên cho da mực không trầy tróc và nhấp nháy các chấm sao. Mực cơm tươi rói được đưa thẳng vào các nhà hàng tại bãi tắm. Tại đây, các cơ sở thực hiện công đoạn hấp mực theo cách truyền thống, đơn giản nhưng đảm bảo độ tươi ngon của loại “mực cát” này. Mực vừa luộc xong, còn nguyên túi, ửng hồng, tươi rói, căng mọng, thực khách dùng tay bốc con mực cơm còn nghi ngút khói, chấm vào chén nước mắm nhỉ giã ít gừng và ớt, kèm theo rau húng, chuối chát… Chính loại mực này đã góp phần làm nên giá trị “thương hiệu” của bãi tắm Bình Minh.

 

Văn hóa tâm linh

 

Ngoài những món hải sản tươi ngon, du khách tới Bình Minh có thể tranh thủ tham quan và tìm hiểu những nét văn hóa đặc sắc của làng chài vùng bãi ngang này. Đó là những hoạt động văn hóa tâm linh được truyền từ đời này qua đời khác. Cách bãi tắm khoảng 100m về phía bắc, lăng thờ cá ông được ngư dân 2 làng Tân An và Hà Bình xây dựng khá lâu, hướng về phía biển. Đây là nơi táng cá ông mỗi khi “Ông” lụy vào bờ. Thi thể “Ông” cá được ngư dân khâm liệm cẩn thận, cả vạn ghe đều có mặt để làm lễ nghinh ông linh đình và mai táng chu đáo xung quanh lăng. Tục thờ cá ông được ngư dân địa phương gìn giữ và xem đây là một tín ngưỡng trong nghề đi biển. Theo quan niệm của ngư dân, cá ông là vị thần biển, luôn giúp đỡ họ mỗi khi gặp nạn…

 

Một phong tục văn hóa đặc sắc khác mà du khách cũng rất quan tâm mỗi khi đến biển Bình Minh vào những ngày đầu năm âm lịch, từ mùng 4 cho đến rằm tháng Giêng, du khách sẽ được xem lễ hội cầu ngư trang trọng, thành kính cùng với các đội chèo, điệu hát bả trạo truyền thống. Đây là lễ hội được tổ chức trước những ngày chuẩn bị xuất bến của ngư dân, cầu cho mưa thuận gió hòa, tôm cá đầy thuyền. Hát bả trạo trong lễ hội cầu ngư của xã Bình Minh là một loại hình văn hóa dân gian đặc sắc, đã được Bộ VH-TT&DL xếp hạng văn hóa phi vật thể cấp quốc gia cùng với các địa phương khác của tỉnh vào năm 2013. Bên cạnh đó, cứ hai năm một lần, vào 1.4 nhân kỷ niệm ngày Bác Hồ về thăm làng cá, huyện Thăng Bình lại tổ chức lễ hội văn hóa miền biển. Địa điểm tổ chức chủ yếu là bãi tắm Bình Minh cho các xã biển trong huyện với những môn thi đấu thể thao mang đậm nét văn hóa vùng biển, trở thành một điểm hẹn sinh hoạt văn hóa chung cho ngư dân trong huyện…

 

Kết nối nhiều điểm du lịch

 

Nằm ở một vị trí rất thuận lợi có thể kết nối với nhiều điểm du lịch nổi tiếng khác của tỉnh, bãi tắm Bình Minh có thể là điểm tắm biển hoặc nghỉ dưỡng cuối cùng trong một tour mà du khách chọn, hoặc xuất phát từ đây có thể đi nhiều điểm khác như Cù Lao Chàm (Hội An)  khoảng 5 hải lý. Cũng từ bãi tắm Bình Minh, du khách có thể dọc theo đường Thanh niên ven biển đến biển Kỳ Hà – Chu Lai hoặc ngược ra phía bắc qua cầu Cửa Đại đến phố cổ Hội An. Từ đây chạy khoảng 15km lên Phật viện Đồng Dương ở xã Bình Định Bắc chiêm ngưỡng kinh thành cổ Indrapura của người Chăm, dấu tích của một vương triều hưng thịnh tồn tại hơn 100 năm trị vì vào thế kỷ thứ X, trên đường đi ghé thăm lăng Bà Chợ Được (xã Bình Triều), nơi diễn ra lễ hội rước cộ Bà Chợ Được vào ngày 11 tháng Giêng hàng năm…

 

Có thể nói, bãi tắm Bình Minh đang trở thành tâm điểm kết nối du lịch của cả một hệ thống những địa danh, những làng nghề nổi tiếng của huyện Thăng Bình và cả những địa danh của các huyện lân cận khi đường dẫn và cầu Cửa Đại thông tuyến, cùng với đường cứu hộ – cứu nạn chạy qua, nối liền xã Bình Minh với các TP.Hội An, Tam Kỳ. Một tín hiệu khả quan khi bãi tắm Bình Minh đang được các nhà đầu tư tìm đến, trong đó nhà đầu tư lớn có tiềm lực đã được UBND tỉnh thỏa thuận địa điểm và cấp giấy phép đầu tư là Công ty TNHH Châu Á – Thái Bình Dương với diện tích thỏa thuận là 6ha, tổng vốn đầu tư ban đầu là 70 tỷ đồng, gồm các hạng mục nhà lễ tân, khu hội nghị, khu tắm biển, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng cao cấp, bể bơi, sân tennis…  Hy vọng các dự án trên sớm được triển khai để bãi tắm Bình Minh trở thành điểm đến hấp dẫn hơn, thành trung tâm du lịch của Thăng Bình, kết nối với nhiều địa danh du lịch trong tương lai gần./.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Độc đáo chợ phiên Mốc 9

Chợ Mốc 9 hay còn gọi là chợ mốc 358 Bạch Đích thực chất là chợ cửa khẩu nhưng lại họp theo phiên, giống như nếp sinh hoạt của cư dân vùng cao Tây Bắc. Nếu không đúng phiên, cửa khẩu dù vẫn hoạt động bình thường nhưng khu chợ vắng bóng kẻ mua, người bán.

