Điểm đến du lịch

Những địa điểm du lịch hấp hẫn những địa điểm du lịch trong nước, địa điểm du lịch nước ngoài được chúng tôi tổng hợp và đưa tin đến Quý bạn đọc đam mê du lịch có cái nhìn tổng quan nhất về các địa danh du lịch để quyết định cho mình cho những chuyến du lịch ý nghĩa nhất

Bãi Lữ- Vẻ đẹp thiên đường

Đến với mảnh đất Nghệ An, nơi đây không chỉ là quê hương của những anh hùng hào kiệt mà còn là điểm đến đầy hấp dẫn đối với những ai yêu thích thiên nhiên và du lịch khám phá.

 

Du khách tới nơi đây, chắc hẳn không thể bỏ qua địa danh Bãi Lữ – vẻ đẹp được mệnh danh là thiên đường trên biển của Nghệ An.

Bãi Lữ có diện tích gần 160 ha, nằm ở phía Đông Bắc của huyện Nghi Lộc, thuộc địa phận của 2 xã Nghi Yên và Nghi Tiến, nằm trong vòng cung biển Đông Nam Lạch Vạn – Cửa Hiền – Cửa Xá của tỉnh Nghệ An. Một vùng sông núi dày đặc, trời biển mênh mông với biết bao sự tích, huyền thoại và sự kiện lịch sử sống động. Cảnh quan hùng vĩ hòa quyện với thiên nhiên thơ mộng đã tạo nên một Bãi Lữ đầy bí ẩn và đậm chất thi ca:
 

Ai về Bãi Lữ thử xem
Nơi núi xen biển, biển xen mây trời
Màu xanh mọc dưới tay người
Đất cằn, cát mặn đã ngời sắc xuân
Biển xanh tung sóng, trắng ngần
Hòa cùng tiếng gió sắc xuân rì rào
Thiên đường mặt đất đây sao ?
Nhà xanh, mái đỏ khác nào cảnh tiên !

 

Khác với một Cửa Lò sống động và náo nhiệt, Bãi Lữ hiện lên không ồn ào mà vô cùng yên bình và giản dị. Nơi đây là sự kết tinh hoàn hảo giữa biển, đá và núi rừng. Vẻ đẹp hoang sơ, bí ẩn của vùng đất nhiều huyền thoại đã tạo nên một sự cuốn hút đến kỳ lạ, làm say lòng ngay cả những du khách khó tính nhất.


Tên gọi Bãi Lữ có nguồn gốc từ tên của dãy núi Lữ Sơn với một truyền thuyết tình yêu đầy lãng mạn. Truyện kể về mối tình của chàng lữ khách si tình với nàng tiên cá xinh đẹp. Bằng tiếng hát và vẻ đẹp thiên thần, nàng đã làm chàng say đắm. Để tìm được nàng, chàng đã đi theo tiếng hát ra biển cả và dừng chân bên chùa dâng hương cầu phật để tiếp thêm sức mạnh cho tình yêu, rồi đứng chôn chân thẫn thờ ngoài biển, hóa thân thành nũi Lữ. Bãi biển dưới chân núi đó chính là Bãi Lữ bây giờ.


Khung cảnh Bãi Lữ được che chở, bao bọc bởi những ngọn núi cao hùng dũng, hiên ngang với những hàng thông xanh mướt bao quanh. Đây là nơi biển khơi ăn sâu vào đất liền. Nơi núi và biển gặp nhau là những vách đá, sóng vỗ trắng ngần, tạo nên vẻ đẹp hùng vĩ khó tả.

 

Nhìn từ phía biển khơi (Đông – Nam) thấy rõ Song Ngư, Đảo Mắt, Lan Châu và gần hơn nữa vào đất liền là Hùng Lĩnh, Lan Châu, Núi Rồng, Núi Lò, Núi Cờ, Núi Kiếm, Chuồng Gà, Núi Mão, Tượng Sơn (Núi Voi), Quyết Sơn. Phía Bắc, dọc theo biển là núi Đầu Rồng (Long Thủ), Hòn Thè, Hòn Câu, Dạ Sơn, Cấm Sơn. Phía Tây là Đại Vạc, Thần Vũ, Lèn Hai Vai, Đại Hải, Đại Bàn, Đại Tứ, Đại Huệ, Thiên Nhẫn, Lam Thành Sơn… Và sông Cấm nước xanh trong một dải xuôi về biển Cửa Lò bên hữu Bãi Lữ đã tôn thêm vẻ đẹp bức tranh Cổng Trời – sóng biển khơi Bãi Lữ.


Nước biển Bãi Lữ xanh biếc có thể nhìn rõ từng viên sỏi nhỏ, những bãi cát dài như dải lụa uốn lượn bên đường viền con sóng tạo cho Bãi Lữ vẻ mềm mại, e ấp của người thiếu nữ. Cảnh vật hữu tình hòa quyện với âm thanh của đất trời và biển cả tạo nên những bài ca bất tận ca ngợi sự xinh đẹp, giàu có của thế giới đại dương. Những con sóng ở đây cũng “dịu dàng” hơn những bãi biển khác, sóng không quá lớn, chỉ nhẹ nhàng gối lên nhau đùa giỡn tạo nên những âm hưởng du dương, êm đềm.
Tuyệt vời hơn nữa khi được ngắm Bãi Lữ vào lúc bình minh. Khi mặt trời nhô lên khỏi biển, một khung cảnh rạng ngời hiện ra trước mắt du khách đó là một “vùng trời đỏ” điểm xuyết những cánh buồm trắng trong ánh ban mai cùng với những  âm thanh rền rền của khoang máy, tiếng sóng biển, gió biển rì rào trên những hàng thông lan toả tạo nên “khúc nhạc” của biển khơi. Tất cả tạo nên một bức tranh thiên nhiên huyền ảo, lung linh và rực rỡ hơn bao giờ hết.