 

Từ thành phố Hà Giang, theo đường Quốc lộ 4C đi Quản Bạ-Yên Minh, đi hơn 70km “đường xoắn ốc” với những khúc cua tay áo gai người, đến địa phận xã Na Khê, cách thị trấn Yên Minh chừng 20 cây số sẽ có một ngã ba, rẽ về bên trái, theo con dốc sâu hút và con đường nhỏ chừng gần 20 cây số nữa là đến cửa khẩu Bạch Đích.Mốc 9 là tên gọi cũ của Mốc 358 thuộc địa bàn xã Bạch Đích, huyện Yên Minh. Chợ Mốc 9 nằm ngay bên chân mốc và đi thêm 10 bước chân nữa là chạm barier cửa khẩu Bạch Đích. Đây là cửa khẩu nhỏ, là nơi giao thương đi lại của người dân địa phương giữa 2 huyện: Yên Minh, Hà Giang và Ma Ly Pho, Trung Quốc. Vì là cửa khẩu địa phương nên nếu không có những buổi chợ phiên, hoạt động giao thương thường ngày sẽ vô cùng vắng vẻ. Vào những ngày phiên, chợ Mốc 9 lại mang một màu sắc đặc biệt, bởi đây là khu chợ duy nhất của 8 thôn bản thuộc xã Bạch Đích và cũng là chợ phiên duy nhất cho người dân giáp biên phía bên kia biên giới sang giao lưu buôn bán và mua sắm. Hàng hóa ở chợ phiên Mốc 9 vô cùng đa dạng, từ hàng ăn, quần áo giầy dép, vật dụng gia đình, hàng điện tử, bánh kẹo, thực phẩm nông thổ sản cho đến máy móc công cụ sản xuất nông nghiệp, máy xay xát, phân bón….. Đây cũng là phiên chợ để những người bán buôn ở  các chợ thuộc huyện Yên Minh và các huyện xung quanh đến lấy hàng, trao đổi trong không khí vô cùng đông vui, tấp nập.

Đối với những du khách đến đây, mỗi khu chợ đều có sức hút mạnh mẽ. Đặc biệt với chợ Mốc 9, du khách đến đây có thể tìm hiểu cuộc sống, văn hóa sinh hoạt của người dân 2 bên đường biên giới. Khám phá những điều thú vị ẩn sau điệp trùng núi đá hùng vỹ, thỏa mãn cảm giác làm chủ tay lái trên cung đường mang tên Hạnh phúc, tìm hiểu cuộc sống, con người vùng Cao nguyên đá Đồng Văn là trải nghiệm tuyệt vời đối với hàng vạn người yêu du lịch trong và ngoài nước. Tuy nhiên, việc khám phá một phiên chợ độc đáo, khác biệt ở ngay nơi mà những phiên chợ đã thành đặc sản như chợ phiên Mốc 9, cũng không phải dễ dàng bởi lịch họp phiên vào những ngày thân và ngày dần trong tháng tính theo âm lịch, vốn là loại lịch không phổ biến đối với những người thích xê dịch. Nó cũng không giống những chợ phiên thứ bảy, chủ nhật hay những phiên chợ lùi ở vùng Cao nguyên đá thường họp vào các ngày ứng với những con linh vật có sừng theo âm lịch. Cũng bởi vậy mà việc tham gia và khám phá phiên chợ Mốc 9 vẫn luôn là điều mới mẻvới dân phượt.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Gốm Phù Lãng – một nét Kinh Bắc xưa

Nằm bên dòng sông Cầu thơ mộng, làng gốm Phù Lãng một thời nhộn nhịp trên bến dưới thuyền. Ngày nay về đây, du khách vẫn vô cùng háo hức vì được thấy lại một nét Kinh Bắc xưa qua hoạt động của làng nghề.

 

Nguyên sơ đất và lửa

 

Làng gốm Phù Lãng thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 60km. Phù Lãng nằm bên bờ sông Cầu và có nhiều bến đò ngang suốt ngày chở khách qua lại. Theo sử sách còn ghi lại, nghề gốm Phù Lãng được hình thành và phát triển ở đây vào khoảng thời Trần, thế kỷ XIV. Hiện nay, tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, một số nhà sưu tập còn lưu giữ và trưng bày một số sản phẩm gốm Phù Lãng có niên đại khoảng thế kỷ 17 – 19. Đó là sản phẩm gốm men nâu và những sắc độ của nó như men da lươn, vàng nhạt, vàng thẫm, vàng nâu…

 

Bước chân vào làng Phù Lãng, điểm du khách dễ nhận ra nhất là những nét riêng biệt điển hình của một làng gốm. Những ngôi nhà gạch trần, mái ngói nhấp nhô dọc hai bên con đường làng đổ bê tông quanh co, lắt léo. Sản phẩm của nghề gốm được xếp đầy sân nhà, bờ ruộng, dọc các lối đi. Những bức tường rào được xếp từ những chiếc vại, chiếc bình bị nung hỏng, rêu xanh phủ đầy, chen với cỏ mọc tạo thành một vẻ đẹp mộc mạc và độc đáo không phải nơi nào cũng có được.

 

Trò chuyện với du khách, Nghệ nhân Phạm Văn Thành ở xóm Chùa, thôn Phấn Trung, xã Phù Lãng, cho biết: “Nét đặc trưng nổi bật của gốm Phù Lãng là sử dụng phương pháp đắp nổi theo hình thức chạm bong, còn gọi là chạm kép, màu men tự nhiên, bền và lạ; dáng của gốm mộc mạc, thô phác nhưng khỏe khoắn, chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất với lửa, và rất đậm nét của điêu khắc tạo hình”.

 

Ở Phù Lãng hiện nay có khoảng 30 lò gốm vẫn còn duy trì nghề truyền thống theo kiểu nung thủ công bằng củi. Một lò thường nung được 1.000 sản phẩm và phải đốt lửa liền trong 3 ngày 3 đêm. Vì vậy những sản phẩm đạt tiêu chuẩn phải có màu da lươn vàng óng hay màu cánh gián, khi gõ vào sản phẩm có tiếng vang.

 

Hành trình khám phá

 

Gặp chúng tôi trên đường làng là một nhóm học sinh đến từ Trường Tiểu học Đại Kim (Hà Nội), các em được nhà trường tổ chức cho đi tham quan làng gốm Phù Lãng để có thêm nhiều kiến thức về nghề làm gốm thủ công. Cô giáo Nguyễn Thùy Mai cho biết: “Các em rất thích thú khi đến đây vì được tự mình tay mình làm ra một tác phẩm, dù chưa đẹp nhưng chắc chắn sẽ bổ ích hơn rất nhiều nếu chỉ học trên sách vở”.