Không chỉ có lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, Bãi Lữ còn nằm trong vùng đất Xứ Nghệ nổi tiếng giàu truyền thống cách mạng, có nhiều di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Bởi vậy, ngoài việc được chiêm ngưỡng những cảnh quan thiên nhiên tại Bãi Lữ, du khách còn được thăm quan nhiều điểm đến thú vị xung quanh. Trước hết là núi Lữ đứng sừng sững ngàn năm ngay sát biển. Chạy vòng lên đỉnh núi Lữ, bạn có thể thấy rõ phía xa là đảo Song Ngư, Đảo Mắt, Lan Châu, gần hơn nữa vào đất liền là Hùng Lĩnh, Núi Rồng, Núi Lò, Núi Cờ, Núi Kiếm…Bên cạnh đó, Kênh Sắt cũng là một điểm tham quan hấp dẫn cho du khách trên đường vào Bãi Lữ. Ngoài màu nước xanh ngắt nhuộm bởi quặng sắt ở núi Thiết Sơn, nơi đây còn có Đền thờ Sơn Thần và Thánh Mẫu, nguyên là Đền Nẻ gắn với truyền thuyết Hồ Quý Ly và Bạch Y công chúa.


Với những cảnh đẹp thiên nhiên mà tạo hóa ban tặng, Bãi Lữ xứng danh với cái tên “Thiên đường trên biển” của Nghệ An, là điểm đến tuyệt vời cho những du khách thích thưởng ngoạn.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Thăm quan ngôi chùa Khmer cổ nhất Trà Vinh

Là tỉnh có số lượng đồng bào Khmer sinh sống khá đông, tại Trà Vinh có đến 141 ngôi chùa Khmer trong đó có một ngôi chùa nổi tiếng bởi vẻ cổ kính và kiến trúc độc đáo đó là chùa Ang Korajaborey.
 

Chùa Ang Korajaborey ( tên thường gọi là chùa Âng) là ngôi chùa Khmer cổ nhất ở Trà Vinh, chùa được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 10. Tháng 8 năm 1994, chùa Ang Korajaborey đã được Bộ VHTTDL công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

 


Chùa nằm ngay gần trung tâm thành phố Trà Vinh, cách khu vực trung tâm chỉ khoảng 5 km về hướng Tây Nam. Chùa Ang Korajaborey gồm nhiều công trình trình kiến trúc tôn giáo cổ kính và độc đáo, như Chánh điện, Sa la, Tăng xá, Tháp… tất cả nằm trên khuôn viên rộng 35.000 m2 thuộc quần thể danh thắng Ao Bà Om. Các công trình kiến trúc lớn nhỏ của chùa Ang Korajaborey đều được khắc họa, tô điểm bằng nhiều tác phẩm nghệ thuật như các tượng thần, hình chằn, chim thần, sự tích về Phật Thích ca với những đường nét, hoa văn mang đậm bản sắc văn hóa tâm linh, tôn giáo của đồng bào Khmer Nam bộ. Cũng giống như những ngôi chùa Phật giáo Khmer khác ở Trà Vinh cũng như khu vực Nam Bộ, chùa Ang Korajaborey là nơi thờ tự tín ngưỡng gắn liền với đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào Khmer trong vùng.


Cửa chính của chùa mở về hướng Đông, thêm cửa hậu mở về hướng Tây, dẫn vào chính điện trên một nền đất đắp cao khoảng 2m. Giữa trang chính điện là bệ thờ theo phái Phật giáo Nam Tông, chỉ thờ Phật Thích Ca với tượng Phật chính cao 2,1m, nét mặt hiền từ. Xung quanh còn có khoảng 50 tượng Phật lớn nhỏ tạc bằng đá hoặc gỗ, bức tượng nào cũng có thần thái hết sức sinh động, là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao. Các bức tường quanh chính điện là những bức tranh vẽ, kể về cuộc đời Đức Phật Thích ca. Đặc biệt, trên trần của chính điện là bốn bức bích họa lớn, mô tả bốn giai đoạn trong cuộc đời Đức Phật: Đản sanh, xuất gia, đắc đạo và nhập niết bàn. Mặc dù đã trải qua gần 10 thế kỷ nhưng các công trình kiến trúc lớn nhỏ cũng như vô số các cổ vật, hiện vật, tượng điêu khắc, phù điêu của chùa vẫn được bảo quản trong tình trạng tốt. Không chỉ là một ngôi chùa cổ xưa nhất của tỉnh với kiến trúc đẹp, chùa Ang Korajaborey còn là địa điểm tổ chức nhiều lễ hội của đồng bào Khmer như Chol Chnam Thmây (lễ mừng Năm mới); Sêne Đôlta (lễ cúng ông bà); Ok Om Bok (lễ cúng trăng). Hàng năm vào những dịp lễ hội diễn ra, chùa thu hút hàng chục ngàn du khách trong tỉnh và từ các nơi đến chiêm bái, thăm quan. Không chỉ có vậy, chùa Ang Korajaborey cũng là nơi được lựa chọn để tổ chức các lễ tôn giáo lớn hàng năm như lễ ban hành giáo lý, lễ Phật đản, lễ nhập hạ, lễ xuất hạ cho các vị Sadi, Tỳ kheo tu học theo truyền thống của dân tộc Khmer.


Không quá khi nói rằng chùa Ang Korajaborey không chỉ là một ngôi chùa, còn là một trung tâm văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, giáo dục quan trọng, là nơi bảo tồn, gìn giữ, và phổ biến những kinh điển, giáo lý, sách báo, các tác phẩm văn học nghệ thuật quan trọng của người dân trong vùng cũng như của khách thập phương. Những bức tượng, bích họa, điêu khắc trang trí trong chùa chính là những công trình kiến trúc, mỹ thuật và nghệ thuật độc đáo, tiêu biểu. Cũng vì lẽ đó chùa Ang Korajaborey từ lâu là niềm tự hào của người dân Trà Vinh nói riêng và của cộng đồng người Khmer nói chung, đồng thời là 1 trong những điểm thăm quan hấp dẫn khi đến Trà Vinh.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Bánh Cống miền Tây – món quà vặt không thể bỏ qua

Bánh Cống là đặc sản của người Khmer tuy chỉ là món quà vặt dân dã nhưng đây là món ăn không thể bỏ qua khi đến miền Tây.
 

 

Bánh Cống dù quen thuộc với người dân miền Tây nói chung nhưng bánh Cống được ưa chuộng và phổ biến nhất tại tỉnh Sóc Trăng, bánh Cống Sóc Trăng cũng được cho là ngon và có mùi vị đặc trưng nhất. Bánh có màu vàng hơi sậm chứ không tươi như những tỉnh/thành khác với mùi thơm và cực kỳ hấp dẫn. Người dân Sóc Trăng làm bánh không quá lớn cũng không quá nhỏ, trên mặt bánh, một hoặc hai con tôm nằm khoanh tròn, nhìn qua đã thấy muốn thử. Khi cắn vào một miếng, bột bánh giòn tan lan toả trong miệng, mùi vị thơm nức, đượm béo của ít mỡ sa, ít đậu xanh và thịt. Bánh Cống Sóc Trăng cũng không dùng nhiều mỡ như những nơi khác nên bánh hơi khô, độ béo vừa phải, ăn nhiều không bị ngán.