 

Sản phẩm gốm mỹ thuật của Phù Lãng hiện nay cũng đã được nhiều doanh nghiệp đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Italia… đặt hàng với số lượng không hề nhỏ. Đặc biệt mặt hàng gốm trang trí của Phù Lãng rất được khách hàng quốc tế yêu thích bởi nét đặc trưng là sử dụng phương pháp đắp nổi theo hình thức chạm bong, mà người Phù Lãng gọi là chạm kép các đề tài truyền thống- tứ linh, cảnh sinh hoạt và phong cảnh làng quê…

 

Hiện nay có khá nhiều tour du lịch đưa khách nước ngoài đến với làng gốm Phù Lãng. Anh Peter Anderson – một du khách đến từ Phần Lan cho biết: “Tôi rất thích thú với cách làm gốm thủ công ở Phủ Lãng, hiện nay nhiều sản phẩm gốm được làm công nghiệp, nhưng cách làm như ở đây vẫn giữ được những kỹ thuật nguyên gốc từ vài trăm năm trước”.

 

Sau khi thăm Phù Lãng, các hướng dẫn viên sẽ dẫn khách đến một ngôi chùa vô cùng nổi tiếng là chùa Bút Tháp ở huyện Thuận Thành gần đó, chiêm ngưỡng ngôi chùa và thưởng thức cơm trưa. Nhiều du khách thích thú thưởng thức các đặc sản địa phương như bánh đúc ăn với tương Đình Tổ, bánh gio, cháo thái…

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Phố Hội mê hoặc trong Tết Nguyên Tiêu

Phố Hội vào rằm tháng Giêng đón Tết Nguyên Tiêu càng trở nên đông đúc, rộn ràng, có tiếng ca bài chòi hồ hởi, tiếng đàn bầu, đàn nhị hợp ca tha thiết những ca khúc quê hương.

 

Sông Hoài đêm nay cũng được thắp sáng bởi hàng trăm chiếc đèn hoa đăng. Tất cả tạo nên một phố Hội đầy âm sắc của vùng đất xứ Quảng.

 

Khi tiếng trống sân bài chòi vang lên, tiếng hô của người hát làm bước chân của du khách nhanh hơn để kịp đến thưởng thức những làn điệu dân ca, nghe hát đối đáp với những thẻ bài có cái tên rất lạ như tám giây, bảy giày, mỏ, nghèo,… mà chất chứa trong đó là những câu ca về quê hương, đất nước.

 

Tết Nguyên Tiêu là ngày rằm đầu tiên của năm tính theo lịch âm. Phố Hội xưa là nơi sinh sống của nhiều người Hoa nên dù cuộc sống phát triển, những người dân các thế hệ sau này vẫn giữ nếp mừng Tết Nguyên Tiêu cho đến ngày nay.

 

Cùng với sự nỗ lực của chính quyền địa phương, ngày Tết Nguyên Tiêu phố Hội đang trở nên mang nhiều âm sắc với nhiều hoạt động được rải khắp theo suốt chiều dài phố cổ.

 

Rộn ràng nhất vẫn là khu vực gần Chùa Cầu với sân bài chòi chật kín người chơi đến tận khuya, tiếng trống hát bội ngày Nguyên Tiêu cũng rộn vang hơn trong câu xướng. 

 

Với những nỗ lực của người dân và chính quyền địa phương, bài chòi và hát bội đang dần trở thành một hoạt động thường niên vào đêm 14 âm lịch hàng tháng. Ghé thăm Hội An Tết Nguyên Tiêu, đêm rằm đầu tiên của năm mới, tinh thần của những người làm công việc lưu giữ văn hóa quê hương cũng phấn khởi hơn, ông Ba, người đánh trống hát bội cho hay: “Mới được đưa vào hơn nửa năm nay nhưng bà con ủng hộ nhiều lắm, du khách cũng háo hức. Mình phải gìn giữ để  sau này con cháu vẫn còn nghe và biết hát bội, hát dân ca”.

 

Đi xa về phía chợ, ở những con phố chính, du khách có thể bất ngờ khi nghe được những âm thanh tha thiết được hợp tấu bởi đàn nhị, sáo, ghita. Đó là những người nhạc công mà bạn có thể tìm thấy trước một ngôi nhà cổ, một bảo tàng đang chơi những bài ca đầy ngẫu hứng. Tiếng hát mượt mà của cô gái nhỏ trong lớp học hát dân ca đêm nay cũng cuốn chân người du khách dừng lại, lắng nghe câu ca xứ Hoài. Hay hình ảnh hai ông cụ với áo dài, ngồi đánh cờ với 2 ngọn nến cũng khiến phố Hội thật da diết làm sao! Bởi đó điều là hình ảnh của quê hương, của những ngày tưởng chừng xưa cũ, nay bỗng trở về, tại hiện lại ngay trên con đường phố cổ.

 

18 giờ, các công trình chiếu sáng công cộng ở khu phố cổ được tắt, các nhà trong khu vực này cũng được quy định hạn chế ánh sáng điện thì cũng là lúc những chiếc đèn lồng đỏ, vàng được thắp sáng. Hội An bấy giờ lung linh hơn bao giờ hết. Du khách có thể tìm đến những quán cà phê, nhà hàng với nhiều không gian cổ kính, hiện đại khác nhau. Nhưng thích nhất khi đến phố Hội lúc này là đi dạo dọc bờ sông Hoài, ngắm hàng trăm chiếc đèn hoa đăng lấp lánh trên mặt sông, hay bắt gặp những cô cậu bé trong chiếc áo bà ba đi rao bán nhưng mâm đèn. Đến đây bạn sẽ hiểu, cuộc sống hiện đại gần như không ảnh hưởng đến nơi này, những hình ảnh các bà các mẹ quảy gánh chuối vẫn còn đó, những cô cậu bé hồn nhiên vẫn được tìm thấy ở phố Hội sông Hoài.

 

Đi dọc theo các tuyến phố cổ, du khách còn có thể được thưởng thức những món ăn dân dã đúng cách xứ Quảng. Đó là ngồi vỉa hè, ăn trong ánh sáng của đèn dầu, đèn bão, ăn bánh bèo (loại bánh làm từ bột gạo) bằng xiên tre, hay ghé vào hít hà mùi bắp nướng, bánh khoai nướng đang được các chị trở đều tay trên bếp than hồng. Có như vậy, bạn mới thưởng thức trọn vẹn những âm, sắc, vị của Hội An đang giữ trong mình.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Những cung đường mùa Xuân

Đón năm mới tại những danh thắng của đất nước, với cả chiều dài lịch sử và sự hùng vĩ của thiên nhiên, mang lại cho lữ khách nguồn năng lượng tươi mới.

Ba ngày đầu năm mới là ba ngày chúng tôi lên kế hoạch cho một chương trình “phượt” khá “phiêu lưu”. Nói là “phiêu lưu” bởi hành trình chúng tôi sẽ đi hứa hẹn là những cung đường hiểm trở nhưng khung cảnh cũng vô cùng nên thơ, từ Mẫu Sơn (Lạng Sơn), thác Bản Giốc (Cao Bằng) đến hồ Na Hang (Tuyên Quang).

 

 

Một chút băn khoăn về đường sá khi thiếu hụt thông tin về tuyến Lạng Sơn – Cao Bằng (quốc lộ 4A qua Đông Khê, Thất Khê), hay Ba Bể – Na Hang (tỉnh lộ 279). Tuy nhiên, với quyết tâm và khát khao khám phá, đoàn vẫn hăm hở lên đường. Hơn 20 người, từ trẻ em 5 tuổi đến cụ già 80, đều phấn chấn với chuyến đi đầu năm.

 

Trong đoàn, không kể các thành viên gạo cội của OCD và gia đình, còn có các thành viên không thể thiếu trong mỗi chuyến phượt của OCD: thân sinh của chị Nam Phương (Tư vấn trưởng OCD) – ông Tuế, 80 tuổi, kho từ điển sống về những địa danh gắn liền với những sự kiện lịch sử, bà Diệp – người thêu lá cờ cắm trên hầm Đờ Cát trong chiến thắng Điện Biên, vợ chồng anh Trần Trọng Thành – người khai sinh phần mềm đọc sách Alezza, và Tống Thanh Hà – VIEBA…

 

Sau chặng đầu tiên lên tới đỉnh Mẫu Sơn, chúng tôi, dù không được hoàn toàn thỏa mãn với ước mơ thưởng sương, ngắm tuyết trong một ngày Đông nắng chói, vẫn thưởng thức một đỉnh Mẫu Sơn rất khác với tưởng tượng. Đến với thác Bản Giốc (Cao Bằng) và động Ngườm Ngao vào ngày thứ hai.

 

Thác Bản Giốc có dòng nước trắng xóa từ trên độ cao gần 100m đổ xuống ào ào qua mấy tầng thác mờ hơi nước. Những núi đá vôi sừng sững hai bên như góp phần làm nổi bật vẻ đẹp hoang sơ, kỳ vĩ của dòng thác. Bản Giốc được mệnh danh là thác nước đẹp nhất Việt Nam, lớn nhất Đông Nam Á và là thác tự nhiên lớn thứ tư thế giới trong các thác nước nằm trên một đường biên giới các quốc gia.

 

Ngoài hai phần thác có thể dễ dàng quan sát phía dưới, nhiều người mạo hiểm leo theo con đường mòn để lên chiêm ngưỡng phần tầng hai và tầng ba của thác, nơi có những con suối nhỏ chảy xiết như chưa bao giờ ngừng lại…

 

Không rộng lớn và hoành tráng như các đệ nhất động Phong Nha, Thiên Đường…, nhưng trong Ngườm Ngao có rất nhiều nhũ đá hình thù lạ và đặc biệt là cây Bạc với thân lóng lánh như cái tên của nó. Cách đó không xa là thác Bản Giốc, một cảm giác nao lòng chợt đến với các thành viên trong đoàn khi được tận mắt nhìn thấy ngọn thác hùng vĩ và đẹp nhất Việt Nam.

 

Nỗ lực đến với hồ Na Hang của chúng tôi không thành do điều kiện đường sá. Đổi lại, đoàn có một buổi du ngoạn hồ Ba Bể (Bắc Cạn), một trong số rất ít các hồ nước ngọt tự nhiên lớn và đẹp trên thế giới.

 

Du thuyền trên hồ giữa một ngày mùa Đông, khi khung cảnh núi rừng yên ắng, mặt hồ phẳng lặng, mang đến cho mỗi chúng tôi những cảm xúc thật khác lạ. Nằm trong danh sách 16 hồ nước đẹp nhất thế giới do Hãng Thông tấn MSN (Mỹ) bình chọn, hồ Ba Bề cuốn hút tất cả những du khách thích đắm mình vào thiên nhiên.

 

Họ có thể trải nghiệm sự kỳ vĩ của hang động với triệu triệu nhũ đá tuyệt đẹp ở động Puông; đứng lặng người trước thác Đầu Đẳng hùng vĩ và hoang sơ; hay thấy bóng mình in trên mặt nước Ao Tiên quanh năm phẳng lặng, để dường như cảm nhận được truyền thuyết các nàng tiên hạ trần tắm trong ao xanh nước biếc…

 

Ngoài ra, bạn còn có thể tham quan rất nhiều địa danh khác như điểm du lịch Phya Khao, Kim Hỷ, động Nàng Tiên, thác Nà Đăng, bản Pác Ngòi, suối Thác Giềng… Thưởng thức tiếng đàn tính của bà con dân tộc Tày…

 

Không chỉ những điểm dừng chân, mỗi ngọn đèo như đèo Bông Lau (quốc lộ 4A – nổi tiếng với trận chiến Thu Đông 1947), đèo Mã Phục, đèo Tài Hồ Sìn, đèo Cao Bắc, đèo Gió (quốc lộ 3), dù hiểm trở không kém những ngọn đèo trong “tứ đại đèo Tây Bắc” mà chúng tôi đã đi qua như Pha Đin, Ô Quy Hồ hay Khau Phạ… nhưng luôn để lại những cảm giác khó quên về sự nên thơ, vào lúc hoàng hôn hay trong đêm tối.

 

Trong đó, đèo Mã Phục là con đèo đẹp nhất trong các con đèo trên trục đường quốc lộ 3 từ Phủ Lỗ đến cửa khẩu Tà Nùng, cách Cao Bằng 22km, thuộc xã Quốc Toản, huyện Trà Lĩnh, là ranh giới giữa huyện Hòa An và huyện Trà Lĩnh. Đèo cao 620m, vượt qua bảy vòng dốc để đến được đỉnh, có thể đắm mình ngắm những cánh đồng hoa tam giác mạch tim tím trải dài bất tận trong bức tranh sắc màu của mùa Xuân.