Từ nhiều năm nay, món ăn dân dã này đã được yêu thích ở nhiều tỉnh/thành phố trên cả nước chứ không chỉ riêng khu vực miền Tây. Nhiều cửa hàng bánh Cống đã được mở tại các thành phố miền Băc, miền Nam để phục vụ nhu cầu của người dân. Thực tế, ai cũng có thể tự làm bánh Cống bởi công thức làm món ăn này không quá khó, song điều tất yếu là để có một chiếc bánh Cống ngon, đúng hương vị không phải điều dễ thực hiện. Nguyên liệu chính để làm bánh là bột, đậu xanh và tôm. Bột pha chế qua nhiều công đoạn. Ba phần gạo, một phần nếp, ngâm một đêm rồi xay mịn. Sau khi “bồng” bột gạo nếp trong một túi vải cho ráo nước, người ta lại pha vào bột gạo nếp này một phần ba bột mì loại ngon, thêm nước, hành lá cắt nhỏ và gia vị. Hỗn hợp bột này không được lỏng như bột đổ bánh xèo. Một số cửa hàng còn cho thêm vào bột quả trứng gà để thêm phần thơm ngon. Đậu xanh cũng phải chọn loại đâu xanh ngon, đãi vỏ cho sạch, nấu chín vừa không được để nát. Thịt heo băm nhuyễn, xào chín rồi đem trộn chung với đậu xanh, sau đó mới cho vào chút muối, chút bột nêm. Tôm tươi rửa sạch, để ráo, cắt bớt chân và râu. Theo kinh nghiệm của người Sóc Trăng, để bánh ngon thì tôm không nên bỏ vỏ vì lột vỏ khi chiên lên sẽ mất giòn.

 

Công đoạn chuẩn bị nguyên liệu xong xuôi thì đến phần thực hiện. Để bánh giòn, ngon cần chiên bánh bằng chảo sâu lòng, cho dầu ăn ngập bánh để đảm bảo màu sắc bánh được đều không bị chỗ cháy chỗ sống. Dầu khi đã sôi già, cho một ít bột và cống, sau đó cho vào một muỗng đậu xanh và thịt làm nhân bánh. Đổ thêm trên nhân bánh một lớp bột. Sau cùng để lên đó một hoặc hai con tôm. Nhúng cống ngập trong dầu đang sôi trong chảo. Cần lưu ý khi dầu đã sôi thì phải để lửa nhỏ bánh mới giòn đều từ ngoài vào trong. Chờ bánh chín vàng rồi mới nhấc cống ra, khéo léo đổ bánh ra đĩa.


Nguyên liệu ngon và cách thực hiện khéo léo để có bánh ngon thôi chưa đủ, muốn có một món ăn hoàn hảo còn cần sự khéo léo trong các chế biến nước chấm và bày biện. Nước chấm bánh cống là loại nước mắm chua ngọt được pha theo công thức riêng của từng đầu bếp, từng quán ăn. Người miền Tây ăn bánh Cống cùng các loại rau diếp cá, đọt xoài, cải đắng, xà lách, húng quế… Chỉ nhìn dĩa bánh vàng ươm và đĩa rau tươi xanh là đã muốn thưởng thức. Mùi đậu xanh, mùi thịt, mùi tôm chiên trộn lẫn thơm nức, bát nước mắm lấm tấm hạt ớt, tép chanh, trong veo mấy cọng dưa chua đu đủ. Tất cả hòa quện vào tạo thành một thứ quà vặt hấp dẫn cả vị giác lẫn khứu giác thực khách.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Khám phá vẻ đẹp thiên nhiên Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ 

Nằm cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh hơn 50km về phía Nam, huyện Cần Giờ là một trong những địa điểm du lịch sinh thái lý tưởng đối với nhiều du khách với rừng ngập mặn. Cần Giờ được coi là một trong những cánh rừng đẹp nhất Đông Nam Á và được UNESCO công nhận là “Khu dự trữ sinh quyển thế giới”.

 “Đảo khỉ” – điểm đến không thể bỏ qua khi du lịch Cần Giờ

Đến đây, du khách sẽ được tắm mình trong bầu không khí trong lành, hoang sơ của thiên nhiên, ngắm nhìn vẻ đẹp của những thân, rễ cây đước chằng chịt của vùng rừng ngập mặn, thư giãn tại khu du lịch Lâm Viên hay còn gọi là Đảo khỉ, đắm mình trong bãi tắm dài rộng… Chỉ cần bỏ ra một ngày du khách có thể khám phá vẻ đẹp “Lên rừng xuống biển” gần trung tâm mà không phải nơi nào cũng có.

Những rặng dừa nước, cây đước, bần… phủ một màu xanh tươi mát và mang đến không khí trong lành cho Cần Giờ. Một trong những nơi thú vị ở Cần Giờ là rừng ngập mặn Vàm Sát với những thân cây cổ thụ sum xuê rậm rạp nơi cửa biển. Ở Vàm Sát có 2 nơi là Đầm Dơi và Tràm Chim thu hút du khách tham quan. Chiều chiều tại Vàm Sát có thể gặp hàng vạn con dơi quạ về trú ngụ, có con cánh sải ra dài gần 1m, cùng đó là hàng chục loài cò về đậu trên những ngọn cây chà là tạo nên “sân chim” Cần Giờ.

Điểm thứ hai không thể bỏ qua khi đi chơi Cần Giờ đó là “đảo khỉ”, tập trung gần 2.000 con khỉ được thả trong rừng tự nhiên. Tại đây ta có thể bắt gặp những hình ảnh vô cùng thú vị như: khỉ mẹ bế con bú, 2 chú khỉ bắt rận cho nhau, giành thức ăn với nhau, tự bóc kẹo, bóc bim bim ăn… Gần đó, những con cá sấu lớn nằm im lìm, bỗng cựa quậy khiến du khách giật mình, thót tim. Đây là điểm tham quan thú vị dành cho trẻ em và những ai yêu thích động vật, thiên nhiên hoang dã. 