 

Nói như Nhâm, người thường xuyên “ngụp lặn” trong các dự án tư vấn chiến lược cho khách hàng, ba ngày mải mê với các cung đường và thách thức sau tay lái, chúng tôi thực sự “làm mới” mình để đón một năm mới đầy thách thức.

 

Các thành viên bé nhất đoàn, trải qua ba ngày đường khá vất vả, ốm, sốt nhưng khi được hỏi “Có đi nữa không?”, vẫn gật đầu “Có chứ”. Sau chuyến đi, dù mệt mỏi, tất cả chúng tôi đã nạp đầy năng lượng cho một chuyến đi dài cả năm 2015.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

4 thiền viện nổi tiếng nhất Việt Nam

Không chỉ mang đến cảm giác an nhiên tự tại, Trúc Lâm Tây Thiên,Trúc Lâm Phương Nam, Trúc Lâm Đà Lạt, Trúc Lâm Yên Tử còn say đắm lòng người với bức tranh sơn thủy hữu tình, cảnh quan tuyệt đẹp.

Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên (Vĩnh Phúc) thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử tọa lạc tại xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, cách Hà Nội khoảng 85 km về phía tây.

 

 

Truyền thuyết kể rằng, khoảng thế kỷ thứ 3, có một vị hòa thượng tên là Khương Tăng Hội dừng chân ở đây, dựng chùa truyền giáo, vì thế nơi đây là cái nôi của Phật giáo Việt Nam.

 

Thiền viện được khởi công xây dựng từ ngày 4/4/2004, hoàn thành vào ngày 25/11/2005 với kinh phí 30 tỷ đồng. Đây là thiền viện được xây dựng nhanh nhất với kinh phí thấp nhất. Lý do của đều này là nhờ sự góp công của người dân, các thợ thủ công và các làng nghề. Về thiết kế, thiền viện mang đậm dấu ấn, kiến trúc chùa Việt Nam đương đại với cổng Tam Quan, những họa tiết, chi tiết điêu khắc tinh tế và sắc sảo.

 

Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam nằm trong khu di tích lịch sử Lộ Vòng Cung, TP Cần Thơ. Thiền viện được công xây dựng vào ngày 16/7/2013, tổng diện tích là 38.016 m2, kinh phí khoảng 145 tỷ. Với diện tích như vậy, đây là thiền viện lớn nhất miền Nam.

 

 

Chính điện lợp ngói tám mái theo theo phong cách nhà Trần. Tổ điện lợp ngói bốn mái theo phong cách Lý triều. Lầu trống, gác chuông lợp ngói mười hai mái… Ngoài tượng Phật Thích Ca bằng đồng, toàn bộ hệ thống tượng thờ tại đây đều bằng gỗ thủy tùng.

Đặc biệt, khuôn viên thiền viện được bày trí các gian nhà rất cân đối gồm Quan Âm điện, Di Lặc điện (Thủy tạ), chùa Một Cột, giảng đường, khách đường, trai đường, thư viện, phòng đông y Nam dược…

 

Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt là một công trình kiến trúc độc đáo bên cạnh hồ Tuyền Lâm. Chính điện có diện tích 192 m2. Giữa điện thờ tượng Phật Thích Ca cao khoảng 2 m, tay phải cầm cành hoa sen. Bên phải là Bồ Tát Văn Thù cưỡi sư tử. Bên trái là Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi trắng 6 ngà. Phía bên phải của chính điện là lầu chuông với quả đại hồng chung nặng khoảng 1,1 tấn.

 

 

Thiền viện hút du khách với vẻ uy nghiêm của một ngôi chùa nổi tiếng, không gian thoáng đãng và những thảm hoa rực rỡ khoe sắc. Ngoài viếng cảnh chùa, nếu thích, du khách có thể đăng ký tour khám phá vẻ đẹp hồ Tuyền Lâm với mặt nước mênh mông, tiểu đảo đầy thông hay khám phá Đà Lạt từ trên cao với hệ thống cáp treo nối đèo Robin với thiền viện.

 

Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử còn gọi là Chùa Lân, Long Động Tự thuộc thôn Nam Mẫu, xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Đây là ngôi chùa do vua Trần Nhân Tông cho tôn tạo, xây dựng vào năm 1293. Tương truyền ngày đó, ba vị sư tổ Trúc Lâm là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang thường đến đây thuyết pháp.

 

 

Chùa nằm trên một quả đồi có hình dáng một con lân nằm phủ phục. Hiện ngõ chùa vẫn còn lưu dấu tích xưa với ngõ dài, rộng, hai bên có nhiều tháp mộ các nhà sư.

 

Các công trình chính của chùa gồm chính điện, nhà thờ Tổ, lầu trống, lầu chuông, nhà tăng, La Hán đường… Đặc biệt, chùa có tượng đồng Thích ca mâu ni nặng gần 4 tấn và tượng Bồ Đề Đạt Ma làm bằng gỗ dáng hương nặng khoảng 3,2 tấn. Ngoài ra, nơi đây cũng có quả cầu được trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác định là quả cầu Như ý lớn nhất Việt Nam.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Chùa Bà Đanh – di tích nổi tiếng tại Hà Nam

Chùa Bà Đanh được biết đến rộng rãi không phài vì ngôi chùa này đông người tìm về hành hương hay đông khách thăm quan du lịch mà di tích này được biết đến bởi câu ví von “Vắng như chùa Bà Đanh”.

 

“Vắng như chùa Bà Đanh” dường như đã trở thành “thương hiệu” và là câu quen thuộc của người dân miền Bắc khi diễn tả một sự vắng vẻ, hiu quạnh. Vì sự quen thuộc và nổi tiếng đó mà chùa Bà Đanh được người ta biết đến nhiều, mặc dù những người đó chưa chắc đã thực sự đến đây.


Từ Hà Nội, đi thẳng quốc lộ 1 đến thành phố Phủ Lý rồi rẽ phải qua cầu Hồng Phú vào quốc lộ 21, đi khoảng 10 km, đến cầu treo Cấm Sơn sẽ nhìn thấy ngôi chùa cổ kính thấp thoáng hiện ra sau những bóng cây, nhìn ra con sông Đáy hiền hòa.