Ngoài ra, du khách còn có thể hòa mình với thiên nhiên khi tắm Biển Cần Giờ với Bãi tắm 30-4, đi xa hơn một chút là Bãi Tâm Ngọc, Khu Phương Nam… 

Kết thúc hành trình tham quan, du khách có thể đi chợ Chợ Cần Giờ – Cần Thạnh mua hải sản với nhiều cá tôm tươi ngon, còn muốn ăn cua ghẹ, ốc thì đi chợ Hàng Dương chỉ cách bãi biển 30-4 chừng 50m. Du khách có thể tự lựa chọn đồ về thuê các nhà hàng trong khu du lịch chế biến, ăn ngay tại chỗ. Các món hải sản ngon là tôm tích, tôm núm, mực…

Tạm biệt Cần Giờ với hình ảnh những người dân da đen vì nắng gió, những căn chòi chòi lợp lá bán dừa nước ven đường, thấy cuộc sống thật bình dị và thân thương. Hy vọng một ngày không xa, Cần Giờ sẽ phát triển, nhất là trên lĩnh vực du lịch, để người dân nơi đây sẽ có đời sống ấm no và sung túc hơn./.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Đảo Hòn Khô: Điểm đến cho du khách thích san hô và tắm biển

Cách trung tâm TP.Quy Nhơn (Bình Định) chừng 15 km, đảo Hòn Khô là điểm đến lý tưởng của nhiều người thích tắm biển, ngắm san hô và ăn hải sản tươi sống.

Muốn đến Hòn Khô, ngoài các tour của các công ty du lịch, bạn có thể tự tổ chức một tour cho riêng mình. Khi đến xã Nhơn Hải, chỉ cần đi thuyền tầm 10 phút là bạn có thể đặt chân đến Hòn Khô.

 

 

Đảo toàn là những núi đá, lưa thưa vài cây bụi nhỏ. Xen lẫn những mỏm núi nhô ra biển là những bãi cát nhỏ tuyệt đẹp, hoang sơ, nước trong xanh. Trên đảo không có dân cư sinh sống, chỉ có bãi cát lớn nhất đảo là điểm tập trung đông du khách. Xung quanh đảo là những ghềnh đá nhỏ, nơi dành cho những người yêu thích câu cá, một mình tĩnh lặng với biển trời mênh mông.

 

Hiện Hòn Khô có 2 điểm phục vụ ăn uống và tắm nước ngọt, một của gia đình ông Lê Hải và một của Đoàn Thanh niên xã Nhơn Hải tổ chức. Theo ông Hải, vào mùa hè, số du khách đến Hòn Khô mỗi ngày có thể lên đến 200 người. Mùa biển động thì ngày có, ngày không. Mỗi đoàn khách đến Hòn Khô khoảng dưới 20 người, thuê thuyền chở ra đảo tắm biển, lặn ngắm san hô, trở về đất liền có giá 350.000 đồng/chuyến, ăn trưa cộng với tắm nước ngọt bình quân 130.000 đồng/người.

 

Nếu khách tự đi đến Hòn Khô, có thể thuê thuyền nhỏ của ngư dân chở đi và về với giá 200.000 đồng/chuyến, đồ ăn trưa thì tự chọn món.

 

“Một suất ăn chúng tôi phục vụ trên đảo Hòn Khô có đến 8 hay 9 món, tùy theo yêu cầu của khách. Các món hải sản tươi sống ở Hòn Khô thường có là cá mú, cá hồng, cá kình, cá dìa, chình biển… và các món ốc. Khách muốn ăn tôm hùm và các loại hải sản khác thì nên đặt trước. Khách đến đây quanh năm, lúc nào chúng tôi cũng sẵn sàng phục vụ”, ông Hải nói.

 

Những năm gần đây, dịch vụ tắm biển lặn ngắm san hô rất được du khách đến Hòn Khô yêu thích. San hô ở Hòn Khô nằm sát bờ, nơi chỉ có mực nước biển sâu từ 1-2m nhưng lại có nhiều sinh vật biển sinh sống. Chỉ cần mặc áo phao, đeo kính vào và úp mặt xuống biển đã nhìn thấy vẻ đẹp của san hô với những đàn cá nhỏ đủ sắc màu nhởn nhơ bơi lượn. Nhiều du khách đến lặn biển ngắm san hô thường nói đùa là Thủy cung của Long Vương đặt tại Hòn Khô!

 

“Đến Hòn Khô, bất kể du khách nào, dù biết bơi hay không biết bơi, dù người lớn hay trẻ con, chỉ cần mặc áo phao, đeo kính lặn là đều có cơ hội được ngắm san hô. Ngắm chán, du khách thường thích tự bơi vào bờ. Ngược lại, ở Nha Trang, san hô thường nằm ở vùng biển sâu, khi lặn, đòi hỏi phải có người kèm cặp. Vì vậy, hoạt động lặn biển ngắm san hô tại Nha Trang khá kén khách nhưng ở Hòn Khô thì không”, ông Nguyễn Phạm Kiên Trung, Giám đốc Công ty Du lịch miền Trung, cho biết.

 

Đi bộ dạo xung quanh đảo du khách sẽ bị chinh phục bởi vẻ đẹp kỳ vĩ, độc đáo của thiên nhiên nơi đây. Đặc biệt, Hòn Khô là khu vực bảo tồn rùa biển. Nếu có dịp ở lại đảo Hòn Khô vào ban đêm, gặp may mắn du khách sẽ tận mắt chứng kiến được cảnh “vượt cạn” của rùa biển. Đến Hòn Khô vào lúc biển cạn, du khách có thể nhìn thấy một bờ thành cổ bí ẩn nhô lên khỏi mặt nước. Nhiều người cho rằng bờ thành này là một công trình phòng thủ bờ biển của người Chăm nhưng đến nay vẫn chưa thấy sử sách nào ghi lại. Ngoài ra, chùa Hương Mai trên đất liền ở xã Nhơn Hải với nhiều pho tượng La Hán, tượng Phật lớn ở ngoài trời và có tiếng là linh thiêng… cũng là một điểm đến đáng lưu ý.

 

Nếu bạn muốn có một chuyến du lịch về với biển đảo, chụp được những bức ảnh lưu niệm đầy lãng mạn, chi tiêu với giá bình dân hãy đến Hòn Khô./.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Nước non Tràng An

Cách Thủ đô Hà Nội chỉ hơn trăm cây số, cụm quần thể Danh thắng Tràng An là một tổ hợp các danh thắng, di tích và rừng nguyên sinh gồm: Di tích Cố đô Hoa Lư, Khu danh thắng Tràng An – Tam Cốc – Bích Động và rừng nguyên sinh đặc dụng Hoa Lư.