Chùa Bà Đanh còn có tên chữ là Bảo Sơn tự, là danh thắng của đất Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Cũng như bao ngôi chùa khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ là thờ Phật, chùa Bà Đanh còn tín ngưỡng thờ Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Phong là Thần mây, Thần mưa, Thần sấm, Thần sét) một tín ngưỡng thờ thiên nhiên rất gần gũi với đời sống nông nghiệp ở nước ta.


Còn về tên gọi chùa Bà Đanh thì theo truyền thuyết của địa phương, chùa thờ nữ thần linh thiêng trông coi việc điều mưa khiển gió, giúp dân trừ lũ lụt, đem lại mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu nên được gọi là chùa Đức Bà làng Đanh, gọi tắt là chùa Bà Đanh như tên gọi ngày nay. Câu so sánh “Vắng như chùa Bà Đanh” có từ bao giờ và vì sao lại có sự so sánh đó đến nay vẫn còn là thắc mắc của nhiều người. Có nhiều cách lý giải về câu nói này nhưng ý kiến được cho là chuẩn xác nhất là do chùa Bà Đanh nằm ở vị trí u tịch, xa dân cư, ba mặt là sông, rừng rậm chắn, lối đi độc đạo, lại có nhiều thú dữ nên không ai dám vào. Cách duy nhất an toàn là chèo thuyền qua sông Đáy nhưng vì bất tiện nên người hành hương thưa thớt.


Ngày nay, đường đi đã thuận lợi hơn nhiều do đó khách tìm về thăm quan, hành hương cũng không còn vắng vẻ như xưa.

 

Đi qua chiếc cầu treo Cấm Sơn khá bề thế bắc qua sông Đáy, vòng lên một đoạn đường đê vắng vẻ, sẽ bắt gặp tấm biển bằng đá ghi “Di tích lịch sử văn hoá chùa Bà Đanh và núi Ngọc”. Lối dẫn vào chùa hiện đã trải nhựa phẳng lì, hai bên đường đi là hàng nhãn, vải xanh rợp bóng. Cổng tam quan của chùa được xây dựng khá uy nghi, hoành tráng. Cổng có ba gian, hai tầng, ở trên là gác chuông, ở dưới là hệ thống cửa gỗ hoa văn đơn giản. Tuy nhiên cổng này chỉ mở khi chùa có đại lễ, những ngày thường du khách phải đi qua hai cổng nhỏ hai bên với mái ngói cong như hình bán nguyệt. Bước qua cánh cửa cổng khép hờ là khuôn viên rộng rãi, lát gạch tinh tươm rất sạch sẽ. Trong khuôn viên chùa có đặt nhiều chậu cây cảnh, giỏ phong lan tạo và đặc biệt là những hàng cau khẳng khiu vươn cao.

 

Cũng giống kiến trúc của nhiều ngôi chùa vùng đồng bằng Bắc Bộ, chùa Bà Đanh là một quần thể kiến trúc liên hoàn gồm nhà bái đường, nhà thượng điện, nhà trung đường, phủ thờ Mẫu, nhà tổ…, ngôi chùa thuộc dòng Phật giáo Đại Thừa này có những nét riêng độc đáo. Trong chùa không chỉ có tượng Phật mà còn có tượng của Đạo giáo như Thái Thượng Lão Quân, Nam Tào, Bắc Đẩu, các tượng Tam Phủ, Tứ Phủ, Pháp Vũ.


Nếu đến thăm quan, vãn cảnh chùa, du khách nên dành thời gian chiêm ngưỡng pho tượng Bà Đanh, được tạc theo tư thế tọa thiền trên chiếc ngai đen bóng với khuôn mặt đẹp, hiền từ, đầy nữ tính, gần gũi và thân thiết. Sự hài hoà giữa pho tượng và chiếc ngai tạo nên vẻ hấp dẫn của nghệ thuật điêu khắc chùa Bà Đanh.


Năm 1994, Chùa Bà Đanh đã được Bộ VHTTDL công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Nhiều năm nay, người ta đã không còn thấy cảnh vắng vẻ, hiu quạnh ở ngôi chùa này, câu “vắng như chùa bà Đanh” trước đây giờ đã được cải biên thành: “Ngày xưa vắng ngắt vắng ngơ. Bây giờ tấp nập như chùa Bà Đanh”…

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Kỳ thú bãi Ông Địa

Đó là nơi biển hát tình ca, đá khoe dáng, trùng dương phơi sắc, ngàn mây lả lơi bên bờ cát vàng mênh mang. Đến nơi này, người thứ lữ sẽ chìm trong không gian khoáng đãng với bức tranh thiên nhiên toàn mỹ tựa cõi bồng lai chốn hồng trần!

 

Nằm gối đầu trên mép sóng, trải dọc đường Nguyễn Thông – con đường độc đạo nối thành phố Phan Thiết với Mũi Né, bãi đá Ông Địa (phường Hàm Tiến, Phan Thiết, Bình Thuận) là địa danh hấp dẫn níu chân du khách gần xa đến tham quan, thưởng ngoạn.

 

Dưới chân ngọn núi Rạng nhấp nhô như những triền sóng, hàng trăm và cũng có thể hàng ngàn năm qua, những con sóng bạc đầu cứ lặng lẽ vỗ vào bãi tung bọt trắng xóa càng khiến bức tranh toàn cảnh thêm phần liêu trai. Đã bao đời qua,  tiếng gió vi vu, tiếng sóng rì rầm như muốn nối dài câu chuyện huyền tích của một địa danh cũng như tô đậm sự kiến tạo, đẽo gọt hình hài cho ngàn vạn khối đá không ngừng nghỉ của bà mẹ tạo hóa. 

 

Dưới gốc phi lao cổ thụ nhoài mình về phía biển, cụ Năm Gánh, cư dân cố cụ trong vùng, cho biết căn nguyên của tên gọi bãi đá Ông Địa bắt nguồn từ việc hàng trăm năm trước, ngư dân trong vùng phát hiện tảng đá có hình thù rất giống Ông Địa, cũng từ đó bãi bờ hao hao chết tên “bãi Ông Địa” đến bây giờ. “Tiếng là bãi Ông Địa nhưng kỳ thực đá ở đây muôn hình vạn trạng, đủ sắc màu, hình dáng nên khách du lịch gần xa rất thích đến chụp hình, ngoạn cảnh” – cụ Gánh bộc bạch.

Từ trên đồi cao nhìn xuống, bãi đá Ông Địa trông tựa mê trận thạch đồ. Đá xám, biển xanh, cát vàng… hòa quyện với nhau tạo thành bức tranh thiên nhiên đa sắc quyến rũ đến lạ. Rảo bước dưới làn nước mát lạnh, trong vắt, cảm giác thật vi diệu khi được ngắm những ghềnh đá, khối đá có dáng như đàn thủy quái khổng lồ, lúc tựa hòn vọng phu, phụ tử… Sóng gió cùng nắng mưa khéo đẽo gọt nhiều khối đá vô tri vô giác như có sức sống, linh hồn. Tiếp tục dấn bước sẽ thấy có khối đá ở bãi Ông Địa có dáng thế rồng bay phượng múa, khối tựa chiến thuyền chở muôn vạn hùng binh. Lúc này những cơn gió tinh nghịch luồn qua các khe đá phát ra âm thanh vi vu, du dương tựa tiếng sáo thiên thai…

 

Người dân vùng biển Hàm Tiến kể rằng bãi Ông Địa rất thiêng. Trước khi dong thuyền ra khơi đánh bắt, ngư dân thường ghé bãi khấn cầu Ông Địa cho được may mắn với tay lưới trĩu nặng. Các bà, các chị hàng cá khi gánh hàng ra chợ cũng hay van vái bán nhanh được giá… và những ai có lòng thành đều được ý toại. Không chỉ hàm chứa tín ngưỡng dân gian, bãi Ông Địa còn ru hồn người bởi khung cảnh bình yên của hàng trăm chiếc thuyền thúng nằm e ấp bên sóng bên đá. Cùng đó là những mẻ lưới ăm ắp cá tôm của ngư dân sau đêm trường gắn mình với biển. Còn gì bằng khi được ngồi cùng những đứa con của biển trên những chiếc bàn đá thênh thang thưởng thức các món hải đặc sản nức tiếng ở vùng như cá kè, cá bò hòm, cá ông binh… được nướng lửa hồng thơm ngậy, nhất là khi được các lão ngư khoản đãi những chuyện biển dã kỳ thú…

Không có cảnh xô bồ, chặt chém. Cũng chẳng có nạn ô nhiễm, mất vệ sinh hay toan tính thiệt hơn. Bãi Ông Địa với những cư dân địa phương chân chất, hào sảng quả là điểm dừng chân lý tưởng cho những ai khát khao được đắm mình trong tình đất, tình người nơi đầu sóng ngọn gió!

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đặc sắc du xuân về miền đất thờ Tản Viên Sơn Thánh

Nằm cách trung tâm Thủ đô chưa đầy 60km về phía Tây Bắc, huyện Ba Vì cuốn hút du khách bởi cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, di tích lịch sử có giá trị và nhiều nét văn hóa truyền thống độc đáo vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay.

 

Năm 2015, Lễ  hội Tản Viên Sơn Thánh khai hội cùng hoạt động khai trương du lịch huyện Ba Vì đang trở thành điểm nhấn thú vị cho hành trình du lịch tâm linh của người Việt.


Gần 100 di tích thờ đức thánh Tản


Sở hữu hàng trăm di tích nổi tiếng, thế nhưng nhắc đến Ba Vì du khách thường điểm tên gần 100 di tích thờ Tam Vị Đức Thánh Tản Viên Sơn với nhiều giá trị tiêu biểu về không gian, kiến trúc nghệ thuật. Về với miền du lịch tâm linh thờ Đức Thánh Tản, du khách sẽ được viếng thăm đình Tây Đằng, đình Quang Húc, đình Đông Viên, đình Thanh Lũng, đền Trung Cung, rồi tiếp bước đến cụm di tích đền Thượng, đền Trung, đền Hạ trên đỉnh núi Ba Vì thuộc địa phận 2 xã Minh Quang và Ba Vì – nơi phát tích của truyền thuyết Tản Viên Sơn cũng như tục thờ Tam Vị Tản Viên.

 

Bước tới đền Thượng, nơi còn gọi là chính cung Thần điện, du khách sẽ được ngắm mái lộ thiên lợp ngói nghiêng bên cửa hang, mái sau ngầm dưới lòng tảng đá lớn. Theo truyền thuyết và Ngọc phả có liên quan cho rằng, đền Thượng có từ thời An Dương Vương, đền thờ Tam Vị Tản Viên Sơn Thánh nằm trên núi thắt cổ bồng, có hình tròn như cái tán gọi là núi Tản Viên. Để xây dựng đền Thượng, Nhà nước phong kiến đã phải huy động nguồn nhân lực rất lớn ở hai bên bờ sông Đà, theo truyền thuyết kể lại, dân chúng nối tay nhau chuyển vật liệu từ sông Đà lên đỉnh núi Tản để xây đền Thượng. Đền toạ lạc trên đỉnh núi Ba Vì ở độ cao 1.227m, thuộc địa phận xã Ba Vì, huyện Ba Vì.


Cũng nằm trong cụm di tích với thờ nơi phát tích Đức Thánh Tản, nhưng đền Trung lại khoác lên mình vẻ đẹp khác. Đền Trung có kiến trúc kiểu chữ TAM, phỏng quẻ Càn trong Kinh dịch. Đây là ngôi đền có quy mô lớn, hoành tráng tạo thành một quần thể di tích liên quan đến sự tích Thánh Tản Viên – Sơn Tinh, là ngôi đền có một vị thế đẹp nhất trong các ngôi đền thờ Tản Viên ở sườn Tây núi Ba Vì. Đền Trung tọa lạc ở lưng chừng núi phía Tây Ba Vì (khoảng cốt 600m) thuộc xã Minh Quang, huyện Ba Vì. Cuốn Ngọc Phả “Sự tích Đức Thánh Tản” lưu giữ tại đền Và (Đông Cung) do Quản giám bách thân Nguyễn Hiển sao lại năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737) có ghi đền Trung là nơi thờ bà Ma Thị, mẹ nuôi của Tản Viên.

 

Đền Hạ còn gọi là Tây Cung. Đền có kiến trúc kiểu chữ TAM tọa lạc dưới chân núi Tản ven bờ sông Đà thuộc địa phận xã Thủ Pháp xưa, nay là xã Minh Quang, huyện Ba Vì. Theo các nhà nghiên cứu, đền Hạ xuất hiện muộn hơn so với đền Trung và đền Thượng. Ngày 21/2/2008, đền Thượng, đền Trung, đền Hạ được Bộ VHTT&DL xếp  hạng theo Quyết định số 02/2008/ QĐ- BVHTTDL.