Một điều đặc biệt khiến cho Danh thắng Tràng An thêm phần hấp dẫn và làm tăng sự tò mò cho du khách khi đến với Danh thắng Tràng An là mới đây, cụm quần thể này đã được UNESCO ghi vào danh sách Di sản Thế giới.

 

 

Nơi đây là những cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, những ngọn núi đá vôi hùng vĩ và nhiều hang động kỳ bí nối tiếp nhau trên cùng dòng chảy. Sông nước thanh tao, tĩnh lặng ghi dấu thiên nhiên và cuộc sống con người, lịch sử bằng những đền chùa, miếu mạo cổ kính chen vào trong lòng núi non, hang động. Sự phong phú của hệ động thực vật trong môi trường thiên nhiên hoang dã khiến cho bức tranh Di sản càng thêm phần sinh động. Chính sự kết hợp này tạo nên một quần thể hài hòa giữa thiên nhiên và con người, giữa yếu tố thiên tạo và nhân tạo, giữa lịch sử và hiện tại của một vùng đất cố đô nay đã trở thành Di sản Thế giới.

Nhẹ khua mái chèo trôi trên dòng nước trong xanh, ngắm nhìn những bông súng nổi lên một sắc màu tím nhạt trên mặt nước, lắng nghe tiếng chim muông gọi bạn, khám phá những vách hang, thạch nhũ muôn hình khi thuyền trôi trong các hang động hẹp có niên đại hàng vạn năm với biết bao điều kỳ bí. Thỉnh thoảng, những tiếng chuông như từ trong sâu thẳm lịch sử vùng đất cố đô vọng vang vào tĩnh lặng trong không gian. Cứ sau mỗi hang động lại là một ngôi chùa. Chùa và hang, chùa trên núi, chùa bên sông yên ả, thanh tao. 

Thuyền qua Phủ Đột, dưới làn nước xanh trong nhìn thấu cả những loài thủy sinh đang đưa theo dòng nước, từng đàn cá vàng nối nhau lững lờ mặt nước. Cảnh sắc thanh tao như tiên cảnh giáng trần. Thuyền qua hang tối, hang sáng, hang nấu rượu, nơi mà người xưa vẫn dùng nước nguồn trong hang để nấu lên loại rượu đặc sản đất cố đô.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Linh thiêng lễ cúng bản của người Dao đỏ

Năm nào cũng vậy, người Dao đỏ ở thôn Sả Séng, xã Tả Phìn (huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai) cũng tổ chức một nghi lễ quan trọng mang tính cộng đồng rất cao. Lễ cúng được tổ chức đúng ngày Thìn, tháng 5 âm lịch.

Đây là một nghi lễ truyền thống có sự tham gia của toàn thể người dân trong thôn, sau khi bà con đã cấy xong vụ mùa.

Ngay từ sáng sớm, bà con đã mổ lợn, gà và mang rượu thịt, cùng các lễ vật đến miếu thờ của thôn để chuẩn bị lễ cúng. Trong lễ cúng có 4 thầy cúng tham gia cúng, trong đó có một ông chủ lễ cúng chính… Nghi lễ tổ chức để cúng thần linh, thổ địa, thần cây, thần núi, thần suối, thần rừng cầu mong cho con người khỏe mạnh, bình an, mùa màng tươi tốt, vật nuôi trong nhà lớn nhanh.

 

Ngày nay, mặc dù không còn nguyên bản lễ cúng như trước nữa, ít nhiều đã có những biến đổi văn hóa trong việc tổ chức cúng lễ, không còn việc phạt vạ do tục “cấm bản” nữa, nhưng đây vẫn được xem như một nét đặc sắc trong sắc màu văn hóa của đồng bào Dao đỏ ở Sả Séng, huyện Sa Pa, Lào Cai.

 

Sau khi hoàn thành các bài cúng theo nghi lễ, dân làng đến bái miếu thờ.

 

Ba thầy cúng phụ trách ba mâm cỗ cúng xua đuổi tà ma ôn dịch

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Dã ngoại giữa lòng hồ Trị An

Cùng với đảo Đồng Trường, đảo Ó được ví như một viên ngọc hoang dã nằm giữa lòng hồ thủy điện Trị An thơ mộng.

Ở đó, ngoài cảm giác của một thế giới thiên nhiên hoang dã biệt lập với cuộc sống xô bồ bên ngoài, du khách còn được đắm mình trong cảm giác của những làn nước trong vắt mát lạnh, xa xa là những dãy núi chập chùng của vườn quốc gia Nam Cát Tiên huyền thoại.

 

 

Chúng tôi đến đảo Ó (huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai) vào một buổi sáng trời nắng nóng, đặc trưng của những ngày mùa hè phương Nam. Nằm yên bình giữa mặt hồ Trị An mênh mông phẳng lặng, đảo Ó thực sự là một cảnh quan nổi bật của miền Đông Nam bộ bởi chung quanh đây xưa kia vốn chỉ có rừng già. Nhìn từ xa, đảo Ó chỉ như một vệt mờ hiện lên giữa làn nước xanh biếc mùa thủy điện bắt đầu tích nước.

 

Một hòn đảo xanh nổi giữa lòng hồ thủy điện; đó là hình ảnh mà gần nửa thế kỷ trước, người dân địa phương này có nằm mơ cũng không thấy. Một nguồn lợi thủy sản, một bộ lọc không khí làm mát dịu cái nóng như nung của vùng đất đỏ miền Đông, một nguồn điện cho quốc gia và còn là cảnh quan du lịch gần gũi với thiên nhiên. Đặc biệt, là được đắm chìm trong màu xanh bất tận của núi rừng, sông nước nơi đây sau những ngày căng thẳng với công việc.

 

Có khá nhiều đường để đến chơi đảo Ó. Nếu sử dụng phương tiện giao thông công cộng, từ Biên Hòa hay TPHCM, có thể đi xe buýt vào tận trung tâm thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu. Xe buýt số 12 từ Bến Thành đi Giang Điền, bạn xuống xe ở ngã ba Trị An (Bùi Chu) đi tiếp xe buýt vào Vĩnh An. Từ đó chỉ đi xe ôm chừng hơn 1km đến khu du lịch Đảo Ó – Đồng Trường, nơi có bến thuyền du lịch ra đảo. Nếu có xe riêng, mọi chuyện sẽ dễ dàng, thuận tiện hơn nhiều. Chúng tôi, theo cách của riêng mình, đi từ ngã ba Cây Gáo men theo hương lộ 2 tới bến đò của ngư dân làm nghề đánh cá ở Bến Gỗ trên hồ Trị An để ra đảo.

 

Anh Dũng, một ngư dân chất phác sống nhiều năm quanh khu hồ Trị An vui vẻ nhận lời đưa tôi ra đảo, những ngày này, thời tiết nóng nên khách du lịch tới đảo Ó và đảo Đồng Trường (nằm cạnh đảo Ó) rất đông. Tuy nhiên, phần lớn họ đi theo “tua”, nghĩa là đến khu du lịch Đồng Trường rồi đi ca-nô ra đảo. Sau đó, mọi dịch vụ khác trên đảo đều có hướng dẫn tận tình của công ty du lịch. Tuy nhiên, nếu có điều kiện, thong thả giong thuyền buồm giữa mênh mông sóng nước lòng hồ Trị An để đến với đảo Ó thì thích nhất.

 

Được hình thành từ khi Nhà nước quyết định chặn dòng sông Đồng Nai để hình thành công trình thủy điện Trị An, có sản lượng trung bình hàng năm 1,7 tỉ KWh hòa vào lưới điện quốc gia, khu du lịch đảo Ó – Đồng Trường cũng ra đời. Theo những người dân quanh vùng thì trước kia, đấy là hai quả đồi được người dân trồng chuối và trồng hồ tiêu. Thế nên, khi nơi đây được làm hồ thủy điện thì quả đồi đó trở thành đảo. Và từ đó, một điểm đến thích hợp cho những chuyến dã ngoại cuối tuần, những ngày nghỉ lễ… của người dân Đồng Nai và TPHCM.

 

Ra đảo Ó, hầu hết du khách đều có sự chuẩn bị nước uống và thức ăn nhẹ mang theo. Tuy nhiên, đừng quên một điều là lòng hồ Trị An chính là một nguồn thủy sản dồi dào với nhiều món đặc sản tươi ngon, không nên bỏ qua khi có dịp về đây. Một trong những món ăn được ưa chuộng nhất chính là cá lăng được đánh bắt từ dưới lòng hồ Trị An. Theo những ngư dân sống ở gần Bến Gỗ thì mùa này, khi nước mưa từ thượng nguồn Đồng Nai đổ về nhiều cũng là lúc hồ thủy điện Trị An tích nước khiến lòng hồ dồi dào nguồn tôm cá vô cùng.

 

Trong đó, cá lăng được coi là đặc sản được ưa chuộng nhất ở đây. Những chú cá tươi ngon, béo ngậy còn quẫy đành đạch, có khi nặng tới vài ba ký lô, được đánh bắt dưới lòng hồ lên là bữa ăn không thể ngon hơn trong một chuyến dã ngoại, thám du nơi đây.

 

Cá lăng có thể nấu canh chua, chiên giòn hay kho tộ nhưng không gì bằng việc ngồi dưới những hàng cây tỏa nắng lấp lánh mà thưởng thức món cá lăng nướng muối ớt. Mùi cá thơm lừng, mùi hương thơm của những hàng tràm phảng phất khiến cho ta có cảm giác như thoát được những bon chen vất vả của cuộc sống thường nhật phần nào.

 

Ở khu du lịch Đảo Ó – Đồng Trường nằm bên thị trấn Vĩnh An, nhà hàng luôn sẵn sàng món lẫu cá lăng ngon tuyệt, còn có món tép rang cuốn bánh tráng khá độc đáo. Nhưng đặc biệt hơn cả là món thịt heo rừng nướng. Heo rừng thuần chủng được thả rong trên đảo Đồng Trường, nằm sát đảo Ó. Khách muốn thưởng thức món heo rằng nướng phải đặt trước; có thể ăn ở nhà hàng trong bờ hoặc trên đảo Ó đều thích, nhất là trong những đêm lửa trại trên đảo thì tuyệt vời.

 

Trên đảo cũng có nhà hàng, phòng ngủ và cho thuê lều, võng… ban đêm, điện chạy máy nổ đến 22g, nếu khách có yêu cầu, trả thêm tiền xăng theo giờ, máy điện sẽ chạy tiếp tục theo ý muốn. Nhiều đôi bạn trẻ, nhiều gia đình gồm cả trẻ em, người cao tuổi và nhất là những nhóm học sinh, sinh viên đã đến đây nghỉ lại qua đêm và có dịp vui chơi, hát hò bên ánh lửa bập bùng và sáng hôm sau thức dậy đón ánh mặt trời tỏa ánh hồng ban mai trên mặt nước lung linh vệt sóng của những con thuyền đánh cá vào bờ.

 

Tuy dòng nước ở thượng nguồn sông Đồng Nai và sông Bé luôn đục ngầu phù sa nhưng chảy khi tới hồ Trị An, nó lại mang một màu xanh vô cùng yên bình và êm ả. Có thể do trong lòng hồ có nhiều tảo, những loài vi sinh vật có khả năng làm lắng đọng phù sa nên cảnh mây trời non nước nơi đây lúc nào cũng đẹp đẽ. Và, sẽ là một điều tuyệt vời nếu du khách có thể giong thuyền, lướt đi trên những con sóng lăn tăn trên mặt hồ mênh mông này.

 

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Bạch Dinh: Nét xưa nơi thành phố biển

Bạch Dinh là cái tên mà người Việt gọi tòa dinh thự lộng lẫy màu trắng tọa lạc trên sườn Núi Lớn, thuộc Bãi Trước của thành phố biển Vũng Tàu.

Nhắc đến Vũng Tàu, chắc hẳn ai cũng biết đó là một thành phố du lịch biển thanh bình, thu hút mọi du khách trong và ngoài nước. Vũng Tàu còn được biết đến với mệnh danh là “Singapore của Việt Nam”. Và… ở nơi ấy còn có một di tích lịch sử vô cùng hấp dẫn đối với du khách – đó là Bạch Dinh.

 


Dọc theo Bãi Trước về phía Núi Lớn, chúng ta dễ dàng trông thấy một tòa nhà sừng sững, uy nghi màu trắng với mái ngói đỏ nổi bật trên nền xanh cây cỏ. Theo sử sách ghi lại, ngọn đồi mà Bạch Dinh tọa lạc ngày nay chính là pháo đài Phước Thắng có nhiệm vụ kiểm soát biển Cần Giờ của triều Nguyễn (năm Minh Mạng thứ 20). Nơi đây cũng là nơi đã nổ phát súng đầu tiên vào hạm đội Pháp khi chúng tấn công Sài Gòn – Gia Định (bằng đường biển) và đã cản được bước tiến của quân Pháp trong 1 ngày đêm. Đó là chiến tích oanh liệt của quân, dân Vũng Tàu trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp.