Vẻ đẹp mới của di tích


Tọa lạc trên núi cao, trải qua hàng trăm năm tồn tại, các di tích đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Năm 2007, UBND TP Hà Nội đã giao nhiệm vụ cho Tổng Công ty Vinaconex lập quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị cụm di tích đền thờ Tản Viên Sơn Thánh. Và đến giữa tháng 5/2010 việc lập Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích lịch sử văn hóa đền thờ Tản Viên Sơn Thánh đã được triển khai.


Từ đó đến nay, từ hình ảnh của những di tích xuống cấp, rất nhiều công trình đã được hoàn thiện, tạo ra vẻ đẹp huyền bí nhưng không kém phần quyến rũ cho cụm di tích đền Thượng, đền Hạ và đền Trung. Thành công lớn nhất trong công tác tu bổ, tôn tạo di tích đầu năm 2015 là việc hoàn thiện hạng mục bài trí đồ thờ trong di tích. Bức tượng đức thánh Tản – một trong bốn vị thần tứ bất tử của Việt Nam đã được khởi đúc, nghênh rước từ Nam Định về khu di tích đền Thượng, trước sự chứng kiến ngưỡng mộ của các vị lãnh đạo T.Ư và TP, các nhà khoa học cùng hàng ngàn người dân. Ở di tích đền Trung và đền Hạ. các hạng mục điện chính, Nhà Mẫu, nhà Tả –  hữu vu, sân hành lễ, sân rồng, Nghi môn, miếu thờ Thủy thần… cũng đã được hoàn thiện tạo thêm vẻ đẹp huyền ảo cho công trình di tích.

 

Nhìn lại khối công việc của huyện Ba Vì làm được trong những năm qua cho di tích có thể thấy nhiều điểm đáng mừng. Tuy nhiên, theo đánh giá chung dự án tu bổ, tôn tạo di tích ở nơi đây vẫn còn chậm tiến độ, do hoạt động kêu gọi xã hội hóa gặp nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp, cá nhân đã đăng ký với UBND TP Hà Nội song lại không gửi kinh phí ủng hộ. Chính vì vậy, những công việc thực hiện các hạng mục như: Nghi môn, Cổng tứ trụ, Nhà hóa vàng, nhà quản lý tại dự án đền Hạ; Vận động các doanh nghiệp, cá nhân thực hiện các hạng mục còn lại của dự án đền Trung, lối lên đền Thượng… lại được đặt lên vai những người làm văn hóa, lãnh đạo huyện Ba Vì.

 

Mở hội đón khách


“Đến hẹn lại lên” vào ngày Rằm tháng Giêng hàng năm, Nhân dân Ba Vì mở hội tưởng nhớ đức thánh Tản. Trải qua thời gian, nhiều nghi thức truyền thống của lễ hội bị thất truyền, mai một. Thế nhưng, với quyết tâm cao, đến nay, UBND huyện Ba Vì nhiều giá trị vật thể và phi vật thể vốn có của di tích được khôi phục, lễ hội được đầu tư lên cấp vùng. Chính vì vậy, 3 tháng diễn ra lễ hội, hàng chục ngàn du khách đã về hành hương cùng lễ hội, ngắm vẻ đẹp núi rừng hùng vĩ, chiêm nghiệm tấm lòng mến khách của bà con nơi đây.


Năm 2015, UBND huyện Ba Vì tổ chức khai hội Tản Viên Sơn kết hợp với khai trương du lịch huyện Ba Vì vào ngày 4/3/2015 tức ngày 14 tháng Giêng năm Ất Mùi, địa điểm tại đền Trung. Đây có thể coi là một bước đột phá lớn trong công tác quản lý và khai thác tiềm năng du lịch của huyện nhà, phát triển du lịch sinh thái gắn với du lịch văn hóa tâm linh. Để rồi từ đó thúc đẩy các hoạt động của các đơn vị Du lịch Ao Vua, du lịch Khoang Xanh – Suối Tiên, Thiên Sơn – Suối Ngà, Tản Đà, Du lịch Đầm Long, Vườn Quốc Gia Ba Vì, Hồ Tiên Sa; Du lịch Long Việt; Nhà nghỉ công đoàn Suối Hai; du lịch Cao Sơn… thêm phần hiệu quả. 

 

Trên cơ sở quy hoạch chi tiết được duyệt, các đơn vị hoạt động du lịch đã không ngừng đầu tư cơ sở hạ tầng đảm bảo những điều kiện lý tưởng cho du khách khi ghé chân đến Ba Vì. Những thành tích nổi bật là: Làm đường giao thông nội bộ, cải tạo nâng cấp nhà ăn, phòng nghỉ, khách sạn, hội trường, bể bơi, bãi để xe, khu vui chơi giải trí. Các đơn vị có sự đầu tư cơ sở vật chất lớn, đó là: Du lịch Ao Vua, Đầm Long, Khoang Xanh – Suối Tiên, Thiên Sơn – Suối Ngà, Tản Đà, Hồ Tiên Sa, Vườn Quốc Gia Ba Vì, Du lịch Long Việt với tổng mức đầu tư trên 400 tỷ đồng. Những năm qua đã đầu tư xây dựng xong tuyến đường 415 đi Đền Hạ và Đền Trung với số vốn là 64 tỷ đồng và đã hoàn thiện thủ tục chuẩn bị đầu tư nâng cấp 2 tuyến đường: tuyến đường từ đường 87 đi khu du lịch Ao Vua với số vốn đầu tư 45 tỷ đồng, đường Vườn quốc gia đi đến khu du lịch Thiên Sơn – Suối Ngà, du lịch Long Việt với số vốn đầu tư 38 tỷ đồng…


Về Ba Vì là để trở về không gian thuở xưa với mái nhà tranh, giường tre, phản gỗ hoặc nếu muốn phòng ở tiện nghi, sang trọng… là được khám phá một hành trình văn hóa tâm linh đặc sắc của vùng núi thắt cổ bồng. Những người đã từng đến hoặc chưa từng đến Ba Vì luôn luôn ghi dấu về một vùng đất giàu giá trị lịch sử văn hóa, với những người dân luôn thân thiện, mở rộng tấm lòng đón chào du khách.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

TIN MỚI NHẤT