Tuy nhiên sau khi thực dân Pháp chiếm quyền cai trị Đông Dương thì đã cho san phẳng pháo đài và xây dựng tại đây một dinh thự mới làm nơi nghỉ mát cho toàn quyền Paul Doumer, gọi là Villa Blanche (theo tên con gái của ông ta). Nghĩa tiếng Việt của từ “Villa Blanche” lại có sự trùng hợp với sắc vẻ bề ngoài của nó nên người dân gọi là Bạch Dinh tức biệt thự trắng. Về sau, Bạch Dinh thuộc quyền cai quản của Công sứ Nam Kỳ người Pháp.

 

Đặc biệt khi tới thăm nơi đây, chúng ta không khỏi bùi ngùi xót thương cho vị vua yêu nước Thành Thái từng bị giam lỏng trước khi ông bị đày đi biệt xứ tại Reunion (Vua Thành Thái bị giam lỏng tại đây từ năm 1907 tới năm 1916).


Bạch Dinh tọa lạc ở độ cao gần 30m so với mực nước biển, mặt trước hướng ra biển, lưng tựa vào núi tạo thế vững chắc. Tòa dinh thự này được chia làm ba tầng (hầm, trệt và lầu), cao 19m, dài 28m và rộng 15m, được bao quanh bởi màu xanh mướt của cây cối rừng Sứ, rừng Gia Tỵ. Tất cả tạo nên khung cảnh đẹp đẽ, yên bình.


Đứng từ Bạch Dinh, chúng ta có thể bao quát cảnh Bãi Trước, nhìn thẳng ra là Hòn Hải Ngưu có dáng hình như con trâu đằm.

 

Bạch Dinh mang đậm nét kiến trúc điển hình của phong cách Châu Âu thế kỷ 19 cùng với những họa tiết cổ xưa tinh tế của nghệ thuật Hy Lạp. Nguyên liệu chính được sử dụng để trang trí và tạo hình là sứ men. Trên từng mảng tường là những gương mặt phụ nữ Châu Âu xinh đẹp như thiên thần, là đôi chim công xòe cánh phô những chấm bạc lấp lánh, đôi cá chép uốn lượn như muốn hóa rồng…Từng chi tiết sắc sảo cùng sự phối màu chuyên nghiệp khiến cho vẻ đẹp của Bạch Dinh thêm phần lộng lẫy. Đáng chú ý nhất là 8 bức tượng bán thân bằng sứ men màu đồ sộ, mang phong cách Hy Lạp bao quanh ba mặt tường chính của dinh thự.


Bước chân tới đây, du khách còn được tận mắt chứng kiến vẻ đẹp thơ mộng của không gian thanh bình. Mùa mưa, rừng bao quanh Bạch Dinh xanh ngút ngàn, từng cành lá giá tỵ xòe ô che kín lối đi. Mùa lá rụng, Bạch Dinh ngập tràn hoa sứ, sắc sứ đỏ, trắng, hồng rực rỡ cả khu vườn.

 

Trải qua hơn 100 năm thử thách cùng thời gian, Bạch Dinh vẫn giữ nguyên dáng vẻ uy nghi, sang trọng và kết cấu kiến trúc nguyên vẹn như ban đầu. Đến thăm Bạch Dinh, du khách còn được chiêm ngưỡng bộ sưu tập gốm sứ vô cùng quý giá thời nhà Thanh được vớt lên từ Hòn Cau, rất có giá trị và nổi tiếng, đang được Bảo tàng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trưng bày và giới thiệu.


Nổi bật về kiến trúc, hấp dẫn bởi lịch sử, Bạch Dinh đã được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa Quốc gia ngày 4/8/1992. Đến với Bạch Dinh, chúng ta không những được tận hưởng không khí trong lành của biển, rừng mà còn trải lòng mình theo dòng lịch sử đã đi qua. Ở nơi đây, thời gian không trôi đi mãi mãi mà đang hiện hữu rõ nét từ dĩ vãng buồn đau đến hiện tại rạng rỡ an lành.

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

Chùa Vĩnh Nghiêm – bản sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam

Chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) từ lâu đã được du khách trong nước và quốc tế biết đến không chỉ đơn thuần là một điểm du lịch, bởi vẻ đẹp của kiến trúc và phong cảnh hữu tình hiếm thấy mà còn bởi bản sắc đặc biệt của văn hóa Phật giáo Việt Nam nơi đây…

Tọa lạc trên quả đồi thấp, bao quanh là những ngọn núi non, sông nước, chùa Vĩnh Nghiêm cổ kính và tĩnh lặng thu hút vào tầm mắt của du khách thập phương là một phong cảnh hữu tình. Chùa nhìn ra ngã ba sông, phía Lục Đầu Giang – Kiếp Bạc, vùng Cẩm Lý cửa ngõ ra vào núi Yên Tử. Bao quanh chùa là núi non trong đó có núi Cô Tiên. Bên kia sông là vương phủ của Trần Hưng Đạo, đền Kiếp Bạc.

 


Tương truyền chùa được dựng từ đầu thời Lý Thái Tổ (1010-1028), tới thời vua Trần Thánh Tông (1258-1278) đều có các vị cao tăng tu hành nên chùa được tu tạo nguy nga, tráng lệ. Khi vua Trần Nhân Tông (1258-1308) từ bỏ ngôi vua đã đến chùa Vĩnh Nghiêm thụ giới, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, sáng lập nên Thiền phái Phật giáo Việt Nam, Ngài cùng hai đệ tử là Pháp Loa và Huyền Quang tạo nên Trúc Lâm Tam tổ của Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam.


Vì vai trò đặc biệt mà chùa Vĩnh Nghiêm được xây dựng với quy mô rất lớn. Diện tích cả khu chùa rộng khoảng 10.000 m2, mở đầu là cổng Tam quan, đi vào hơn 100m là chùa Hộ (hay còn gọi là Tiền Đường). Đường vào chùa Hộ, xưa được trồng thông để chùa thành trốn tùng lâm hữu tình, hiện tại vẫn còn một vài cây đứng trên sân chùa như những chứng tích của thời gian. Ngay trên sân chùa là một tấm bia to 6 mặt đó là tấm bia năm Hoằng Định. Đây là dấu vết lâu đời nhất của chùa hiện còn. Đối diện với tấm bia cổ là vườn tháp mộ của 8 vị sư, đều được xây dựng mãi sau này.


Từ chùa Hộ trở vào, các khối kiến trúc nối tiếp nhau xây trên trục chính theo một hướng đông nam và được phân cách bằng một khoảng sân hẹp. Trong chùa có 4 khối: Chùa Phật (các nhà Tiền đường tức chùa Hộ, Thiêu hương và Thượng điện) hình chữ “công” nhà tổ đệ nhất cũng hình chữ “công” – gác chuông hai tầng tám mái – nhà Tổ đệ nhị và nhà Trai Đường kiểu chuôi vồ. Hai bên còn có các dãy nhà Tả vu và Hữu vu, mỗi dãy gồm 18 gian rộng rãi là nơi hàng năm các sư về an cư kết hạ.

 

Cả 4 khối kiến trúc trên đều theo kết cấu khung gỗ cổ truyền, nhưng từ khối nhà Tổ đệ nhất trở về sau thì có thêm một số cột gạch và tường gạch hỗ trợ chịu lực. Ngay các thành phần kiến trúc gỗ, trừ bốn cột chính nhà Thượng Điện to lớn lực lưỡng bóng lộn là dấu vết thời gian của thời Lê, còn lại những cột kèo thanh thoát thời Nguyễn. Kiến trúc chùa thể hiện trình độ thẩm mỹ tuyệt vời của người xưa với toàn bộ cảnh chùa có độ cao thấp, sự giãn cách khác nhau, tạo ra một nhịp điệu phong phú. Song nói chung nó tuyệt đối không vươn cao đột ngột mà có xu hướng dàn trải, kéo dài theo chiều sâu, để luôn gây bất ngờ cho du khách.


Chùa Vĩnh Nghiêm vốn từ xưa là nơi đào luyện tăng đồ Phật giáo nên là nơi tàng trữ các bộ ván khắc kinh, theo sách nhà chùa để lại “Tàng kinh các” rộng tới 10 gian nhà. Đó là những bộ ván kinh có từ 700 năm nay, là kho sách cổ vô cùng quý giá. Nhiều kệ ván in kinh vẫn còn. Đó là kho ván khắc in, người xưa gọi là Mộc thư khố, là hiện vật minh chứng chùa Vĩnh Nghiêm từng thống lĩnh 72 chốn tùng lâm.


Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm hiện tại có tất cả 3.050 bản khắc gỗ với 9 đầu sách lớn thuộc hai loại kinh, sách chính: Loại kinh sách có nguồn gốc từ Trung Hoa, Ấn Độ được các Phật tổ Thiền phái Trúc Lâm kế truyền, chú dẫn theo tư tưởng Việt Nam và loại kinh sách của các Tổ sư Thiền phái Trúc Lâm sáng tác truyền lại.


Qua khảo sát, các nhà nghiên cứu thấy rằng, những mộc bản này đều do chính các nghệ nhân vùng Bắc Giang, Bắc Ninh và Hải Dương tổ chức khắc trong nhiều khoảng thời gian khác nhau. Vật liệu dùng làm bản khắc là gỗ thị và hầu hết được khai thác tại vườn chùa. Đây là loại gỗ thường được dùng để làm bản khắc in vì gỗ mềm, mịn, dai, dễ khắc, ít cong vênh, khó nứt vỡ.


Các mộc bản được khắc bằng chữ Hán hoặc Nôm với kĩ thuật khắc ngược , đây là một kĩ thuật rất khó và tinh vi để khi in ra giấy sẽ trở thành chữ xuôi. Mỗi mặt khắc tương ứng với 2 trang sách. Kiểu chữ rất chân phương và sắc nét. Điều đó chứng tỏ các nghệ nhân người Việt xưa không chỉ giỏi về mặt kĩ thuật mà còn là những người rất am hiểu về cách thức tổ chức văn bản, cũng như thông thạo về chữ Hán và chữ Nôm, một loại hình chữ viết cổ có cấu tạo rất phức tạp của người Việt.


Các mộc bản có kích thước không đồng đều. Bản khắc lớn nhất có chiều dài hơn 1m, rộng 40-50cm, bản nhỏ nhất khoảng 15x20cm. Qua quan sát, người ta thấy rằng, bề mặt các ván in được phủ một lớp màu đen bóng, đó chính là dấu vết của mực in còn sót lại trên bề mặt bản khắc sau những lần in ấn. Và cũng chính nhờ có lớp mực in này bảo vệ nên các bản khắc vẫn tồn tại bền bỉ qua thời gian mà không hề bị mối mọt, ẩm mốc phá hỏng.

 

Các bản mộc thư chủ yếu ghi chép kinh luật nhà Phật, lịch sử hình thành và phát triển Thiền phái Trúc Lâm, trước tác của 3 vị tổ Thiền phái làTrần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang; ngoài ra còn có các tác phẩm thơ, phú, nhật ký của Mạc Đĩnh Chi và một số vị cao tăng. Nghiên cứu mộc thư khố, chúng ta có lượng thông tin phong phú, đa dạng về lịch sử Phật giáo, tư tưởng hành đạo, nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm, văn học, phong tục tập quán cùng sự phát triển của nghề khắc in mộc thư và nghệ thuật chạm khắc gỗ của Việt Nam…


Trải qua bao thăng trầm biến cố của lịch sử, giờ đây kho Mộc thư khố này được coi như là bảo vật quốc gia. Đặc biệt, trong phiên họp chiều 16/5/2012 tại Bangkok (Thái Lan) Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đã chính thức được công nhận là Di sản tư liệu Thế giới, Khu vực châu Á – Thái Bình Dương.


Khi được cầm trên tay, tận mắt nhìn những con chữ khắc một cách tinh xảo trên đó, cảm giác của tôi như đang cầm báu vật, như đang chạm vào lịch sử Phật giáo Việt Nam, như đang cảm nhận hơi ấm của tiền nhân truyền lại hậu thế nhân gian những thông điệp về cõi người, về sự vô thường của trời đất vũ trụ bao la… Đúng là “Ai qua Yên Tử – Quỳnh Lâm/ Vĩnh Nghiêm chưa tới, thiền tâm chưa đành”.

 

Nguồn: Vietnamtourism.gov.vn

TIN MỚI NHẤT